Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Thơ Mới với thơ Đường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (401.6 KB, 20 trang )


Công trình đợc hoàn thành tại:
Tổ bộ môn lý luận văn học
Khoa Ngữ văn Trờng Đại học S phạm H Nội


Ngời hớng dẫn khoa học:
1. GS. TSKH Bùi Văn Ba
Trờng Đại học S phạm Hà Nội
2. PGS.TS Lê Lu Oanh
Trờng Đại học S phạm Hà Nội


Phản biện 1: GS. Phan Cự Đệ
Trờng Đại học KHXH và NV- Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 2
: GS. Hà Minh Đức
Viện Văn học
Phản biện 3: GS.TS. Trần Văn Bính
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh


Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp nhà nớc
Họp tại Trờng Đại học S phạm Hà Nội

Vào hồi: giờ. ngày.tháng.năm 2006.


Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Quốc gia Hà Nội
- Th viện trờng Đại học S phạm Hà Nội.


Danh mục công trình liên quan đến đề ti luận án

1. Lê Thị Anh (2002), Góp phần chứng giải sự tiếp thu nhiều mặt
của Thơ Mới đối với thơ Đờng, Tạp chí Khoa học, Đại học s
phạm Hà Nội, (2), tr.9 - 15.
2. Lê Thị Anh (2005), Vẻ đẹp hài hoà giữa thơ Đờng và thơ
tợng trng Pháp trong Nguyệt cầm của Xuân Diệu, tạp chí
Văn học và tuổi trẻ, (6), tr.6 -9.
3. Lê Thị Anh (2005), Đi tìm ý nghĩa hàm ngôn trong thi phẩm
Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, báo Giáo dục và thời đại,
(81), tr.9.
4. Lê Thị Anh (2005), Sự tiếp nhận thể Đờng luật trong Thơ
Mới, tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (7), tr.77-82.
5. Lê Thị Anh (2005), Thơ Đờng hài hoà với thơ tợng trng
Pháp trong sự tiếp thu của Thơ Mới Việt Nam, tạp chí Văn
nghệ công nhân, (32), tr.104 116.
6. Lê Thị Anh (2005), Một ý niệm đẹp và độc đáo về thời gian
của Đoàn Phú Tứ, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, (10), tr.18-
19.
7. Lê Thị Anh (2005), Những nội dung tiếp thu cơ bản của Thơ
Mới đối với thơ Đờng, Tạp chí Khoa học, Đại học s phạm
Hà Nội, (5), tr. 22 - 26.
8. Lê Thị Anh (2005), Sự tiếp thu về mặt thi pháp của Thơ Mới
đối với thơ Đờng, tạp chí Nghiên cứu văn học, (11), tr. 110 -
122.
9. Lê Thị Anh (2005), Sự giao hoà giữa chất liệu Đờng thi và
thơ tợng trng Pháp trong Thơ Mới Việt Nam, tạp chí Nhà
văn,
(12), tr.47 - 56.
10. Lê Thị Anh (2005), Âm hởng Đờng thi trong Thơ Mới, in

chung trong Văn học so sánh nghiên cứu và triển vọng, Nxb
Đại học s phạm Hà Nội, tr. 283 288.



Bộ giáo dục v đo tạo
trờng đại học s phạm H Nội
***





Lê Thị Anh



Thơ mới với thơ Đờng



Chuyên ngành : Lý luận văn học
M số : 62.22.32.01



Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn









H Nội - 2006

mở đầu

1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài: Về mặt lý luận văn học:
Chúng tôi muốn góp phần làm sáng tỏ thêm
những thành tựu đột xuất của văn học dân tộc một phần còn là do biết hấp thu những tinh hoa của văn học
nớc ngoài. Mặt khác, đề tài cũng vừa vận dụng vừa minh chứng cho tiềm năng khám phá hữu hiệu của lý thuyết
Văn học so sánh.
Về mặt văn học sử:
Chất liệu Đờng thi đã khảm sâu và trở thành bộ phận hữu cơ trong
chỉnh thể thế giới nghệ thuật của Thơ Mới. Nghiên cứu mối quan hệ giữa Thơ mới với thơ Đờng thực chất
cũng là góp phần tìm hiểu thành tựu và đặc điểm Thơ Mới. Về ý nghĩa thực tiễn
: Những kết quả nghiên cứu
trong luận án sẽ góp phần tạo thêm tiềm lực của bản thân khi giảng về Thơ Mới hoặc trình bày về Văn học so
sánh trên bục giảng sau này.

2. Lịch sử vấn đề: Từ 1942, trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân đã nói về thanh
thế thơ Đờng đối với các nhà Thơ Mới. Phan Cự Đệ trong cuốn Phong trào Thơ Mới cũng đã có những
trang đề cập đến vấn đề này. Đặc biệt là ông đã giải thích nguyên nhân ảnh hởng của thơ Đờng đối với Thơ
Mới. Phơng Lựu với cuốn Văn hoá, văn học Trung Quốc cùng một số liên hệ ở Việt Nam cũng đã chỉ rõ ảnh
hởng của thơ Đờng vào Thơ Mới, cụ thể hơn là qua bài viết: Vài dòng suy nghĩ nhân đi tìm ảnh hởng của
Trờng hận ca và Tỳ bà hành trong thơ ca nớc nhà. Nguyễn Xuân Diện - Trần Văn Toàn qua bài viết: Bớc
đầu tìm hiểu ảnh hởng của thơ Đờng đối với Thơ Mới đã đặt vấn đề một cách tơng đối hệ thống ở cấp độ
hình thức. Trên đây chính là những gợi ý quý báu để chúng tôi đi vào tìm hiểu tổng hợp, toàn diện sự tiếp thu

của Thơ Mới đối với thơ Đờng. Một vấn đề liên đới khá thú vị, là tại sao Thơ Mới lại có thể đồng thời chịu
ảnh hởng ở hai nguồn thơ rất xa nhau về không gian và thời gian là thơ Đờng và thơ Pháp (nhất là thơ
tợng trng thế kỷ XIX), các nhà nghiên cứu Hoài Thanh - Hoài Chân, Phan Cự Đệ và nhất là GS. Phơng
Lựu đã chỉ ra nguyên nhân, cụ thể là chỉ ra những điểm tơng đồng giữa hai nguồn văn học trên bình diện lý
thuyết. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi đi đến chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu trên nhiều mặt sự tiếp thu của Thơ Mới đối với Thơ Đờng. Phân
tích sự tiếp thu có lựa chọn của Thơ Mới đối với thơ Đờng về nội dung. Phân tích sự tiếp thu của Thơ Mới
đối với thơ Đờng về thi pháp và thể thơ. Chứng giải thơ Đờng hài hoà với thơ tợng trng Pháp trong sự tiếp thu
của Thơ Mới Việt Nam.

