Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Đề tài Ứng dụng và sáng tạo một số kỹ thuật nhuộm tạo hình của đồng bào dân tộc thiểu số theo kiểu Shibori ở Hà Giang để sản xuất các sản phẩm thủ công bằng vải

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.82 MB, 27 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH HÀ GIANG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

Đồng Thanh Phong, Hoàng Thị Hường
Hà Thị Hanh, Trần Thị Hồng

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2021 - 2022

Ứng dụng và sáng tạo một số kỹ thuật nhuộm tạo hình của
đồng bào dân tộc thiểu số theo kiểu Shibori ở Hà Giang
để sản xuất các sản phẩm thủ công bằng vải

Hà Giang 2022
1


MỤC LỤC
Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

01

1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
7. Phương pháp nghiên cứu của đề tài


8. Nội dung chủ yếu của đề tài
9. Đóng góp mới của đề tài

01
01
02
02
02
02
02
03

PHẦN NỘI DUNG

04

Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái niệm về kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori
2. Sơ lược lịch sử kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori
2.1. Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của Nhật Bản
2.2. Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của một số dân tộc thiểu số ở Hà Giang

3. Các kỹ thuật nhuộm Shibori cơ bản

3.1. Kỹ thuật Shibori Arashi
3.2. Kỹ thuật Shibori Kumo
3.3. Kỹ thuật Shibori Itajime
3.4. Kỹ thuật Shibori Nui
3.5. Kỹ thuật Miura
3.6. Kỹ thuật Shibori Kanoko

Chương II. ỨNG DỤNG VÀ SÁNG TẠO KỸ THUẬT NHUỘM TẠO HÌNH KIỂU
SHIBORI ĐỂ SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM THỦ CÔNG BẰNG VẢI
1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình thức tạo hình và
thiết kế
1.1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình thức tạo hình.
1.2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua thiết kế.
2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua các chất liệu và kỹ thuật
nhuộm.
2.1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua chất liệu vải và
nguyên liệu nhuộm.
2.2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua kỹ thuật nhuộm.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

04
04
04
04
05
08
08
08
10
11
12
13
14
14
14

15
16
16
18
20
22
23

2


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori là một hình thức tạo hình thủ công
trên vải từ lâu đời và rất độc đáo của một số dân tộc trên thế giới và Việt Nam để
làm ra những sản phẩm may mặc phục vụ cho cuộc sống của con người. Sau cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với sự ra đời của máy dệt và thuốc nhuộm hóa
học thì loại hình kỹ thuật nhuộm tạo hình này mai một dần. Theo thơng tin trên
mạng Intenet thì hiện nay kỹ thuật nhuộm kiểu Shibori chỉ còn tồn tại ở một vài nơi
trên đất nước Nhật Bản.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu về phụ kiện, trang phục của đồng bào các dân tộc
vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang nhóm đề tài tình cờ gặp một cơ gái đội chiếc khăn
to bản màu chàm có kiểu họa tiết được tạo hình rất lạ, sau này lại phát hiện trên
chiếc khăn đội đầu của phụ nữ người Lơ Lơ cũng có họa tiết giống như vậy. Tiếp
tục tìm hiểu chúng tơi biết đó là sản phẩm của các nghệ nhân người Dao Tả Pan
sinh sống trên địa bàn huyện Mèo Vạc làm ra. Khi khảo sát về phụ kiện, trang phục
của đồng bào các dân tộc vùng cao phía Tây tỉnh Hà Giang chúng tơi cũng phát
hiện thấy trên khăn đội đầu của người phụ nữ Nùng U ở Hồng Su Phì và Xín Mần
cũng có sử dụng kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu tương tự như vậy. Chúng tơi tiếp tục
tìm hiểu về nguồn gốc kiểu nhuộm tạo hình qua mang xã hội (Intenet) biết được

