Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm thpt vận dụng tích hợp liên môn để nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản phú sông bạch đằng của trương hán siêu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (920.22 KB, 22 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG TÍCH HỢP LIÊN MƠN ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY VĂN BẢN “PHÚ SÔNG BẠCH
ĐẰNG” CỦA TRƯƠNG HÁN SIÊU

Người thực hiên: Lưu Thị Tâm
Chức vụ: Tổ trưởng chun mơn
SKKN thuộc mơn: Ngữ văn

THANH HỐ NĂM : 2018


MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...1
- Lí do chọn đề tài……………………………………………………………....1
- Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….....2
- Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………....2
- Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………..2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM………………………………..2
2.1. Cơ sở lí luận………………………………………………………………..2
2.1.1. Khái niệm tích hợp............……………………………………………......2
2.1.2. Quan điểm vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT.........3
2.2. Cơ sở của việc dạy học bộ môn...………………………………………….4
2.3. Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng.......................................................4
2.4. Thực trạng của vấn đề.................................................................................4


2.5. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề..........................................4
2.5.1. Cách thức tiến hành đề tài...........................................................................4
2.5.2. Thời gian tiến hành......................................................................................4
2.5.3. Khảo sát các bộ mơn liên quan có nội dung tích hợp..................................4
2.5.4. Tiến trình bài dạy: Vận dụng kiến thức liên môn để nâng cao hiệu quả
giảng dạy bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu................................5
2.6. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường........................................................................................17
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ............................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................20


1. MỞ ĐẦU
- Lí do chọn đề tài
Thực trạng của việc dạy và học môn văn trong trường phổ thông hiện nay
là một vấn đề đang được ngành giáo dục và cả xã hội quan tâm. Có thể khẳng
định, từ khi tiến hành cải cách chương trình và sách giáo khoa bậc THPT
đến nay, nhiều giáo viên đã rất nỗ lực trong việc dạy - học để mang lại cho học
sinh những phương pháp học Văn tích cực cùng với sự hỗ trợ của các phương
tiện công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, giúp các tiết học Văn đạt hiệu quả
cao hơn, song việc học sinh học yếu môn Văn hiện vẫn đang là một tồn tại mà
bất cứ ai quan tâm đến nền giáo dục của nước nhà cũng có thể thấy. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng là do sự lên ngơi của cơng nghệ giải trí,
kéo theo cơng nghệ nghe nhìn, làm văn hóa nghe nhìn chiếm ưu thế, văn hóa
đọc bị suy giảm, dẫn tới học sinh khơng thích học văn. Một ngun nhân nữa
xuất phát từ việc con người ngày nay dường như thực dụng hơn trước. Con cái
định thi khối nào, trường gì, bố mẹ đều định hướng. Thực tế nhiều thầy cô dạy
văn cũng không định hướng cho con thi vào Khoa văn bởi mơn này khơng hứa
hẹn gì về đời sống cao, cơng việc tốt. Trước thực trạng đó, để nâng cao hơn nữa
chất lượng dạy học, cải thiện tình hình thực tế địi hỏi ở người thầy phải có tầm

hiểu biết rộng, người thầy phải thường xuyên theo dõi những xu hướng, những
định hướng của mơn mình phụ trách. Đồng thời phải tự học, tự bồi dưỡng để
cung cấp cho học sinh những kiến thức chuẩn xác và liên hệ được nhiều kiến
thức cũ và mới, giữa bộ môn khoa học này với bộ môn khoa học khác.
Dạy học liên môn trong môn Ngữ văn là giúp người học nhận thức được
tác phẩm văn học trong môi trường văn hóa - lịch sử sản sinh ra nó hay trong
mơi trường diễn xướng của nó; thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn học và
lịch sử phát sinh; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác đồng thời khắc
phục được tính tản mạn trong kiến thức văn hóa của học sinh. 
Vì thế, trong q trình dạy học, tôi nhận thấy việc tham khảo tài liệu từ
các lĩnh vực khác có vai trị quan trọng trong việc khơi phục, tái hiện hình ảnh
q khứ tài liệu tham khảo giúp người học xây dựng được tầm“đón nhận phù
hợp với văn bản”
Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu liên mơn cịn giúp người học có thêm cơ sở
để hiểu rõ quy luật phát triển của văn học, hình thành củng cố nhiều phương
pháp nghiên cứu văn học. Tài liệu tham khảo về lịch sử văn hóa là phương tiện
có hiệu quả để giúp giáo viên làm rõ nội dung sách giáo khoa kích thích sự hứng
thú học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn.
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, tôi luôn trăn trở với
câu hỏi:
Phải làm thế nào để học sinh hiểu rõ ràng, cụ thể những giá trị nội dung,
nghệ thuật, tư tưởng của một tác phẩm văn học? Phải tích hợp như thế nào cho
phù hợp mà ở đó học sinh vừa phải hiểu được nội dung nghệ thuật vừa phải nắm
được kiến thức của các bộ mơn có liên quan? Làm cách nào để học sinh hiểu và
đánh giá chính xác quan điểm tư tưởng của tác giả là điều không dễ.
1


Tôi đã thử nhiều giải pháp, mỗi giải pháp đem lại thành cơng nhất định.Vì
thế qua mỗi lần thử nghiệm, tơi đã tự điều chỉnh và tự hồn thiện dần phương

pháp dạy học. Tôi nhận thấy sử dụng phương pháp tích hợp kiến thức của các
mơn mà học sinh đã và đang được học như mơn Lịch sử, Địa lí, môn GDCD,
phân môn Làm văn, Tiếng Việt… vào trong bài giảng đã đạt hiệu quả nhất định.
Xuất phát từ những lý do trên, tơi chọn đề tài “Vận dụng tích hợp liên
môn để nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản “Phú sông Bạch Đằng” của
Trương Hán Siêu"
- Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm:
+ Giúp học sinh lớp 10 có thêm được các kiến thức và kỹ năng cơ bản trong
tiếp nhận văn bản Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu.
+ Tìm cho mình một phương pháp để tạo ra các phương pháp giảng dạy phù
hợp với đối tượng học sinh nơi mình cơng tác, tạo ra khơng khí hứng thú, giúp
các em đạt kết quả cao trong các kỳ thi.
+ Nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
+ Mong muốn được HĐKH các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kết qủa nỗ
lực của bản thân giúp cho tơi có nhiều động lực mới hồn thành tốt nhiệm vụ
được giao.
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này đi vào nghiên cứu tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” của Trương
Hán Siêu trong chương trình Ngữ văn lớp 10 (Ban cơ bản).
- Phương pháp nghiên cứu: Để triển khai đề tài““Vận dụng tích hợp liên
mơn để nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản “Phú sông Bạch Đằng” của
Trương Hán Siêu" tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Đây là phương pháp quan
trọng để khảo sát các nội dung tích hợp trong bài học.
- Phương pháp phân tích, giảng bình: Phương pháp này được sử dụng như
một phương pháp chính trong quá trình thực hiện đề tài.
- Phương pháp đối chiếu so sánh: Đối chiếu so sánh mức độ tiến bộ của học
sinh trước và sau khi áp dụng đề tài.
Những phương pháp trên sẽ được chúng tôi sử dụng đan xen trong quá trình
nghiên cứu.