4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
- Thơ Mới lãng mạn 1932 - 1945. Văn bản chủ yếu:Thơ Mới 1932 - 1945, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1998.

- Tất cả kho tàng thơ đời nhà Đờng - Trung Quốc (618 - 907) chứ không phải là cả thơ Đờng luật ở các
thời đại khác.Văn bản chủ yếu:
Đờng thi tuyển dịch,
(tập 1+2), Nxb Thuận Hoá, 1997.
5. Phơng pháp luận nghiên cứu: Ngoài việc vận dụng phơng pháp của triết học Mácxit là Duy
vật biện chứng và Duy vật lịch sử, cũng nh một số phơng pháp khoa học chung nh phân tích, tổng hợp
vv luận án này chủ yếu vận dụng lý thuyết Văn học so sánh. Nhng lý thuyết Văn học so sánh có một nội
dung rất phong phú nên chúng tôi thấy cần thiết phải giải thích rõ bản thân đi theo con đờng nào.
5.1. Đầu thế kỷ XX ở Pháp hình thành khuynh hớng Nghiên cứu ảnh hởng (Influence study), tức là
so sánh những hiện tợng văn học giữa các nớc do có ảnh hởng giao lu. Khoảng giữa thế kỷ XX ở Mỹ lại
có khuynh hớng Nghiên cứu song song (Paralell study) hay còn gọi là Nghiên cứu song hành, tức là so sánh
hai hiện tợng văn học tuy có thể giống nhau nhng không có ảnh hởng giao lu gì cả. ở Liên Xô từ cuối
thế kỷ XIX, có phơng pháp So sánh loại hình, nhấn mạnh việc so sánh những hiện tợng văn học giống nhau
không do ảnh hởng giao lu, mà là bắt nguồn từ sự tơng đồng về loại hình xã hội v.v Đến đây có thể đặt ra
vấn đề sự giống nhau giữa thơ Đờng và Thơ Mới có thể tiếp cận theo hớng So sánh loại hình hay không ? Câu
trả lời là không. Bởi vì thơ Đờng thuộc thời kỳ trung đại (phong kiến), còn Thơ Mới thuộc thời kỳ cận hiện đại

(phong kiến thực dân hoá, đã có yếu tố t bản). Chúng tôi cũng không thể tiếp cận theo hớng Nghiên cứu song
song
bởi vì nó trái với thực tế. Vậy thì chỉ có thể tiếp cận đề tài theo hớng
Nghiên cứu ảnh hởng
của Pháp.
5.2. Nhng Nghiên cứu ảnh hởng phải bao gồm ba mặt ngời phát, kẻ môi giới và ngời thu.
Do đó, theo P.V.Tieghem có ba hớng nghiên cứu khác nhau. Một là Lu truyền học (Doxologie), đặt trọng
điểm nghiên cứu ở ngời phát, xem xét ảnh hởng cũng nh thành tựu và vận mệnh của nó ở nớc ngoài nh
thế nào. Hai là Nguồn gốc học (Crenologie), đặt trọng điểm ở ngời thu, nghiên cứu nguồn gốc từ tác phẩm
nớc ngoài về các mặt đề tài, chủ đề, t tởng, nhân vật, cốt truyện, thể loại, phong cách v.v. Ba là
Môi
giới học (Mesologie) nh cầu nối giữa hai chuyên ngành trên, nghiên cứu những con ngời, con đờng,
phơng tiện đem văn học của một nớc, từ một tác phẩm đến một trào lu giới thiệu, truyền bá sang một
nớc khác. Nếu nghiên cứu theo hớng Lu truyền học thì chúng tôi phải xuất phát từ thơ Đờng rồi đối
chiếu ảnh hởng của nó trong Thơ Mới. Nhng đối với chúng tôi, từ thơ Đờng vô cùng phong phú mà khảo
sát ảnh hởng của nó đối với Thơ Mới thì quá khó khăn vả lại cũng hơi ngợc. Từ Thơ Mới rồi đối chiếu với
thơ Đờng thì sẽ thuận tiện hơn. Còn nghiên cứu theo hớng
Môi giới học thì phải khảo chứng con đờng ảnh
hởng. Việc tìm hiểu con đờng ảnh hởng là rất quan trọng, nhng chúng tôi thấy cần phải hạn chế phạm vi
nghiên cứu bởi vì những vấn đề của Môi giới học cần đến sự phối hợp liên ngành và nhiều công phu nghiên
cứu. Chúng tôi chọn
Nguồn gốc học
là hớng nghiên cứu đạt thành tựu cao nhất, phong phú nhất ở phơng
Tây, nó là lĩnh vực điển hình nhất cho Nghiên cứu ảnh hởng.
5.3. Cần lu ý lý thuyết văn học so sánh không hề đứng yên. Chẳng hạn khoảng giữa thế kỷ XX lại có
Mỹ học tiếp nhận rất nhấn mạnh tính chủ động sáng tạo của ngời đọc. Năm 1979, Đại hội lần thứ 9 của Hội
liên hiệp Văn học so sánh quốc tế chính thức đặt vấn đề đa Mĩ học tiếp nhận vào Văn học so sánh, từ đó
hớng Nghiên cứu tiếp nhận (Reception Study) phát triển mạnh mẽ. Vận dụng Mĩ học tiếp nhận chúng tôi chú ý
đến vai trò chủ động và sáng tạo không phải chỉ ở ngời đọc mà cả ở ngời sáng tác. Tiếp nhận không phải là
sao chép mà khi nào cũng bộc lộ khuynh hớng và bản lĩnh, trình độ của nhà văn. Chính vì thế trong luận án