những kiểu nhuộm tạo hình như vậy được thế giới gọi chung là Shibori. Như vậy
có thể tự hào mà nói rằng một số dân tộc thiểu số ở Hà Giang cũng là những người
có kỹ thuật cao về nhuộm tạo hình tương tự với người Nhật Bản.
Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori là một hình thức tạo hình trên vải rất
đặc biệt và đậm chất dân gian nên được nhiều người yêu thích, nhất là lớp trẻ và
giới văn nghệ sĩ. Hiện nay những chiếc khăn nhuộm chàm kiểu Shibori của người
Dao Tả Pan Mèo Vạc được khách du lịch rất ưa chuộng. Tuy nhiên, những sản
phẩm đó chỉ có một vài kiểu mẫu truyền thống và chưa phù hợp với các loại trang
phục hiện đại nên cũng chưa hấp dẫn được thị hiếu của đông đảo khách du lịch.
Xét thấy kỹ thuật và hình thức nhuộm tạo hình kiểu Shibori cịn có thể cải
tiến, sáng tạo để cho ra những sản phẩm phong phú đẹp mắt và phù hợp với thời
trang hiện đại để phục vụ cho du khách, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài
“Ứng dụng và sáng tạo một số kỹ thuật nhuộm tạo hình của đồng bào dân tộc
thiểu số theo kiểu Shibori ở Hà Giang để sản xuất các sản phẩm thủ cơng bằng
vải” nghiên cứu nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa q báu
của dân tộc, đồng thời tạo ra những sản phẩm thủ công đặc sắc có giá trị để góp
phần lơi cuốn khách du lịch đến với Hà Giang.
3


2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các kỹ thuật nhuộm tạo hình
kiểu Shibori của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang, từ đó cải tiến,
phát triển kỹ thuật đó lên một tầm cao mới nhằm tạo ra các sản phẩm nhuộm Shibori
phong phú và đặc sắc hơn. Trên cơ sở đó sản xuất các sản phẩm thủ cơng chất lượng,
độc đáo có giá trị để phục vụ khách du lịch và các đối tượng có nhu cầu góp phần
bảo tồn, giữ gìn, phát triển và quảng bá bản sắc văn hóa các dân tộc của tỉnh Hà
Giang.
Ngoài ra đề tài cũng nghiên cứu, thử nghiệm một số công nghệ hiện đại vào
phương pháp tạo hình kiểu Shibori với mục tiêu tăng năng suất, giảm giá thành và

tạo ra những sản phẩm thời trang phù hợp với cuộc sống hiện đại.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ thuật nhuộm tạo hình trên vải dệt thủ cơng của đồng bào dân tộc thiểu số
ở Hà Giang theo kiểu Shibori.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Một số kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của Nhật Bản và thế giới.
Các sản phẩm thủ cơng ứng dụng kỹ nhuộm tạo hình kiểu Shibori.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu cơng trình nghiên cứu thành cơng sẽ là cơ sở ứng dụng tạo ra hàng hóa
phục vụ nhu cầu của khách du lịch đồng thời góp phần bảo tồn, giữ gìn, phát triển
và quảng bá bản sắc văn hóa các dân tộc của tỉnh Hà Giang.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu kỹ thuật nhuộm tạo hình Shibori của Nhật Bản.
- Sưu tầm, chọn lọc các kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của một số dân
tộc thiểu số ở Hà Giang, trên cơ sở đó sáng tạo ra các đồ án trang trí phù hợp với
việc sản xuất các sản phẩm thủ công hiện đại.
- Nghiên cứu, thử nghiệm sản xuất một số sản phẩm thời trang sử dụng kỹ
thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu quy trình kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori
của Nhật Bản và của một số dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Hà Giang
và nghiên cứu những phương pháp cải tiến sáng tạo kỹ thuật đó theo xu hướng
cách tân, hiện đại.
7. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
4


- Phương pháp điều tra, sưu tầm.

- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp rút kinh nghiệm.
- Phương pháp sản xuất thực tiễn.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài đã góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận về kỹ
thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori trên vải dệt thủ công của đồng bào dân tộc thiểu
số ở Hà Giang; Là tài liệu nghiên cứu, tham khảo tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình.