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hồ nhập, sự kết hợp.
Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp
nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất
trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là
một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy,
tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là
tính liên kết và tính tồn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể tồn vẹn,
khơng còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính tồn vẹn dựa trên sự
thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành
2


phần bên cạnh nhau. Khơng thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được
thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, khơng có sự liên kết, phối hợp với nhau
trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ,
có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn
học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất,
dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các
môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó. Trong Chương trình THPT, mơn
Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự
phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để
chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả
tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (tr. 27)
Trên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại, nó
góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt
động tích hợp, trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp kiến thức, kỹ năng;

có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào
giải quyết các tình huống cụ thể.
Những năm gần đây, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được
nghiên cứu, áp dụng ở THPT như: dạy học tích cực, phương pháp thảo luận
nhóm, phương pháp tạo ô chữ, phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong
dạy học…Tất cả đêu nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh và phát triển tư
duy sáng tạo chủ động cho học sinh. Tích hợp liên mơn trong dạy học các mơn
nói chung và mơn Ngữ văn nói riêng thực sự là phương pháp hữu hiệu, tạo ra
môi trường giáo dục mang tính phát huy tối đa năng lực tri thức của học sinh
đem đến hứng thú mới cho việc dạy học ở trường phổ thông.
2.1.2. Quan điểm vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường
THPT
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT
chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập
trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri
thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật, địa lí... mà cịn xuất
phát từ địi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép
kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến
thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình
huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này. Nói
khác đi, đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ
phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội
dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra
những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả
tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc
những vấn đề thuộc từng phân mơn.

3



2.2.Cơ sở của việc dạy học bộ môn:
Dạy học là một tác động hai chiều giữa giáo viên và học sinh, trong đó học
sinh là chủ thể của q trình nhận thức, còn giáo viên là người tổ chức các hoạt
động nhận thức cho học sinh. Nếu giáo viên có phương pháp tốt thì học sinh sẽ
nắm kiến thức dễ dàng và ngược lại.
2.3.Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng
- Về mặt kiến thức: Học sinh phải nắm được các đơn vị kiến thức cơ bản
trong sách giáo khoa, trong giờ giảng văn. Đó là nền tảng cơ bản để các em phát
triển tư duy, nâng cao năng lực cảm thụ văn học.
- Về kĩ năng: Học sinh biết vân dụng kiến thức các bộ môn liên quan để
cảm thụ tác phẩm văn học từ đơn giản đến phức tạp, từ tái hiện kiến thức đến
vận dụng kiến thức.
2.4. Thực trạng của vấn đề
- Về phía giáo viên: giáo viên lúng túng trong việc tạo hứng thú học tập
cho học sinh, một số GV ngại soạn giáo án tích hợp liên mơn do mất nhiều thời
gian tìm hiểu tài liệu liên quan.
- Về phía học sinh: Thực tế cho thấy, học sinh hiện nay ít mặn mà với các
mơn xã hội, trong đó có mơn văn ngun nhân một phần do xu thế xã hội. Các
em học văn chỉ với tính chất đối phó, ít em có năng khiếu thực sự.
2.5. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.5.1. Cách thức tiến hành đề tài
+ Khảo sát đối tượng học sinh trước và sau tác động của đề tài: Tôi lựa
chọn khảo sát ở hai lớp 10C1, 10C2: Đây là hai lớp có mặt bằng chung trong lớp
không đồng đều, một số em học khá nhưng cũng có một số em lực học hạn chế,
ý thức chưa cao.
+ Tổ chức phân loại đối tượng học sinh, đặc biệt chú ý đến đối tượng có lực
học còn yếu.
+ Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm cho học sinh.
+ Xây dựng thiết kế lên lớp theo tinh thần ứng dụng những nghiên cứu lý
luận.

+ Trao đổi thống nhất với giáo viên trong tổ kế hoạch thực nghiệm.
+ Tổ chức dạy học song song hai loại giáo án thực nghiệm và đối chứng.
+ Tiến hành kiểm tra HS: sau khi học xong tác phẩm thực nghiệm, đưa ra
các câu hỏi kiểm tra kiến thức giống nhau cho cả lớp thực nghiệm và đối chứng.
+ Tiến hành phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm và đối chứng để rút
ra những kết luận về thực nghiệm.
2.5.2. Thời gian tiến hành: Giáo viên áp dụng giảng dạy trong giờ học trên
lớp, trong buổi dạy thực nghiệm.
2.5.3. Khảo sát các bộ mơn liên quan có nội dung tích hợp
- Bài 14 Cơng dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
( Giáo dục công dân 10 – Nhà xuất bản Giáo dục)
- Bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X đến XV
(Lịch sử lớp 10, Ban cơ bản – Nhà xuất bản Giáo dục)
4


- Bài 28 Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến (Lịch sử
lớp 10, Ban cơ bản – Nhà xuất bản Giáo dục)
- Bài 2: Vị trí địa lý - Phạm vi lãnh thổ (Địa lý lớp 8)
- Bài 1 Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam
( Giáo dục Quốc phòng – An ninh 10 – Nhà xuất bản Giáo dục).
2.5.4. Tiến trình bài dạy: Vận dụng tích hợp liên mơn để nâng cao hiệu
quả giảng dạy văn bản “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu)
A. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Kiến thức
Qua bài học, học sinh thấy được:
- Nội dung yêu nước và tư tưởng nhân văn của bài Phú sông Bạch Đằng. Nội
dung yêu nước thể hiện qua hoài niệm về chiến công lịch sử trên sông Bạch
Đằng. Tư tưởng nhân văn thể hiện qua việc đề cao vai trò, vị trí, đức độ của con
người, coi đây là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp cứu nước.