này khi tìm hiểu Thơ Mới với thơ Đờng chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ khuynh hớng và mức độ tiếp thu của
các nhà Thơ Mới có phần khác với cha ông ngày trớc. Còn đặt vấn đề sáng tạo của cả nền Thơ Mới đối với thơ
Đờng vốn xa nhau về ngôn ngữ và thể loại thì vô cùng sâu rộng và khó khăn sẽ là quá sức đối với chúng tôi.
Tóm lại, vận dụng lối Nghiên cứu ảnh hởng của trờng phái Pháp, đặt trọng điểm ở ngời thu
(Nguồn gốc học - Crenologie), chúng tôi chủ yếu chỉ chứng giải một cách tơng đối toàn diện các nhà Thơ
Mới đã tiếp thu đợc những gì từ nội dung đến nghệ thuật của thơ Đờng, và trong quá trình tiếp thu đó họ đã
bộc lộ tính chủ thể theo khuynh hớng lãng mạn cùng bản lĩnh kết hợp văn hoá Đông - Tây trong nghệ thuật
nh thế nào mà thôi, chứ không đặt vấn đề tiếp thu qua những kênh nào và sáng tạo đợc những gì từ nội
dung đến thi pháp, ngoại trừ những cảm nhận rải rác, cha tiến lên đ
ợc những khái quát có hệ thống.
6. Đóng góp mới và cấu trúc của luận án: Đóng góp mới của luận án chính là thực hiện đợc về cơ bản
bốn nhiệm vụ đợc nêu ra ở mục 3 trên đây. Cấu trúc của luận án, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị,
Danh mục công trình liên quan đến đề tài, Danh mục tài liệu tham khảo ra, nội dung chính bao gồm 4 chơng sau:

Chơng 1- Sự tiếp thu nhiều mặt của Thơ Mới đối với thơ Đờng.
Chơng 2- Sự tiếp thu có chọn lựa của Thơ Mới đối với thơ Đờng về mặt nội dung.
Chơng 3- Sự tiếp thu về mặt thi pháp và thể thơ.
Chơng 4- Thơ Đờng hài hoà với thơ tợng trng Pháp trong sự tiếp thu của Thơ Mới Việt Nam.
Chơng 1- Sự tiếp thu nhiều mặt của Thơ Mới đối với thơ Đờng
ảnh hởng sâu sắc của Đờng thi đối với Thơ Mới thể hiện trên nhiều mặt với những cấp độ sau.
1.1. Tiêu đề, đề từ:
Tiêu đề, đề từ cũng chứa đựng trong nó sức nặng của ý tởng. Tìm hiểu
Sự tiếp
thu của Thơ Mới đối với thơ Đờng không thể bỏ qua những dấu hiệu đầu tiên này.
1.1.1. Tiêu đề: Tiêu đề trùng khớp với Đờng thi nh Trờng tơng t của Hàn Mặc Tử và Trờng
tơng t của Bạch C Dị v.v Tiêu đề dờng nh chỉ là dịch từ Hán sang Việt, ta gặp nhiều ở Quách Tấn
nh Đá vọng phu và Vọng phu thạch của Vơng Kiến v.v Nhiều bài gợi nhắc thi đề quen thuộc trong thơ
Đờng, cũng trong tập Mùa cổ điển của Quách Tấn nh Cảm thu gợi nhắc Thu tứ của Trơng Tịch v.v Có
trờng hợp tác giả đặt tiêu đề bằng tiếng Hán rút từ thơ Đờng nh
Cố viên tâm

của Lu Kỳ Linh, lấy từ
Thu
hứng của Đỗ Phủ v.v Không thiếu những nhan đề chứa đựng sự kiện, chất tự sự và đôi khi kéo dài một
cách cố ý gợi nhớ nhiều nhan đề thơ Đờng có cấu trúc tơng tự nh Đêm xuân đến thôn Vĩ Dạ nghe đàn sáo của
Bích Khê và Ngày xuân lên quán đạo Cửu Hoa của Trần Tử Ngang v.v
1.1.2. Đề từ:
Lấy thơ Đờng làm đề từ cho thơ mình hoặc trớc bài thơ mình có lời đề tặng tác giả thơ
Đờng xuất hiện khá nhiều đã cho thấy các nhà Thơ Mới khi cầm bút thấy mình gắn với hồn Đờng thi nh
thế nào. Thơ Mới hay đề từ bằng thơ Đờng nguyên văn tiếng Hán. Chẳng hạn Trông chồng của Thái Can đề
từ bằng cả bài Khuê oán của Vơng Xơng Linh. Phan Thanh Phớc không lấy thơ Đờng làm đề từ nhng
viết Đêm tần đề tặng Vơng Xơng Linh, mấy chữ đó cũng là một định hớng để ngời đọc tiếp cận tác phẩm.

1.2. Từ ngữ, hình ảnh, điển tích, điển cố: Hệ thống từ ngữ, hình ảnh, điển tích, điển cố Đờng thi
thâm nhập một cách rộng rãi và tinh tế vào Thơ Mới.
1.2.1. Những từ ngữ, hình ảnh mang tính chất liệu và mợn dùng trực tiếp: Hầu nh mỗi nhà Thơ
Mới đều ít nhất một đôi lần sử dụng những từ ngữ, hình ảnh mang tính chất liệu rút từ Đ
ờng thi, nh thơ
Bích Khê có câu: Ô hay ! Buồn vơng cây ngô đồng, Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông (Tỳ bà). Cây ngô
đồng thờng gắn với mùa thu của nớc Tầu cổ: Khói phong hàng quýt lạnh, Thu nhuộm lá ngô vàng (Lý
Bạch). Phần lớn những từ ngữ, hình ảnh mang tính chất liệu rút từ Đờng thi, trong những cách kết hợp mới mẻ
vẫn giữ liên hệ và ý nghĩa gần gũi với cổ thi. Trong bài Nhớ nhung, Hàn Mặc Tử viết: Từ ấy anh ra đi, Em gầy hơn
vóc liễu. Cái vóc liễu hao gầy kia thờng có mặt trong những cuộc tình chia biệt của đôi lứa thiếu niên trong
Đờng thi (Thiếu niên hành - Thôi Quốc Phụ, Biệt hồ thợng đình - Nhung Dục vv). Thơ Mới còn
mợn dùng
trực tiếp ngôn từ Đờng thi, tuy có ít hơn nh Vũ Hoàng Chơng viết trong Nghe hát: Canh khuya đa
khách lời reo ngọc. Những từ trong ngoặc kép tác giả mợn của Tỳ bà hành - Bạch C Dị.
1.2.2. Điển tích, điển cố:
Chất liệu Đờng thi tồn tại và hành chức trong thơ nh những điển tích, điển
cố rõ nhất là ở địa danh. Hầu hết là những địa danh nổi tiếng khoác cho bài thơ, câu thơ vẻ cố kính, hấp dẫn.
Ví dụ: Ô Y hạng có trong bài thơ cùng tên của Lu Vũ Tích thì thơ Quách Tấn là: Từ Ô Y hạng rủ rê sang,