- Về mặt thực tiễn: Đề tài chỉ ra được cách tạo ra nhiều kiểu hoa văn mới
và độc đáo hơn cho sản phẩm; Tạo ra nhiều phong cách thiết kế tạo hình mới; Ứng
dụng thêm cơng nghệ sẽ làm giảm giá thành sản phẩm.
9. Nội dung chủ yếu của đề tài
Đề tài gồm có 2 chương
Chương I. Cơ sở lý luận của đề tài
1. Khái niệm về kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori
2. Sơ lược lịch sử kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori
1.1. Kỹ thuật nhuộm tạo hình Shibori của Nhật Bản.
1.2. Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của một số dân tộc thiểu số ở Hà
Giang.
Chương II. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori
để sản xuất các sản phẩm thủ công bằng vải.
1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình thức
tạo hình và thiết kế.
1.1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình
thức tạo hình.
1.2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình
thức thiết kế.
2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua các chất
liệu và kỹ thuật nhuộm.
2.1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua chất

liệu.
2.2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua kỹ
thuật nhuộm.

5


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái niệm về kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori
Shibori xuất phát từ tiếng Nhật, “shiboru” có nghĩa là “bóp, ấn hoặc vắt”. Nó
được định nghĩa là một kỹ thuật nhuộm thủ công thường sử dụng thuốc nhuộm thực
vật là màu chàm để tạo màu cho vải.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Shibori  là một kỹ thuật
nhuộm thủ cơng của Nhật Bản, tạo ra các họa tiết hoa văn trên vải.
Tuy nhiên khái niệm này của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia là chưa đầy
đủ. Thực chất Shibori là kỹ thuật nhuộm tạo hình trên vải theo các cách thủ cơng
(buộc, gấp, khâu, kẹp vải...) với mục đích khi nhuộm những chỗ bị buộc, gấp, khâu,
kẹp…sẽ không bị màu nhuộm ngấm vào, từ đó tạo ra hoa văn, họa tiết hoặc những
mảng loang trắng của nền vải gốc trên nền màu vải đã được nhuộm. Các kỹ thuật
nhuộm tạo hình Shibori trước kia chỉ được thực hiện chủ yếu trên chất liệu nhuộm
là màu chàm.
2. Sơ lược lịch sử kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori
Trước đây người ta cho rằng kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori là của
riêng người Nhật, vì khơng thấy ở đâu trên thế giới có loại vải nhuộm theo kiểu
này. Do vậy, cái tên Shibori được mặc định để gọi cho loại vải đó. Tuy nhiên hiện
nay ta mới biết là ở Việt Nam cũng có người Dao Tả Pan và người Nùng U ở Hà
Giang vẫn đang sử dụng kỹ thuật này để trang trí trên trang phục của họ.
2.1. Kỹ thuật nhuộm tạo hình Shibori của Nhật Bản

Theo các tài liệu còn lưu trữ được tại Nhật Bản thì kỹ thuật nhuộm tạo hình
Shibori có thể du nhập từ Trung Quốc vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ 8 (tuy nhiên hiện
nay ở Trung Quốc khơng hề có nơi nào sử dụng kỹ thuật này). Vào năm 1608, nghệ
nhân Takeda Shokuro và một số người tiên phong khác đã khởi xướng kỹ thuật
nhuộm Shibori tại Arimatsu (một thị trấn trên tuyến giao thương quan trọng vào
thời Edo (1603-1868). Những nghiên cứu thử nghiệm thành công của các nghệ
nhân đã gây được sự chú ý của tướng quân Tokugawa Ieyasu, người đứng đầu Mạc
phủ. Ông đã quyết định phát triển kỹ thuật nhuộm tạo hình Shibori thành một nghề
thủ công đặc sắc của địa phương và trao cho nghệ nhân Takeda Shokuro nhiệm vụ
này. Kể từ đó kỹ thuật nhuộm Shibori khơng ngừng được nghiên cứu, sáng tạo và
phát triển. cũng kể từ đó nó được ghi vào trong sách sử của địa phương như một
phần của văn hóa Nhật Bản.
6