- Thấy được những đặc trưng cơ bản của thể phú về các mặt kết cấu, hình tượng
nghệ thuật, lời văn.
2. Kĩ năng
- Có kĩ năng đọc hiểu bài phú cụ thể theo đặc trưng thể loại
3. Thái độ
- Qua bài học, học sinh có ý thức phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc,
tinh thần u chuộng hịa bình và ln có thái độ, trách nhiệm xây dựng và bảo
về Đất nước trong mọi thời đại.
- Giáo dục bồi dưỡng thức dân tộc, trân trọng di sản văn hóa của cha ơng
4. Định hướng góp phần hình thành năng lực
- Năng lực hợp tác, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực tự học, năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ
thẩm mỹ…
B-CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
GV: SGK, SGV Ngữ văn 10, tài liệu tham khảo, thiết kế bài giảng, máy tính,
máy chiếu.
HS: SGK, vở soạn, tài liệu tham khảo, học bài cũ, xem trước bài mới.
C- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
- Phương pháp trực quan: Quan sát tranh, xem video
- Sử dụng kỹ thuật dạy học: Hoạt động nhóm
- Gv kết hợp phương pháp đọc sáng tạo, đối thoại, trao đổi, nêu vấn đề, thảo
luận, tích hợp
D- TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
Hoạt động 1: Khởi động (GV tích hợp với bộ mơn Lịch sử, Địa lí)
GV chia lớp học thành 4 nhóm tham gia trị chơi: Tìm hiểu về những
chiến công trên sông Bạch Đằng.

5



- Nội dung: Em hãy cho biết dịng sơng Bạch Đằng đã ghi dấu những chiến công
hiển hách nào trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ? Có những tác giả, tác
phẩm văn học nào viết về sông Bạch Đằng ?
- Cách chơi: Trong vịng 5 phút nhóm nào kể đúng và được nhiều hơn thì chiến
thắng.
- GV nhận xét, tổng hợp, khái quát và mở rộng
Tích hợp với bộ mơn Địa lí:
+ Sơng Bạch Đằng, cịn gọi là Bạch Đằng Giang (chữ Nho: 白 藤 江 ; tên Nôm:
sông Rừng), hiệu là sông Vân Cừ, là một con sông chảy giữa thị xã Quảng
Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ
Long, cửa Lục khoảng 40 km. Nó nằm trong hệ thống sơng Thái Bình. Điểm
đầu là phà Rừng - Hải Phòng (ranh giới Hải Phòng và Quảng Ninh). Điểm cuối
là cửa Nam Triệu - Hải Phòng. Sơng có chiều dài 32 km. Các loại tàu thuyền có
tải trọng 300-400 tấn tham gia vận tải được cả hai mùa. Sông Bạch Đằng là con
đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền
nam Trung Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh
Thầy, sông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội.

Sơ đồ sông Bạch Đằng ngày nay

Tích hợp với bộ mơn Lịch sử, Giáo dục quốc phịng – an ninh:
Sơng Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:
6


1. Năm 938: Ngô Quyền chém đầu tướng giặc Hoằng Thao, phá tan quân xâm
lược Nam Hán.
- Năm 931, Dương Đình Nghệ lãnh đạo nhân dân đánh bại cuộc xâm lược của
quân Nam Hán. Đầu năm 937, ông bị Kiều Công Tiễn giết hại để đoạt chức Tiết
độ sứ. Tháng 10/938, Ngô Quyền đem quân đánh Kiều Công Tiễn. Công Tiễn

cho người sang cầu cứu nhà Hán. Lợi dụng cơ hội này quân Nam Hán kéo vào
xâm lược nước ta lần thứ 2.
- Ngơ Quyền nhanh chóng tiến qn vào thành Đại La, bắt giết Kiều Công Tiễn
và dùng kế đóng cọc ở sơng Bạch Đằng, cho qn mai phục ở hai bên bờ sông.
Khi thủy triều lên, ông cho một toán quân ra khiêu chiến, giả vờ thua, nhử quân
Hán vào bên trong bãi cọc. Vừa lúc nước triều rút, cọc nhô lên, quân ta đổ ra
đánh. Thuyền giặc vướng cọc lại bị đánh bất ngờ từ nhiều phía, tan vỡ, tướng
giặc Hoằng Thao bị tiêu diệt.
Trận Bạch Đằng năm 938

- Trận thắng lớn ở sông Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa vơ cùng quan trọng đối
với lịch sử Việt Nam, nó đã giúp chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc trong lịch sử
Việt Nam, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam.
2. Chiến tranh chống Tống năm 981: Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 1
diễn ra từ tháng 1- 4/981 của quân dân nhà Tiền Lê (Đại Cồ Việt) chống lại cuộc
xâm lược của nhà Tống (Trung Quốc), giữ vững nền độc lập, tự chủ, thể hiện
chủ quyền quốc gia của dân tộc ta.
- Nhà Tống lấy cớ Lê Hoàn tự xưng Đế, đổi niên hiệu, đầu năm 981, quân
Tống đem 4 vạn quân sang xâm lược nước ta.
7


 Sơ đồ cuộc kháng chiến chống Tống lần 1 (981).
- Phân tích các tin tình báo đưa về, Lê Hồn quyết đánh địch trên cả hai tuyến thủy, bộ, phá
tan âm mưu phối hợp hai đoàn quân thủy, bộ của chúng. Ơng đã bố trí lực lượng dọc theo
tuyến sơng Bạch Đằng, sông Kinh Thầy kéo dài cho đến vùng Lục Đầu Giang (thuộc địa phận
tỉnh Thái Bình ngày nay, nơi hợp lưu 6 con sông lớn ở miền Bắc gồm sông Cầu, sông
Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính sơng Thái Bình).
Trong đó, lực lượng tập trung cao nhất là ở vùng cửa biển Bạch Đằng – nơi đoàn thuyền chiến
của địch vừa mới tiến vào vùng Lục Đầu Giang – nơi hợp quân của hai đồn qn thủy, bộ

của qn Tống. Những cọc đóng trên sông Bạch Đằng gây cho địch rất nhiều trở ngại. Cuộc
chiến kéo dài suốt 2 tháng từ tháng 2 đến tháng 4 năm 981. Đại quân Tống bị đánh tan, vua
Tống Thái Tông buộc phải ra lệnh bãi binh, rút tàn quân về nước, chịu thất bại thảm hại trong
cuộc xâm lược Đại Cồ Việt. Cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược do Lê Hoàn chỉ huy đã
thắng lợi vẻ vang, nền độc lập dân tộc được bảo toàn.