Bóng lẫn thâu đêm tiếng rộn ràng (Đêm thu nghe quạ kêu). Các tên nh Hoàng Hạc, Chiêu Dơng, Cô Tô,
Phong Kiều, Mã Ngôi v.v cũng xuất hiện khá nhiều trong thơ Đờng lẫn Thơ Mới.

1.3. Câu thơ, liên thơ, khổ thơ: Sự vay mợn ở cấp độ này rõ hơn cả là ở những bài làm theo thể
Đờng luật hoặc bài có những câu thơ tuân theo quy tắc của luật thi.
1.3.1. Câu thơ: ở đây câu thơ đợc dùng với nghĩa là một dòng thơ, ( chúng tôi không nhắc lại việc vay
mợn câu thơ cũng nh bài thơ làm đề từ). Nguyễn Bính trong Oan nghiệt và Vũ Hoàng Chơng trong Dâng tình
đều mợn câu Cùng một lứa bên trời lậnh đận của Bạch C Dị trong Tỳ bà hành. Phần nhiều Thơ Mới lấy ý từ
một câu thơ của ngời xa và triển khai trong nội bộ một cấu trúc tơng ứng (Bức tranh quê - Anh Thơ v.v )
1.3.2. Liên thơ: Sự thâm nhập trọn vẹn của một liên vào trong Thơ Mới là không nhiều, rất đặc biệt là
Nguyễn Bính, trong Oan nghiệt ông dùng nguyên si liên thứ ba trong Thu hứng của Đỗ Phủ: Khóm cúc tuôn
đôi dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Còn lại các tác giả đều ít nhiều biến đổi ý và lời hoặc
chỉ giữ lại cấu tứ, nhạc điệu.
1.3.3. Khổ thơ: So với liên thơ, sự vay mợn ở cấp độ khổ thơ càng hiếm hoi hơn. Trong thơ Đờng không
có khái niệm khổ thơ (với cách hiểu là một đoạn thơ đợc cách dòng hoặc viết lùi vào). Nếu trong cùng một tiêu
đề tác phẩm, tác giả có muốn ngắt ra thì đều đợc đặt tên kỳ nhất, kỳ nhị v.v (mỗi kỳ tơng đơng một bài thơ
nhỏ cùng chung chủ đề lớn). Hầu nh không có hiện tợng cả một kỳ nh thế đi trọn vẹn vào Thơ Mới. Nhiều nhất
cũng chỉ nh Tràng giang của Huy Cận, bốn câu cuối cùng có sự gặp gỡ hoặc tình cờ, hoặc hữu ý với Lu Trờng
Khanh trong Tự hạ khẩu chí Anh Vũ Châu, vọng Nhạc Dơng ký Nguyên Trung Thừa .
1.4. Bài thơ:
ở cấp độ này, ảnh hởng của Đờng thi đến Thơ Mới thể hiện trên các phơng diện nh: cốt
truyện (vì có thơ tự sự), đề tài, chủ đề, nội dung t tởng và nhiều rung động thẩm mỹ khác. Tiêu biểu là các trờng
hợp sau. Năm qua của J.Leiba làm ngời đọc liên tởng đến Trờng Can hành của Lý Bạch. Cả hai tác phẩm đều
mang chất tự sự, có cốt truyện tơng tự nhau, cách kể cũng giống nhau. Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu ảnh hởng
khá sâu rộng đến Thơ Mới nh Mộng trung Hoàng Hạc lâu của Lu Kỳ Linh. Trớc hết bài thơ có tiêu đề gợi nhắc
kiệt tác của Thôi Hiệu. Sau nữa tác giả còn mợn dùng một số từ ngữ, hình ảnh nh khói sóng, nghìn năm mây
trắng, một đi không trở lại. Ngoài ra, Hoàng Hạc lâu chính là nguồn thi hứng cho Lu Kỳ Linh. Bài thơ của Lu
Kỳ Linh cũng giàu suy t, suy ngẫm và cũng hớng đến đề tài triết lý nhân sinh muôn thuở mà Thôi Hiệu đã đặt ra.
1.5 Nhà thơ: Nhiều tác giả thơ Đờng đã đi vào Thơ Mới nh một hình ảnh thơ độc đáo và tuyệt đẹp.
Ngời rất hay nhắc đến tên các nhà thơ Đờng là Bích Khê: Thơ bay lên cho đến gã Vơng Duy (Thơ bay),