Vào thời Meiji (1868-1912) kỹ thuật nhuộm Shibori đã được đánh giá cao và
ưa thích tại Hội chợ Thế giới 1873 tổ chức ở thành Vienna (Áo), cũng như các cuộc
triển lãm khác trên thế giới. Ngồi ra, Shibori cịn được công nhận là đặc sản của
Kyoto trong Triển lãm Thương mại nội địa Nhật Bản tổ chức 5 năm một lần.
Tuy nhiên từ giai đoạn nửa sau thời đại Meiji cho đến nay do sự phát triển
nhanh chóng của công nghiệp dệt may mà ngành thủ công truyền thống này đã bị
mai một dần. Hiện tại ở Nhật Bản chỉ còn một vài nơi sản xuất loại vải này.
2.2. Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của một số dân
tộc thiểu số ở Hà Giang
2.2.1. Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của người Dao Tả Pan
Người Dao Tả Pan chủ yếu sinh sống ở các xã Lũng Chinh, Sủng Máng,
Khâu Vai, Niêm Sơn (Mèo Vạc). Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của người
Dao Tả Pan có thể khẳng định cũng là sáng tạo riêng biệt và có từ rất lâu đời. Từ
bao giờ thì rất khó xác định nhưng xem những bức ảnh do người Pháp chụp từ
những năm đầu thế kỷ 20 thì đã thấy có kỹ thuật này rồi. Khi đó khăn nhuộm kiểu

Shibori được sử dụng như một dạng thắt lưng cho trang phục của đàn ông. Hiện
nay loại khăn này được sử dụng trên khăn đội đầu của phụ nữ Dao và Lô Lơ và đàn
ơng khơng cịn thấy dùng nữa.

7


Thắt lưng nhuộm kiểu Shibori trên trang phục đàn ông Dao Tả Pan đầu thế kỷ 20
Ở Hà Giang, sản phẩm khăn chàm nhuộm tạo hình kiểu Shibori được người
phụ nữ Lô Lô Hoa sống ở vùng đất thuộc cao nguyên đá Đồng văn sử dụng làm
khăn đội đầu như là một trang phục truyền thống bắt buộc phải có, chỉ khác là họ
có thêu hoa ở hai đầu và đính thêm quả bơng vào khăn. Tuy nhiên thực chất thì
người Lơ Lơ khơng biết làm khăn này mà phải mua của người Dao Tả Pan.

8


Khăn nhuộm kiểu Shibori của phụ nữ Dao Tả Pan và Lơ Lơ hiện nay
Kỹ thuật tạo hình kiểu Shibori của người Dao Tả Pan Mèo Vạc chủ yếu có 2
kiểu. Kiểu thứ nhất là gấp hình hoa thị 6 hoặc 8 cánh rồi khâu một mũi lặp đi lặp
lại khoảng 4,5 lần để tạo ra hoa văn hình hoa, kiểu thứ 2 là gấp theo đường thẳng
lộn đi lộn lại 2 lần rồi gấp như gấp quạt giấy rồi khâu một đường ở giữa liên kết
các cánh với nhau rồi quấn chỉ kín bên ngồi.

Kiểu gấp khâu tạo hình cánh hoa 6 cánh hoặc 8 cánh

9


Kiểu gấp tạo hình họa tiết theo đường thẳng


Chiếc khăn sau khi gấp khâu và nhuộm xong
10


2.2.2. Kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori của người Nùng U
Người Nùng U sống chủ yếu ở hai huyện Hồng Su Phì và Xín Mần, hiện
nay đa số người phụ nữ Nùng U vẫn sử dụng trang phục truyền thống tự làm bằng
vải bông nhuộm chàm trong đời sống hàng ngày. Trang phục của họ được nhuộm
theo dạng chàm đen mài bóng.
Kỹ thuật nhuộm tạo hình Shibori của người Nùng U được thực hiện bằng
hình thức gấp và khâu. Trên khăn đội đầu chỉ có một số đường hoa văn Shibori với
đường khâu rất nhỏ, nét khâu bằng chỉ tạo thành các vệt trắng mờ mà khơng rõ hình
gì. Quá trình đi thực tế nghe các nghệ nhân nhuộm vải kể lại thì kỹ thuật này trước
kia cịn được thể hiện trên mặt của chiếc địu trẻ em, tuy nhiên hiện nay sản phẩm
này hầu như khơng cịn thấy nữa.