Một trong những đền thờ vua Lê Đại Hành tại Ninh Bình.
3. Năm 1288: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan qn Ngun Mơng
– bắt sống tướng giặc Ơ Mã Nhi.
- Trận Bạch Đằng năm 1288 xảy ra trên sông Bạch Đằng thuộc đất Đại Việt, là
một trận đánh quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông
trong trong lịch sử Việt Nam. Đây là chiến thắng vẻ vang của quân Đại Việt do
Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo cùng với Thái thượng hồng Trần Thánh
Tơng và vua Trần Nhân Tơng chỉ huy trước qn xâm lược Ngun Mông.
Quân Nguyên bị thiệt hại vô cùng nặng (với khoảng hơn 4 vạn quân sĩ bị loại
khỏi vòng chiến), và nhiều tướng Ngun trong đó có cả Ơ Mã Nhi, Phạm
8


Nhàn và Phàn Tiếp cũng bị bắt sống và dâng lên Thượng hồng Thánh Tơng.
Ngồi ra, có những 400 chiến thuyền của quân Nguyên rơi vào tay quân Trần.
Đại thắng trên sông Bạch Đằng được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch
sử Việt Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược Nguyên-Mông.

* Những tác giả, tác phẩm:
1. Bạch đằng giang (Trần Minh Tông)
2. Sông Bạch Đằng (Lê Thánh Tông)
3. Bạch Đằng hải khẩu (Nguyễn Trãi)
4. Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu)

5. Sông Bạch Đằng (Nguyễn Sưởng)
6. Qua sông Bạch Đằng (Dương Bá Trạc)…
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung cần đạt
I. Tìm hiểu chung:
I. Tìm hiểu chung:
9


1. Tác giả Trương Hán Siêu
HS đọc phần tiểu dẫn SGK
? Dựa vào phần tiểu dẫn, hãy nêu những
nét chính về tác giả Trương Hán Siêu ?
- HS dựa vào SGK trả lời, GV bổ sung
một số nét về tác giả (Tích hợp với lịch
sử):
- Đương thời Trương Hán Siêu là một
nhân vật nổi tiếng. Ông được Trần Hưng
Đạo lấy làm “mơn khách” trong dinh.
Ơng từng tham gia cuộc kháng chiến
chống quân Mông – Nguyên lần thứ
hai (1285) và lần thứ ba (1287- 1288)
với cương vị là thư nhi (một chức quan
gần như thư kí riêng) của Trần Hưng
Đạo. Kháng chiến thắng lợi, ông được
Trần Hưng Đạo tiến cử vào triều đình
lần lượt giữ các chức Hàn Lâm học sỹ,
Hành Khiển,… Tháng 9/1353 quân
Chiêm Thành vào cướp Hóa Châu

(Thừa Thiên Huế) khi đó là ở biên giới
phía Nam của Tổ quốc, Vua Trần Dụ
Tông bèn sai ông đem quân đi giữ. Lúc
này ơng đã khoảng trên 90 tuổi. Ơng đã
ở đây 9 tháng, dùng tài thao lược của
mình để ổn định tình hình. Tháng 11 âm
lịch, khi biên thùy yên ổn, ơng xin triều
đình trở về, Vua y cho nhưng chưa về
đến kinh sư thì mất. Vua Trần Dụ Tơng
truy tặng ông chức Thái Bảo (thuộc
hàng quan đại thần trong triều), 9 năm
sau vua lại truy tặng ông chức Thái Phó
(chức quan đại thần thứ hai đứng sau
Thái Sư), 9 năm tiếp Vua Trần Nghệ
Tông ban tặng cho ông được thờ ở Văn
Miếu, sánh ngang Chu Văn An. Đến
triều Nguyễn, Vua Thành Thái năm thứ
hai (1890) phong Trương Hán Siêu là
thần. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi
đánh giá: “Trương Hán Siêu là một danh
nhân văn hóa, một nhà văn lớn thời Trần
có tầm vóc đất nước”.
- GV trình chiếu video về Trương Hán
Siêu

1. Tác giả Trương Hán Siêu
- Trương Hán Siêu (?- 1354) tự là
Thăng Phủ, người làng Phúc Thành,
huyện n Ninh (Ninh Bình).
- Là người có học vấn un thâm,

từng tham gia các cuộc chiến đấu
của quân dân nhà
Trần chống quân Mông Nguyên,
được các vua Trần tin cậy và nhân
dân kính trọng.

2. Thể phú
- Có nguồn gốc từ Trung Quốc được
du nhập vào Việt Nam. Nó là thể
văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và
văn xuôi, dùng để tả cảnh vật,
phong tục, kể sự việc, bàn chuyện
đời…
- Kết cấu: 4 đoạn (đoạn mở, đoạn
giải thích, đoạn bình luận, đoạn kết).
10


2. Thể phú.
- Học sinh nêu những hiểu biết của mình
về thể loại phú qua phần tiểu dẫn.
- Giáo viên tóm tắt
II. Đọc hiểu văn bản:
- GV hướng dẫn HS đọc văn bản
- Dựa vào phần tiểu dẫn, em hãy chia
cấu trúc bài phú ?
Giáo viên khái quát lại:
+ Đoạn 1: Từ đầu đến “luống còn lưu”:
Cảm xúc của “khách” trước cảnh sông
Bạch Đằng.