Hồn Thôi Hiệu ở đâu? (Ngũ Hành Sơn, hậu). Ngời đợc gọi tên nhiều nhất trong thơ Bích Khê là Lý Bạch (Mộng
trong hơng, Tranh loã thể v.v). Hình tợng Lý Bạch còn có mặt trong nhiều thi phẩm khác với tên gọi Thi Tiên
(ý thơ - Thế Lữ v.v) với chén rợu L
u Linh (Đi chơi thuyền- Ưng Bình Thúc Giạ Thị v.v). Đặc biệt nhất là
giai thoại về cái chết của Lý Bạch, thơ Thao Thao (Lý Trích Tiên), Vũ Hoàng Chơng (Chân hứng) v.v đã nhắc
tới câu chuyện lý thú này. Bên cạnh Lý Bạch, thỉnh thoảng Đỗ Phủ cũng đợc Thơ Mới nhắc đến (Sinh, luỵ, tử
- J.Leiba, Khai bút năm Quý Tỵ - Ưng Bình v.v).
1.6. Tiểu kết: Nh vậy, Thơ Mới đã tiếp thu thơ Đờng trên rất nhiều mặt với những dấu ấn rất rõ
ràng, cụ thể từ nội dung đến hình thức, từ vi mô đến vĩ mô. Từ đó có thể thấy nó khác với sự tiếp thu các nguồn
ảnh hởng khác ra sao. Chẳng hạn nh đối với việc Thơ Mới tiếp thu thơ tợng trng Pháp, tuy cũng khá rõ
nhng khó có thể đa ra những minh chứng dồi dào nh thế. Việc chứng giải sự tiếp thu nhiều mặt của Thơ Mới
đối với thơ Đờng nh vậy cũng chính là cơ sở thiết yếu để đi đến những khám phá khác ở chiều sâu hơn.
Chơng 2- Sự tiếp thu có chọn lựa của Thơ Mới đối với thơ Đờng về mặt nội dung
Thơ Mới không tiếp thu toàn diện nội dung thơ Đờng mà chỉ tập trung vào một số nội dung cơ bản và
sự tiếp thu này có nhiều khác biệt so với ông cha. Điều đó đã thể hiện tính chủ thể trong tiếp nhận.
2.1.Những nội dung tiếp thu cơ bản:
Từ sự thống kê các ý thơ, bài thơ, nhà thơ Đờng chủ yếu,
chúng tôi nhận thấy Thơ Mới chỉ tập trung tiếp thu những nội dung cơ bản sau.
2.1.1. Nỗi niềm biệt ly cô đơn:
Trớc hết đó là những cuộc chia ly mà ngời ra đi ít nhiều mang dáng
dấp của một đấng trợng phu. Trong thơ Đờng đó là những bài tống biệt nh Tống biệt (Vơng Xơng
Linh), Tống hữu nhân (Lý Bạch) v.v Thơ Mới viết về đề tài này cũng chiếm một số lợng đáng kể. Họ vẫn
a dùng nguyên văn hai chữ tống và biệt. Thứ đến là bối cảnh, không gian nghệ thuật của cuộc tiễn đa,
hoàng hôn, sông - nớc, ngời đa, ngời tiễn, hớng đi đến v.v Tiếp đến là âm hởng buồn, trống vắng và
dáng dấp trợng phu của ngời ra đi cũng khiến cho các bài Thơ Mới có màu sắc Đờng thi rõ rệt hơn (Tống
biệt hành của Thâm Tâm v.v). Sau nữa, đậm rõ hơn là nỗi lòng ngóng trông, mong đợi khi đôi lứa chia lìa
xa cách. Họ đã tìm đến với thơ Vơng Xơng Linh, đặc biệt là bài Khuê oán. Khuê oán đợc Thái Can lấy
làm đề từ cho bài Trông chồng. Thái Can đã yêu nỗi cô đơn có sắc màu cổ kính. Đấy cũng chính là tâm lý
sáng tạo của Phan Thanh Phớc (Đêm tần), của Lu Trọng L (Lòng cô phụ) v.v
2.1.2. Cảm xúc thoát tục: Những linh hồn u buồn của Thơ Mới đều cố gắng tìm cho mình một con

đờng thoát ly cuộc sống. Họ chịu ảnh hởng nhiều của Lý Bạch. Những lúc tuôn trào cảm hứng thi ca, Thế
Lữ thấy nh mình đang cùng Thi Tiên say niềm hội ngộ (ý thơ). Một ngời khác hay tìm đến cả rợu và
trăng, nhiều lần nh
cũng đối ẩm với Lý Bạch có Bích Khê (Mộng, Ngũ Hành Sơn - hậu) v.v Đặc biệt
nhất là trong khi đi sâu vào cái Tôi vắng lạnh, cũng nh Huy Cận, nhiều nhà Thơ Mới đã có những giây phút
tìm gặp đợc Thôi Hiệu, một hồn thơ dờng nh thuộc về một cõi xa xăm nào đó mà tha thiết nhất chính là
Bích Khê. Cũng nh Thôi Hiệu xa đắm chìm trong cảnh tiên, triền miên suy t về quá khứ, thì ngời ngày
nay cũng cảm thấy
:
Vắng tiên hạc bơ vơ dới thế, Gảy tiên cầm điệu lẻ trong sơng (Giọt lệ trích tiên - Bích Khê).


2.1.3. Đồng cảm với thân phận bị vùi dập của kiếp đời ca kỹ
:
Hình ảnh mà Thơ Mới nói đến nhiều là
thân phận ca kỹ, ngời con gái giang hồ, ngời phụ nữ lâm vào cảnh đời bi kịch. Kiếp sống bọt bèo của họ đã
làm nhức nhối tâm hồn bao nghệ sĩ, không ít ngời đã dừng chân lại ở bến Tầm Dơng: Oan nghiệt (Nguyễn
Bính), Dựng (Vũ Hoàng Chơng), Lẻ điệu (Quách Tấn) v.v Trong chuỗi ngày đau khổ của đời buôn phấn
bán hơng ta thấy trở đi, trở lại là nỗi cô đơn vò xé tâm can nh tiếng đàn lẻ điệu mà Quách Tấn đã viết.
Lẻ điệu
của Quách Tấn tuy có thiếu hình ảnh trăng trong dạng thức đàn - đêm - trăng - nớc nhng mạch
cảm xúc, tình điệu thẩm mỹ, hệ thống hình tợng, nét t tởng đẹp đẽ v.v của Tỳ bà hành vẫn rất đậm đà.

Trong Thơ Mới còn có một tiếng nói nổi bật lên đó là tiếng nói đồng vọng, thơng ngời thơng mình, trông
ngời mà ngẫm đến ta làm nên chất thơ của tâm hồn nghệ sĩ muôn đời.
2.2. Những giới hạn trong việc tiếp thu:
Xét cả về chiều rộng lẫn chiều sâu thì tình hình quả đúng nh
sự thừa nhận của Vũ Hoàng Chơng: Hồn cũ Thịnh Đờng muôn nẻo sáng, Ta ghì h ảnh chút mà thôi (Chân hứng) .