Kỹ thuật tạo hình Shibori trên khăn của người phụ nữ Nùng U
3. Các kỹ thuật nhuộm Shibori cơ bản
Dù là kỹ thuật nhuộm Shibori Nhật Bản hay Shibori của các dân tộc ở Hà
Giang thì cũng đều tuân theo một số kiểu cách nhất định. Căn cứ vào một số hình
thức thực hiện mà người ta chia ra làm 6 loại kỹ thuật Shibori cơ bản là: Kanoko,
Miura, Kumo, Nui, Arashi và Itajime:
3.1. Kỹ thuật Shibori Arashi
Arashi (trong tiếng Nhật có nghĩa là bão) là loại Shibori theo kiểu cuốn. Tấm
vải sẽ được quấn chéo trên một cây gỗ hình trụ (có thể sử dụng ống nước nhựa
hoặc ống đồng), sau đó dùng chỉ thơ hoặc dây thừng nhỏ, quấn quanh ống từ đầu
này sang đầu kia bên ngoài lớp vải. Sau khi nhuộm, mảnh vải sẽ có những mảng
màu hình sọc, trơng như những hạt mưa lớn rơi xuống trong cơn bão.
3.2. Kỹ thuật Shibori Kumo

Là phương pháp kết hợp giữa xoắn và buộc. Kỹ thuật này sử dụng những vật
rắn có dạng khối cầu như đá, sỏi để tạo họa tiết. Người ta dùng vải bọc lại những
11


viên đá, rồi buộc túm tất cả những phần vải đó lại với nhau. Sau khi nhuộm, sẽ có
một tấm vải với những đốm trịn lớn nhỏ khác nhau, nhìn rất bắt mắt và ấn tượng.

Quy trình thực hiện kỹ thuật Shibori Arashi
12


Quy trình thực hiện kỹ thuật Shibori Kumo
3.3. Kỹ thuật Shibori Itajime
Là kỹ thuật gấp vải theo đường thẳng (kiểu như gấp quạt giấy) rồi dùng 2
thanh gỗ để kẹp chặt phần vải theo chiều gấp sau đó dùng dây chun để buộc.
Những phần được kẹp và buộc dây thun sẽ không cho màu nhuộm ngấm vào. Sau
khi nhuộm xong những khoảng trắng theo hình dạng tương ứng với nơi vải được
kẹp và được buộc dây chun.
13


Quy trình thực hiện kỹ thuật Shibori Itajime
3.4. Kỹ thuật Shibori Nui
Là kỹ thuật nhuộm kiểu khâu vải. Vải sẽ được khâu mũi đơn đơn giản theo
hình vẽ sẵn sau đó siết chặt sợi chỉ để túm vải lại. Phương pháp này có độ chính
xác cao và tạo ra nhiều họa tiết đa dạng nhất. Tuy nhiên lại là phương pháp mất
nhiều thời gian và công sức nhất.
14



Quy trình thực hiện kỹ thuật Shibori Nui
3.5. Kỹ thuật Miura
Là kỹ thuật sử dụng phương pháp buộc thắt. Đầu tiên nghệ nhân sử dụng
kim móc để kéo các khoảng vải, sau đó dùng chỉ để thắt quanh mỗi nút hai vòng.
Thắt chỉ với độ chặt vừa phải đủ để giữ vị trí chứ khơng thắt nút. Đây là kỹ thuật
nhuộm Shibori đơn giản nhất.

15


Quy trình thực hiện kỹ thuật Shibori Miura
3.6. Kỹ thuật Shibori Kanoko
Shibori Kanoko là kỹ thuật sử dụng cách buộc túm các khoảng vải và cột lại
bằng chỉ để tạo các họa tiết mong muốn. Phương pháp truyền thống xưa sử dụng
chỉ để buộc nhưng nay cũng có thể dùng dây nịt để thay thế. Họa tiết sau khi
nhuộm phụ thuộc vào độ chặt khi buộc vải và việc có gấp vải trước hay khơng. Hầu
hết các họa tiết hình trịn được tạo ra bởi kỹ thuật này.