+ Đoạn 2: Từ “Bên sông bô lão” đến
“nghìn xưa ca ngợi”: Các bơ lão kể lại
các chiến tích trên dịng sơng Bạch
Đằng.
+ Đọan 3: Từ “Tuy nhiên từ có vũ trụ”
đến “chừ lệ chan”: Suy ngẫm, bình luận
của các bơ lão về ngun nhân chiến
thắng trên sông Bạch Đằng.
+ Đoạn 4: Từ “Rồi vừa đi” đến “cốt
mình đức cao”: Tác giả khẳng định, đề
cao vai trị, đức độ của con người.
1. Đoạn 1: Cảm xúc của “khách”
trước cảnh sông Bạch Đằng.
? Em hãy cho biết mục đích du ngoạn
của “khách”? Nhận xét các hình ảnh
miêu tả không gian và thời gian trong
đoạn 1?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên bổ sung thêm

- Có hai loại phú:
phú cổ thể và phú cận thể.
- Bài “Phú sông Bạch Đằng”: thuộc
loại phú cổ thể.
II. Đọc hiểu văn bản:

1. Đoạn 1: Cảm xúc của “khách”
trước cảnh sông Bạch Đằng.
- Mục đích du ngoạn của khách:
thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên.

Nghiên cứu cảnh trí đất nước, bồi
bổ kiến thức.
- Hình ảnh khơng gian: khơng gian
biển lớn: giương buồm giong gió,
lướt bể chơi trăng. Không gian
sông hồ: Ngũ Hồ, Nguyên Tương.
Những vùng đất nổi tiếng của Trung
Quốc: Tam Ngô, Bách Việt, đầm
Vân Mộng. Địa danh tác giả đi qua
chủ yếu bằng sách vở, bằng trí
tưởng tượng. Những địa danh của
Việt Nam: cửa Đại Than, bến Đông
Triều, sông Bạch Đằng. Địa danh
cụ thể, là những hình ảnh thật, đang
hiện ra trước mắt.
- Hình ảnh thời gian: sớm ở Nguyên
Tương, chiều thăm Vũ Huyệt. Thời
gian thiên nhiên vũ trụ. Sự thay thế
liên tiếp của khơng gian chính là sự
hóa thân của thời gian tốc độ.
- Thời gian và khơng gian có kích
11


? Không gian và thời gian nghệ thuật ấy
hé mở cho ta biết điều gì về nhân vật
“khách”?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên tóm tắt, bổ sung
GV bình: Ham thích phiêu bồng cùng

thiên nhiên tạo vật chỉ là bức phơng lớn
để trên đó “khách” điểm nét vào Bạch
Đằng giang. Có thể nói “khách” là
người nhập cuộc tích cực, nặng lịng với
q hương đất nước, tìm đến Bạch Đằng
để hát bài ca về chiến công hiển hách
của dân tộc, để chiêm ngưỡng dịng
sơng từng in bóng q khứ oai hùng.
Cuộc đi của “khách” đâu phải để siêu
thoát, tiêu dao mà là con người ngang
dọc sơn hà vì hùng tâm tráng trí, lên
đường theo cái chí của Tử Trường, mở
rộng kiến văn, bằng ngòi bút làm giàu
cho cuộc sống tinh thần của người đời.
? Trước mắt vị “khách” sông Bạch Đằng
hiện ra như thế nào?
? Tâm trạng của “khách” có gì đặc biệt
khi quan sát ở những góc độ khác nhau
về dịng sơng?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên tóm tắt, nhận xét và giảng
bình thêm:
- Tích hợp với GDCD:
Con người là sản phẩm tinh túy nhất mà
tạo hóa mang lại. Vì những mưu đồ
quyền lực khác nhau mà con người bị
đẩy vào chiến tranh. Thương cho con
người đời Trần vì nước mà ngã xuống
đã đành. Ở đây Trương Hán Siêu thương


cỡ rộng rãi và thay đổi đến chóng
mặt trong cách nói khoa trương
phóng đại, vốn quen thuộc thường
thấy trong thể phú, tạo nên nhịp
điệu ngân nga, phiêu diêu của lời
văn. Đặc biệt là các tính từ miêu tả:
chơi vơi, mải miết, tha thiết, tiêu
dao, thướt tha…được sử dụng với
tần suất dày đã mở ra một khơng
gian tung hồnh cho “khách”. ->
Không gian nghệ thuật bốn phương,
mênh mông, bát ngát, thơ mộng và
tràn ngập ánh trăng.
- Nhân vật “khách”: xuất hiện
trong tư thế chủ động, ngang dọc,
tung hoành. Sử dụng một loạt các
động từ chỉ hoạt động: giương,
lướt, chơi, lần thăm, chứa, buông
chèo… cho thấy con người làm chủ
không gian bốn phương và thời gian
vũ trụ. “Khách” là người có tâm hồn
thơ mộng, phóng túng, u thiên
nhiên, thích dungoạn, đầy chí khí,
hồi bão lớn lao.
- Đến sơng Bạch Đằng: Cảnh sắc
trên sơng “Bát ngát sóng kình mn
dặm/ Thướt tha đi trĩ một màu/
Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba
thu”. Dịng sơng thơ mộng, hùng
vĩ, diễm lệ, hồnh tráng. Nhìn sang

hai bên:“Bờ lau san sát, bến lách đìu
hiu.” Nhìn xuống giữa dịng sơng:
“Sơng chìm giáo gãy, gị đầy xương
khơ”. Câu thơ tái hiện lại cảnh chiến
trận ảm đạm, hiu hắt, tang thương
“Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ
lâu./ Thương nỗi anh hùng đâu vắng
tá/ Tiếc thay dấu vết luống còn
lưu!” Với một tâm hồn phong phú,
nhạy cảm, tác giả vừa vui, tự hào
vừa buồn
đau, nuối tiếc.