2.2.1. Giới hạn về chiều rộng: Nội dung của thơ Đờng vô cùng phong phú, đa dạng. Thơ Mới không
tiếp thu toàn bộ nền thơ Đờng mà chỉ chọn những nội dung tình cảm nào phù hợp với cảm trạng riêng t của
họ. Thơ Đờng có 3 đỉnh cao: Thi Tiên (Lý Bạch), Thi Thánh (Đỗ Phủ), Thi Quan (Bạch C Dị). Các nhà thơ
của dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát v.v đã tiếp thu một cách sáng tạo tinh thần chiến
đấu tích cực, truyền thống hiện thực và nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Lý Bạch, Bạch C Dị, Đỗ Phủ v.v
nhng đến thể kỷ XX các nhà Thơ Mới lại tiếp thu rất ít.

- Nói đến Đỗ Phủ, các nhà Thơ Mới hầu nh chỉ nhắc nhiều đến nhân cách, tài thơ của ông mà ít nói đến
giá trị hiện thực và nhân đạo trong thơ. Trong khi thơ Đỗ Phủ chính là một tập sử thi phản ánh bức tranh xã
hội đời Đờng với bao bất công, đau khổ. Đối với các nhà thơ của dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du
v.v. thì Đỗ Phủ lại nh một trong những mẫu hình thật gần gụi: Thuật hứng, bài 5 - Nguyễn Trãi, Y nguyên vận
ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên - Nguyễn Du v.v Đối với Bạch C Dị thì ngoài Tỳ bà hành thì hầu nh ngời ta
cũng không biết đến những bài thơ phúng dụ hiện thực của ông. Bao nhiêu điều quý báu trong quan niệm nghệ
thuật đợc thể hiện qua thơ văn của ông đã không đợc Thơ Mới tiếp nhận. Ngay Lý Bạch, ngời ảnh hởng nhiều
hơn cả đến Thơ Mới thì hầu nh cũng cha đợc tiếp thu đầy đủ cái chất lãng mạn tích cực, phóng khoáng. Đấy là
cha kể thơ ca phản ánh hiện thực, có giá trị nhân đạo càng ít đợc Thơ Mới tiếp thu. Những nhà Thơ Mới hầu nh
chỉ thích thú với những vần thơ cầu tiên phỏng đạo, ẩm tửu hàm ca, ngao du sơn thuỷ của Lý Bạch.
2.2.2. Giới hạn về chiều sâu: Chính ở Tỳ bà hành của Bạch C Dị, tác phẩm mà Thơ Mới chịu ảnh
hởng nhiều nhất, ta sẽ thấy đợc hạn chế về chiều sâu trong việc tiếp thu. Đại thi hào Nguyễn Du qua tác
phẩm Long thành cầm giả ca đã tiếp thu Tỳ bà hành một cách toàn diện hơn ai hết. Còn Thơ Mới thì đã
không tiếp thu đợc những điều quý báu trong cái nhìn hiện thực sâu sắc và tấm lòng nhân đạo cao cả của
Bạch Lạc Thiên nh Nguyễn Du đã làm. Đọc Thơ Mới ta cứ thấy ngời cầm bút tự thơng mình trớc đã.
Những cô gái Tầm Dơng trong thi phẩm của họ đơng nhiên cũng khổ nhng là do không thoả mãn về
tình yêu hơn là do phải chịu thân phận tủi nhục. Đọc Bên sông đa khách của Thế Lữ, rồi Lời kỹ nữ của
Xuân Diệu đến Dâng tình, Quên của Vũ Hoàng Chơng ta thấy ngời ca kỹ cứ tha hoá dần cho đến lúc chỉ
còn lại nỗi yêu mê cuồng dại mà thôi. Những niềm cảm thông thơng xót của T mã Giang Châu đã tan biến
nhờng chỗ cho việc vui vẻ và sự an ủi thoáng chốc. Tiếp thu Tỳ bà hành có khi Thơ Mới còn làm biến dạng đi
hình ảnh bến Tầm Dơng (thành chốn ăn chơi), hình ảnh Tỳ bà phụ (thành gái làng chơi, ong bớm). Để thấy
rõ hơn giới hạn về chiều sâu có thể kể đến việc tiếp thu của Thơ Mới đối với Lý Bạch. Không kể việc cha
tiếp thu đợc đầy đủ cái chất lãng mạn tích cực, phóng khoáng trong thơ Lý Bạch, các nhà Thơ Mới có khi

còn làm biến dạng đi ít nhiều. Cái say của Lý Bạch là cái say của một vị Trích Tiên mang ý thức phản
kháng, chứng tỏ một nhân cách, một cái chí của ngời quân tử (Khách trung tác, Giang thợng ngâm v.v )
với Vũ Hoàng Chơng chẳng hạn, say là để mà say, và lại còn hơn cổ nhân những thứ say mới nhập cảng:
say nhảy đầm (Hoài Thanh - Hoài Chân). Cái say có mùi vị hởng lạc.


2.3. Tiểu kết:
Mặc dù Thơ Mới tiếp thu nhiều ở thơ Đờng nhng về nội dung cũng chỉ là xung quanh
những khía cạnh phù hợp với cảm hứng lãng mạn và cái Tôi cá nhân của mình. Ngoài ra, so với toàn bộ nội
dung của thơ Đờng, Thơ Mới cũng không tiếp thu một cách rộng rãi. Và ngay ở những chỗ tiếp thu, Thơ Mới
cũng cha có đợc chiều sâu cần thiết. Tất nhiên đó là sự tiếp thu có lựa chọn, chủ động nhng không phải sự lựa
chọn và chủ động bao giờ cũng mang tính tích cực. Khi nói giới hạn, chúng tôi muốn nhìn nhận vấn đề từ giá trị t
tởng, nhân đạo và hiện thực của tác phẩm mà tạm thời cha đề cập đến những vấn đề phức tạp khác.
Chơng 3- Sự tiếp thu về mặt thi pháp v thể thơ
Thơ Mới đã tiếp thu đợc không ít những tinh hoa nghệ thuật đặc trng cho phong cách thơ Đờng.
Trong đó có sự thừa hởng thành tựu tiếp thu thơ Đờng hàng ngàn đời của ông cha
3.1. Thi pháp:
Thơ Mới đã tiếp thu đợc những nét nổi bật và khái quát nhất nh sau
.
3.1.1. Tạo dựng các mối quan hệ: Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lu cho rằng, các nhà thơ Đờng đã nhận
thức thế giới khách quan bằng phơng pháp quy sự vật hiện tợng ra thành các mối quan hệ xây dựng trên sự thống
nhất lại những mặt đối lập, mâu thuẫn mà nó vốn có (Tô đài lãm cổ - Lý Bạch vv). Nhiều nhà Thơ Mới đã kế thừa
đặc trng thi pháp này, ví dụ Tống biệt hành (Thâm Tâm) v.v Thâm Tâm tạo dựng các mối quan hệ vô - hữu ở 4
câu mở đầu để thể hiện tình ngời trong cuộc chia ly, tiễn biệt. Ông còn phát hiện những nét đối lập mà thống nhất để
tạo dựng hàng loạt mối quan hệ: bề ngoài - bề trong, con ngời giả - con ngời thực, dửng dng - dằn vặt, tin - không
tin v.v để khắc hoạ tâm trạng, ý chí, khát vọng của ly khách thông qua cảm nhận của ngời đa tiễn.