Quy trình thực hiện kỹ thuật Shibori Kanoko
16


Chương 2
ỨNG DỤNG VÀ SÁNG TẠO KỸ THUẬT NHUỘM TẠO HÌNH KIỂU
SHIBORI ĐỂ SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM THỦ CƠNG BẰNG VẢI
1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình
thức tạo hình và thiết kế.
1.1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua hình
thức tạo hình.

Về cơ bản các phương pháp Shibori cổ điển chỉ dùng cách khâu, buộc, cuốn,
kẹp để tạo ra hoa văn một cách ngẫu nhiên. Ta có thể thay chiếc kẹp bằng cách cắt
những miếng nhựa hoặc băng dính theo hình hoa văn để kẹp hoặc dán lên chỗ vải
cần che không cho ngấm màu để tạo hình một cách rõ ràng hơn.

.
Tạo hình Shibori bằng cách cắt dán họa tiết bằng đề can hoặc băng dính

Nhuộm tạo hình Shibori bằng cách dùng kẹp giấy
17


Nhuộm tạo hình kiểu Shibori với các túi lọc trà
1.2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu
Shibori qua thiết kế.
Các dạng Shibori truyền thống thường làm hoa văn trên tấm vải trước rồi
mới cắt may thành sản phẩm. Nay có thể sáng tạo bằng cách may sản phẩm trước
rồi mới tạo hình Shibori lên các vị trí theo ý muốn. Cách làm này có ưu điểm là sẽ
chủ động lựa chọn hồn tồn về vị trí, kích thước, kiểu dáng họa tiết cho sản phẩm.
Từ đó sản phẩm làm ra sẽ độc đáo và đặc sắc hơn.

Cũng có thể cải tiến bằng cách thay đổi các bố cục họa tiết bằng cách thiết
kế trước các mẫu trên máy tính hoặc trên giấy rồi can hình vẽ lên vải để thực hiện
kỹ thuật Shibori. Cách làm như vậy cũng có sự chủ động và tính tốn hợp lý các
18


họa tiết để sản phẩm có sự hiện đại và phong phú hơn.

Thiết kế mẫu họa tiết trên giấy trước khi thực hiện kỹ thuật Shbori

2. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua các
chất liệu và kỹ thuật nhuộm.
2.1. Ứng dụng và sáng tạo kỹ thuật nhuộm tạo hình kiểu Shibori qua chất
liệu vải và nguyên liệu nhuộm.
2.1.1. Chất liệu vải
Thông thường kỹ thuật nhuộm Shibori xưa nay thường chỉ được thực hiện
trên vải bông, vải lanh với màu chàm. Tuy nhiên hiện nay ta có thể dùng các chất
liệu vải khác cũng có nguồn gốc tự nhiên như lanh, lụa, đũi, đay, xơ chuối, tơ sen
để nhuộm cũng rất đẹp.

19


Thực hiện kỹ thuật Shibori trên lụa và vải gai thơ
2.1.2. Ngun liệu nhuộm
Ngồi ngun liệu là chàm ra cũng có thể sử dụng các màu tự nhiên khác
như: Củ nâu, lá cây cẩm, bột nghệ, hoa dành dành…để thực hiện kỹ thuật nhuộm
Shibori trên vải có nguồn gốc tự nhiên.

Khăn lụa được nhuộm Shibori với màu tự nhiên
Có thể dùng phương pháp tẩy trắng. Nghĩa là sử dụng tấm vải đã nhuộm
màu rồi dùng kỹ thuật Shibori như buộc, cuộn, kẹp, khâu xong đem nhúng phần đó
vào thuốc tẩy để tẩy trắng.

Shibori với kỹ thuật tẩy màu
Nếu sử dụng thuốc nhuộm hóa học thì có thể nhuộm Shibori nhiều màu trên
một tấm vải. Tuy nhiên cách này chỉ sử dụng trong một số kiểu Shibori đơn giản
20




×