12


cho cả những kẻ là nạn nhân của nhà
nước phong kiến phương Bắc. Cảm xúc
đầy nhân văn ấy dường như bắt nguồn
từ một nơi nào đó rất sâu trong cõi tâm
hồn của tác giả. Cho nên lời phú vang
lên như một lời cảm khái “Thương nỗi
anh hùng đâu vắng tá/ Tiếc thay dấu vết
luống cịn lưu!”(Phú sơng Bạch Đằng).
Ở thời khắc thay đổi đột ngột giữa hai
cực của một tâm trạng trong lòng nhân
vật “khách”, thời gian như dừng lại, chỉ
có người nghệ sĩ với tấm lịng nhân ái
nhìn thấu vào trái tim mình và gọi tên
những cảm xúc đang dâng lên nghẹn

ngào.
2. Đoạn 2. Các bô lão kể lại các chiến
tích trên dịng sơng Bạch Đằng.
? Việc xuất hiện nhân vật tập thể các bô
lão gợi cho em liên tưởng gì về trận
chiến Bạch Đằng nói riêng và hào khí
Đơng A đời Trần nói chung?
? Em hãy cho biết thái độ của các bô lão
đối với “khách”?
- Học sinh trả lời
- GV chốt vấn đề
? Các bô lão đã kể cho “khách” về
những chiến trận nào trên sông Bạch
Đằng ? Khơng khí chiến trận ấy được
tác giả làm sống dậy bằng các biện pháp
nghệ thuật nào?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên nhận xét, khái quát
- Video về đại chiến Bạch Đằng (Tích
hợp với lịch sử)
- Giáo viên bình: Bạch Đằng chiến
trận được xem là một Xích Bích thứ hai
trong lịch sử từng khiến Tào Tháo phải
thất điên bát đảo, cịn được sánh với trận
Hợp Phì 100 vạn qn của Bồ Kiên bị
thiêu đốt thành tro. Chiến thắng lớn lao
và oai hùng đến nỗi, nước sông chảy
đêm ngày ra biển Đông cũng không sao
rửa hết nỗi nhục cho kẻ thù cịn ghim lại


2. Đoạn 2. Các bơ lão kể lại các
chiến tích trên dịng sơng Bạch
Đằng.
- Bơ lão là nhân vật tập thể. Họ là
những người địa phương có uy tín.
Đồng thời họ cũng là những nhân
chứng của lịch sử. Nhân vật bô lão
gợi cho ta nhớ đến những ngày căng
thẳng, vua tôi nhà Trần đã tổ chức
Hội nghị Diên Hồng trên bến Bình
Than, gợi lại tiếng hơ xin đánh
khẳng khái và đầy cương quyết, kết
tinh cao độ của cả dân tộc trước họa
xâm lăng của kẻ thù.
- Thái độ của các bơ lão với khách:
nhiệt tình, hiếu khách, tơn kính
khách.
- Các bơ lão kể về hai chiến tích:
Ngơ chúa phá Hoằng Thao và
Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã.
Theo lời kể của các bô lão - những
người từng tham gia cuộc chiến năm
xưa, Bạch Đằng chiến trường hiện
lên thật sống động, binh đao. Mở
màn là những giây phút căng thẳng,
cao điểm, gay cấn như “nghìn cân
treo sợi tóc”. Tình thế gấp gáp đó
đẩy cả người kể và người nghe vào
trạng thái hồi hộp chờ đợi, cả tin
tưởng lẫn âu lo.

- Thủ pháp đối lập được vận dụng
triệt để: đó là sự đối lập căng thẳng
13


muôn đời trong sử sách. Bạch Đằng của
buổi Trùng Hưng nhị Thánh bắt Ô Mã
khiến cho bao nhiêu năm sau các nhà
thơ đi qua đó vẫn cịn chung cảm giác
nước sơng cịn in máu đỏ: “Ánh nước
chiều hơm màu đỏ khé/ Tưởng rằng
máu giặc vẫn chưa khô.” (Trần Minh
Tông – Bạch Đằng giang). Trong “Đại
Nam quốc sử diễn ca” cũng ghi lại:
“Bạch Đằng một cõi chiến tràng/
Xương bay trống đất máu màng đỏ
sông”. Giang Văn Minh khi đến sông
Bạch Đằng cũng bồi hồi: “Đồng trụ đến
nay rêu phủ biếc/ Đằng giang tự cổ máu
còn hồng.” (Giang Văn Minh). Cuộc
chiến Bạch Đằng trong con mắt của
người trong cuộc được xem như là một
cuộc sinh nở vĩ đại mang tầm vóc vũ trụ
để sáng tạo ra một lần nữa dải đất Việt
thân u này: “Tái tạo cơng lao, nghìn
đời ca ngợi”. Tất cả như còn hừng hực,
như còn vang đâu đây ngay trước mắt
người ngắm cảnh. Có thể nói, Bạch
Đằng đã trở thành một điển tích mới tiêu
biểu cho sức mạnh, tư thế và truyền

thống đấu tranh ngoan cường của đất
nước.
3. Đoạn 3. Suy ngẫm, bình luận của
các bơ lão về ngun nhân chiến thắng
trên sông Bạch Đằng.
- Giáo viên: Căn cứ vào nội dung bài
phú, theo em các bô lão chỉ ra những
yếu tố nào làm nên cuộc chiến thắng oai
hùng này?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên bổ sung thêm
Tích hợp với bộ môn GDCD, GDQP –
AN:
- Trong lịch sử, những cuộc đấu tranh
giữ nước của dân tộc ta đều diễn ra
trong điều kiện so sánh lực lượng chênh
lệch. Kẻ thù thường là những nước lớn,
có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn ta nhiều
lần.

của chiến tuyến ta >< địch. Kết hợp
câu văn dài ngắn khác nhau phù hợp
với tâm trạng và diễn biến trận đánh
Những câu văn ngắn gọn, sắc bén
dựng lên khung cảnh chiến trận
căng thẳng, gấp gáp:“Thuyền bè
mn đội, tinh kì phấp phới / Hùng
hổ sáu qn, giáo gươm sáng chói.”;
Những câu văn dài gợi khơng khí
trang nghiêm dõng dạc:

“Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng
nhị thánh bắt Ơ Mã,/ Cũng là bãi đất
xưa, thưở trước Ngơ chúa phá
Hoằng Thao”. Sử dụng hình ảnh
khoa trương, phóng đại: “giáo gươm
sáng chói”, “Ánh nhật nguyệt chừ
phải mờ/ Bầu trời đất chừ sắp đổi” –
nét nổi bật của thi pháp phú.
- Kết quả là: chính nghĩa chiến
thắng, giặc “hung đồ hết lối”, chuốc
nhục muôn đời: “Đến nay nước
sông tuy chảy hồi/ Mà nhục qn
thù khn rửa nổi.”
- Thái độ, giọng điệu của các bô lão
đầy nhiệt huyết, tự hào. Lời kể súc
tích, cơ đọng, khái qt nhưng gợi
lại khơng khí của trận đánh hết sức
sinh động.
3. Đoạn 3. Suy ngẫm, bình luận
của các bơ lão về ngun nhân
chiến thắng trên sông Bạch Đằng.
- Nguyên nhân thắng lợi: thời thế
thuận lợi (thiên thời): “trời cũng
chiều người”. Địa thế núi sông (địa
lợi): “trời đất cho nơi hiểm trở”.
Nhưng điều quyết định là: ta có
“nhân tài giữ cuộc diện an”; “Kìa
trận Bạch Đằng mà đại thắng/ Bởi
đại vương coi thế giặc nhàn.”
- Tuy nhiên, thắng giặc không cốt ở