3.1.2. Bút pháp chấm phá: Các nhà thơ Đờng không cần miêu tả một cách dày đặc chi tiết, chỉ cần
vài nét phác đơn sơ cũng đủ hoàn thiện một bức tranh đời sống trong sự vận động đa chiều của nó (Nam hành

biệt đệ - Vi Thừa Khánh). Bài Tràng giang của Huy Cận cũng vậy.Thể hiện nỗi cô đơn rợn ngợp nhà thơ đã
đem đối lập cái hùng vĩ của thiên nhiên với cái mỏng manh, nhỏ bé của cánh chim trong bóng chiều đang đổ
xuống.

Trong bút pháp chấm phá của thơ Đờng có một kiểu kết cấu đặc biệt, kết cấu theo kiểu đứt - nối,
tức là tạo ra những khoảng trống tơng đối, bớc hẫng đầy dụng ý trong dòng vận động của mạch thơ.
Những chỗ lặng im đứt đoạn lại nói với độc giả nhiều hơn cả, để rồi sau đó thi nhân lại tìm cách khôi phục
nối liền những khoảng thiếu vắng lạ lùng đó. (Tặng Uông Luân - Lý Bạch, Tiếng thu-Lu Trọng L v.v).

3.1.3. Gợi tả theo lối hoạ vân hiển nguyệt: Có thể nói đặc trng của thơ Đờng là thơ ý tại ngôn
ngoại, đấy chính là gợi tả ( Đại phổ - Đỗ Thẩm Ngôn, Ngu mĩ nhân - Lý Hậu Chủ vv ). Theo Lý Quốc Hoa
trong Văn học phê bình học, thì gợi tả theo lối hoạ vân hiển nguyệt có thể kể nh là: Dĩ tiểu kiến đại (Lấy
nhỏ thấy lớn), Dĩ thực tả h (Lấy thực nói h), Dĩ tĩnh tả động (Lấy tĩnh nói động) v.v Thi pháp gợi tả trong
Thơ Mới cũng có đầy đủ tất cả các biểu hiện cụ thể nh trong thơ Đờng. Ví dụ: Dĩ tân tả chủ, Xuân Diệu có bài
Mời chữ: Ma dầm - thu dới nguyệt, Máng chảy - suối trên nhà. Xuân Diệu dùng ma dầm, máng
chảy để nói con ngời - chủ thể. Ma dầm, máng chảy không có gì nên thơ cả song dới con mắt yêu đời
nh Xuân Diệu thì chúng cũng trở thành thu dới nguyệt, suối trên nhà. Ta thấy thấp thoáng một con ngời
đang tĩnh tâm, thoát ra khỏi những phiền lụy, đau khổ hàng ngày, thấp thoáng dáng vẻ của một thiền nhân.
3.1.4. Cấu trúc cú pháp tỉnh lợc: Theo Fransois Cheng (Pháp) thì đặc điểm cú pháp nổi bật của thơ
Đờng là phép tỉnh lợc. Đây chính là một sự thanh lọc có ý thức khiến cho các cụm từ trong câu thơ có quan hệ
lỏng lẻo về mặt ngữ pháp, có thể kết hợp với nhau theo nhiều cách. Trong thơ Đờng thờng có sự tỉnh lợc chủ
từ, giới từ, các từ so sánh, động từ v.vVí dụ Trúc lý quán của Vơng Duy tỉnh lợc đại từ nhân xng tơng
đơng thành phần chủ ngữ và lợc bỏ yếu tố chỉ địa điểm v.vTrong Thơ Mới cũng có tất cả những sự tỉnh lợc
nh trong thơ Đờng. Có khi đồng thời có hiện tợng tỉnh lợc nhiều từ loại nh
Chiều xuân của Quách Tấn có sự
tỉnh lợc cả chủ từ, giới từ và động từ mở ra nhiều hớng tiếp cận, nhiều ý nghĩa sâu sắc cho tácphẩm.
3.2.Thể thơ: Thơ Đờng chung quy đợc sáng tác theo 2 thể: Đờng luật, cổ phong. Đờng luật và cổ
phong (cổ phong chịu sự chi phối của luật thi) vẫn đợc Thơ Mới vận dụng, trong đó Đờng luật nhiều hơn.
3.2.1. Thể thơ cổ phong: Nhiều bài thơ Đờng dù viết theo thể cổ phong vẫn chứa đựng dấu vết của thơ
Đờng luật và rõ ràng nhất là phối thanh theo luật bằng trắc và đối ngẫu ở những liên thơ (

Hạo ca hành -
Lý Bạch
v.v).Trong Thơ Mới, một số bài hành thể hiện khá rõ đặc điểm trên, thơ tự do đan xen thơ luật Đờng và còn có
liên hệ về ý tứ, nội dung, âm điệu v.v với một số bài thơ Đờng nh Can trờng hành - Thâm Tâm, Bài hành
phơng Nam - Nguyễn Bính v.v Đọc Can trờng hành của Thâm Tâm chẳng hạn, vừa thấy cái hào sảng của thơ
hành Vơng Duy, cái phóng khoáng của thơ hành Lý Bạch vừa thấy cái u trầm của thơ hành Đỗ Phủ.

3.2.2. Thể thơ Đờng luật: Nếu căn cứ vào số câu thì thể thơ bát cú đợc dùng nhiều nhất, rồi đến tứ
tuyệt, ít là bài luật và hiếm hoi là phú Đờng luật. Nếu căn cứ vào số chữ thì thất ngôn rất nhiều còn ngũ
ngôn thì ít hơn hẳn.