đất hiểm mà chủ yếu ở đức lớn, là
sức mạnh của con người. Khẳng
định sức mạnh, tài năng và đức lớn
của con người - nhân tố quyết định
14


+ Cuộc kháng chiến chống quân Tống:
Ta có 10 vạn, địch có 30 vạn.
+ Cuộc kháng chiến chống qn Mơng Nguyên: Ta có 15 vạn, địch 50-60 vạn.
+ Cuộc kháng chiến chống quân Thanh
ta có 10 vạn, địch có 29 vạn
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ quân địch đều lớn hơn ta
nhiều lần.
- Các cuộc chiến tranh, rốt cuộc ta đều
thắng, một trong các lý do là:
+Chúng ta biết lấy nhỏ chống lớn, lấy ít
địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số
lượng đông, biết phát huy sức mạnh
tổng hợp của toàn dân tộc đánh giặc giữ
nước.
- Để thắng giặc ngoại xâm có tiềm lực
kinh tế, quân sự hơn ta nhiều lần, nhân
dân Việt Nam phải đoàn kết thống nhất
nhiều dân tộc, đoàn kết toàn dân tạo
thành nguồn sức mạnh to lớn của cả dân
tộc, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
- Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ
thuật quân sự của chiến tranh nhân dân

Việt Nam, nghệ thuật quân sự toàn dân
đánh giặc.
- Trong lịch sử dựng nước với giữ nước,
dân tộc ta ln có sự đồn kết với các
nước trên bán đảo Đông Dương và các
nước khác trên thế giới, vì độc lập dân
tộc của mỗi quốc gia, chống lại sự thống
trị của các nước lớn
4. Đoạn 4. Tác giả khẳng định, đề cao
vai trò, đức độ của con người.
- Giáo viên: nêu ý nghĩa nội dung của
lời ca mà các bơ lão hát trên dịng sông
Bạch Đằng ?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên tổng hợp
- Video về cuộc đời của Trần Hưng
Đạo.
- Giáo viên: theo em, bài ca của
“khách” đã bổ sung gì cho ý kiến của
các bơ lão?

thắng lợi. Đó là cảm hứng mang giá
trị nhân văn và có tầm triết lí sâu
sắc.

4. Đoạn 4. Tác giả khẳng định, đề
cao vai trò, đức độ của con người.
- Những người bất nghĩa (Lưu
Cung, Hốt Tất Liệt) sẽ tiêu vong.
Những người anh hùng, nhân nghĩa

(Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo) thì
mãi lưu danh thiên cổ. Đó là chân lí
có tính chất vĩnh hằng như sơng
Bạch Đằng ngày đêm “luồng to
sóng lớn dồn về bể Đơng” mn đời
theo quy luật tự nhiên.

- Bài ca của khách: Ca ngợi sự anh
minh của 2 vị thánh quân (Trần
Nhân Tông và Trần Thánh Tơng).
Ca ngợi chiến tích trên sơng Bạch
15


- Học sinh trả lời.
Đằng. Khẳng định chân lí: trong
- Giáo viên tổng hợp
mối quan hệ giữa địa linh và nhân
- Giáo viên bình: lời tổng kết của kiệt, thì nhân kiệt là yếu tố quyết
“khách” có ýnghĩa bổ sung thêm và phổ định. Niềm tự hào dân tộc và tư
nhạc cho chân lý bất tử được các bô lão tưởng nhân văn cao đẹp.
đưa ra. Lời ca ấy hát lên cùng dịng sơng III. Tổng kết:
lịch sử, bài ca về những con người làm 1. Nội dung:
nên thời đại anh hùng được kết tinh ở - Lòng yêu nước, tự hào dân tộc về
hai vị Thánh quân. Đó cũng là niềm khát truyền thống anh hùng bất khuất và
khao cháy bỏng của “khách” về hai đạo lí nhân nghĩa.
tiếng hịa bình “Giặc tan mn thưở - Tư tưởng nhân văn cao đẹp:
thanh bình”. Và cái gốc của sự thanh + Khẳng định và đề cao vai trị của
bình ấy, “khách” thiết tha muốn nhấn đi con người, đạo lí chính nghĩa.
nhấn lại với hậu thế chính ở hai tiếng kỳ + Nỗi niềm cảm khái trước sông

diệu Con Người, hơn nữa là Con Người Bạch đằng trong hiện tại.
có Đức cao. Tư tưởng triết lý về “đức 2. Nghệ thuật:
cao” từ “Bạch Đằng giang phú” của - Cấu tứ: đơn giản mà hấp dẫn.
Trương Hán Siêu rồi đây sẽ trở thành - Bố cục: chặt chẽ.
lập luận đanh thép về “nhân nghĩa” - Hình tượng nghệ thuật: sinh động,
trong “Đại cáo bình Ngơ”của Nguyễn vừa gợi hình sắc trực tiếp vừa mang
Trãi ở thế kỷ XV. Đặt niềm tin ở con ý nghĩa khái quát, triết lí.
người trong xu thế vận động của lịch sử, - Ngôn ngữ: trang trọng, hào sảng
điều đó đã góp phần giải hóa tâm lí hồi vừa lắng đọng, gợi cảm.
cổ của bài phú, làm cho nó được cân " Bài phú là đỉnh cao nghệ thuật của
bằng, bâng khuâng man mác chứ không thể phú trong VHTĐVN.
sầu thảm bi lụy.
Hoạt động 3: Củng cố và dặn dò
- Nắm được đặc trưng cơ bản của thể phú qua tìm hiểu một tác phẩm cụ thể.
- Nắm được giá trị, ý nghĩa của bài phú.
- Bài học lịch sử và ý nghĩa của bài học đó đối với thế hệ hơm nay
- Bồi dưỡng lịng yêu nước, tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ
đối với đất nước
Hoạt động 4: Luyện tập
- Học và hoàn thành BT.
Bài tập nâng cao:
Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với việc bảo vệ chủ quyền dân tộc?
Soạn bài: Đại cáo bình Ngô.
* RÚT KINH NGHIỆM
................................................................................................................................
................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.............................................................................................................................
16



2.6. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường
+ Đối với hoạt động giáo dục:
Học sinh được trang bị một cách hệ thống những kiến thức kĩ năng cơ bản
tạo điều kiện cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập cũng như
trong cuộc sống; giáo dục thêm những hiểu biết về quê hương bồi dưỡng lòng tự
hào và yêu quê hương đất nước đồng thời giúp học sinh ý thức hơn việc học
phải đi đôi với hành; rèn luyện các kĩ năng giải quyết tình huống trong cuộc
sống và ứng dụng vào thực tế đời sống tránh lối học chay, học vẹt đang rất phổ
biến của học sinh hiện nay.
+ Đối với bản thân:
- Sáng kiến đúc kết những kinh nghiệp quý báu trong thực tiễn dạy học của
bản thân.
- Sáng kiến nhận được sự đánh giá cao và đồng thuận của nhóm chun
mơn bởi sự đầu tư công phu và tâm huyết của tác giả.
+ Đối với đồng nghiệp và nhà trường:
- Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi đối với học sinh toàn trường thuộc khối
10. Đồng thời sáng kiến cũng có thể nhân rộng áp dụng cho những trường THPT
có nét tương đồng với trường THPT Yên Định 3.
- Việc thực hiện giải pháp của sáng kiến đưa ra chắc chắn sẽ góp phần nâng
cao năng lực đọc hiểu tác phẩm văn học cho học sinh khối 10 trường THPT Yên
Đinh 3. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mơn Ngữ văn nói chung
và từng bước cải thiện tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT và ĐH-CĐ nói riêng.
Bảng điều tra mức độ hứng thú học tâp của học sinh lớp đối chứng và lớp
thực nghiệm
Lớp đối chứng (bảng 1)

Lớp


Sĩ số

10C4

40

Húng thú học tập
Số lượng
%
15
37,5

Không hứng thú học tâp
Số lượng
%
25
62,5

Lớp thực nghiệm ( bảng 2)

Húng thú học tập
Không hứng thú học tâp
Số lượng
%
Số lượng
%
10C2
42
38
90,4

4
9,5
Bảng kết quả kiểm tra kiểm tra 15 phút sau khi dạy bài “Phú sông Bạch
Đằng” ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
Lớp

Sĩ số

Lớp đối chứng ( bảng 1)

Lớp
10C4

Tổng số
HS
40

Giỏi
SL
%
0
0

Khá
SL
%
8
20

Trung bình

SL
%
20
50

Yếu, kém
SL
%
12
30

Khá
SL %

Trung bình
SL
%

Yếu, kém
SL
%

Lớp thực nghiệm ( bảng 2)

Lớp

Tổng số Giỏi
HS
SL


%

17


10C2

42
8
20
18 42
13
31
3
7
Kết quả thực nghiệm như đã trình bày trong bảng cho thấy tỷ lệ học sinh
hứng thú học tập của lớp thực nghiệm là cao hơn lớp đối chứng.
Cụ thể, lớp thực nghiệm có học sinh đạt kết quả kiểm tra loại giỏi 20%
loại khá 42% cao hơn lớp đối chứng. Ngược lại, học sinh bị điểm yếu, kém ở lớp
thực nghiệm là 7% còn lớp đối chứng là 30%. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mục
đích thực nghiệm của tôi không phải là chỉ qua một vài tiết dạy để khẳng định
ưu thế tuyệt đối của các biện pháp đề ra mà chỉ nhằm bước đầu đánh giá hiệu
quả, rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn việc ứng dụng một số phương pháp “
Tích hợp liên mơn” trong dạy học tác phẩm văn học Việt Nam tại trường THPT
Yên Định 3.
- Học sinh đã vận dụng được các kiến thức của nhiều môn học để giải
quyết vấn đề của thực tế cuộc sống.
- Học sinh hiểu những kiến thức cơ bản và dần làm quen với kĩ năng tích
hợp kiến thức từ nhiều mơn học để làm rõ một vấn đề.
- Học sinh có hứng thú học tập bộ mơn cao

Bên cạnh đó vẫn cịn một số mặt hạn chế:
- Bên cạnh những em có khả năng thực sự, còn rất nhiều em chưa đáp ứng
được kỳ vọng của bản thân và thầy cơ. Trong q trình học tập các em chưa chịu
khó, chưa chăm học, nên kết quả chưa cao.
Bài học kinh nghiệm: - Việc vận dụng tích hợp liên mơn để nâng cao hiệu
quả giảng dạy văn bản “Phú sông Bạch Đằng” mang lại kết quả tương đối tốt,
phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp thi cử.
- Giúp giáo viên khơng ngừng tìm tịi, sáng tạo, từ đó nhằm nâng cao trình
độ chun mơn nghiệp vụ của giáo viên để tránh nguy cơ tụt hậu. Bài soạn
“Bạch Đằng giang phú” theo một cách nhìn nhận mới đã giúp giáo viên ý thức
tự giác hơn về đặc trưng thi pháp thể loại phú, về việc lựa chọn kiến thức liên
môn, lựa chọn kỹ năng và phương pháp khi hướng dẫn học sinh làm việc với tác
phẩm.
- Rèn cho học sinh phương pháp học tập tích cực, chủ động, phải có tinh
thần học tập nghiêm túc, phải biết kết nối kiến thức của các bộ mơn có liên quan
để trang bị cho mình một cái nhìn tồn diện trong cảm thụ và đánh giá một tác
phẩm văn học.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trong quá trình học tập, giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng những
kiến thức, kĩ năng mới học để giải quyết các tình huống có liên quan trong học
tập và cuộc sống hàng ngày; tiếp tục tìm tịi và mở rộng kiến thức thông qua các
nguồn tư liệu, học liệu, khác nhau; tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ
nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết bằng những cách khác nhau.
Muốn có kết quả tốt phải bắt đầu từ người thầy trước. Khơng có học trị dốt,
chỉ có thầy chưa giỏi. Trong quá trình giảng dạy người thầy phải biết bắt đầu từ
những kỹ năng đơn giản nhất như dạy bài mới như thế nào cho tốt, tích hợp như
18




×