3.2.2.1. Thể thơ bát cú Đờng luật
: Qua khảo sát, chúng tôi không thấy xuất hiện ngũ ngôn bát cú
Đờng luật, còn thất ngôn bát cú Đờng luật thì rất nhiều, tiêu biểu nh ở Quách Tấn. Tập Mùa cổ điển, Một
tấm lòng chiếm số lợng lớn là thơ thất ngôn bát cú. Quách Tấn đã vận dụng thể loại này một cách nhuần
nhuyễn (Đêm tình). Vũ Hoàng Chơng trong tập Mây, Thơ say hồn cốt đây đó không dứt nổi với Đờng thi
(Nằm hấng thơ ma độc vận bằng - Đêm đông xem truyện quỷ).
3.2.2.2. Thể thơ tứ tuyệt Đờng luật: Cả ngũ ngôn tứ tuyệt và thất ngôn tứ tuyệt đều đợc dùng nhiều
trong Thơ Mới nhng thất ngôn tứ tuyệt chiếm tỉ lệ lớn hơn.

* Thất ngôn tứ tuyệt Đờng luật:Trong Thơ Mới, xuất hiện tất cả 4 kiểu tứ tuyệt luật Đờng. Một, rút
bốn câu đầu từ thể bát cú, thành bài tuyệt cú ba vần (gieo ở cuối câu 1, 2, 4) hai câu đầu tản hai câu sau
đối (Tiếng ca - Bích Khê). Hai, rút 4 câu giữa, thành bài tuyệt cú hai vần, đối từng cặp hai câu một (Cảm hứng
- Bích Khê). Ba, rút 4 câu cuối, thành bài tuyệt cú hai vần, hai câu đầu đối hai câu sau tản (Lá bàng rơi - Lu
Trọng L). Bốn, rút hai câu đầu và hai câu cuối, thành bài tuyệt cú ba vần, không đối (Tối - Đoàn Văn Cừ).


*Ngũ ngôn tứ tuyệt Đờng luật: Bích Khê là tác giả hay dùng thể thơ này. Có bài tuy không tuân thủ chặt
chẽ tiết tấu nội bộ trong việc phối thanh bằng trắc (điều này cũng đã xảy ra trong thơ Đờng nh
Hoàng hạc

lâu của Thôi Hiệu), vần cũng có chút biến đổi linh hoạt song đối ngẫu thì đợc đặc biệt chú ý (Đề ảnh).

Trong một số tác giả khác nh Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhợc Pháp v.vthỉnh thoảng ta cũng gặp những bài
ngũ ngôn luật hoặc những câu ngũ ngôn luật xen giữa các câu tự do, khi thì tác giả chú ý ngắt nhịp hay đối
ngẫu, khi thì chú ý phối thanh hay hiệp vần v.v

3.2.2.3. Bài luật: Theo Lê Nguyễn Lu, Bài luật là hình thức kéo dài bài bát cú, cứ câu chẵn niêm với câu
lẻ kế tiếp, câu chẵn mang vần (toàn bài độc vận) và câu lẻ đối với câu chẵn dới nó, có khi không đối. Nguyễn
Bính có một số bài trờng thiên độc vận (bài luật) nh Giời ma ở Huế, Xóm Ngự Viên, Xuân tha hơng.Ví dụ:
Xuân tha hơng, dài 100 câu và độc vận (nh chính thi sĩ chú thích), câu chẵn mang vần nh yêu cầu của luật
thi. Câu chẵn niêm với câu lẻ kế tiếp (có 25 cặp câu nh thế), câu lẻ có lúc đối với câu chẵn dới nó, nhịp thơ
của các câu trong bài cũng nhẹ nhàng, ngân nga lấy nhịp chẵn làm cơ sở, chủ yếu là nhịp 4/3 và nhịp 2/2/3.
3.2.3. Những thể thơ đặc biệt:
Thể Thuận - nghịch độc, Hàn Mặc Tử có hai bài làm theo lối này là Cửa
sổ đêm khuya, Đi thuyền, song có phần còn hơn ngời xa bởi hai bài thất ngôn bát cú Đờng luật của thi sĩ
đọc đợc tới sáu cách. Ví dụ bài Cửa sổ đêm khuya: Hoa cời nguyệt dọi cửa lồng gơng
Sáu cách đọc là:
đọc xuôi, đọc ngợc từ chữ cuối cùng (nh hai cách đọc của ngời xa), bỏ hai chữ sau của mỗi câu thơ đọc xuôi,
bỏ hai chữ sau mỗi câu đọc ngợc từ dới lên, bỏ hai chữ đầu mỗi câu thơ đọc xuôi, bỏ hai chữ đầu mỗi câu thơ
đọc ngợc từ dới lên. Thể Nhất thất lệch, ngời ta hay truyền tụng bài Phú thi (Nói về thơ) của Bạch C Dị.
Số chữ tăng dần từ câu đầu (một chữ) cho đến các cặp câu 2, 3, 4, 5, 6, 7 (15 câu, 55 chữ). Lấy đề làm vần thì
từ đầu đến cuối lấy một vần (độc vận). Trong từng cặp câu 2, 3, 4, 5, 6 câu trên câu dới bằng trắc phải đối
chọi. Cặp câu 7 thì có quy tắc Nhất tam ngũ bất luận, Nhị tứ lục phân minh. Bài Tối của Trần Huấn Chơng
cũng đợc trình bày theo thể Nhất thất lệnh này.

3.2.4. Thể phú Đờng luật: Thể phú Đờng luật tuy không hẳn là thể loại thơ nhng chất thơ lại rất
giàu có. Ví dụ
Thu về
của Ngân Giang nữ sĩ. Thứ nhất, tác phẩm vận dụng sự đăng đối tề chỉnh của câu phú
Đờng luật bằng phép song hành. Trong Thu về có đủ cả ba loại song hành: kết cấu song hành, câu song

hành, từ ngữ song hành. Những câu song hành trong Thu về cũng đủ cả ba loại: song hành qua sự đồng nghĩa,
song hành qua sự trái ngợc, song hành qua sự tổng hợp. Có những kết cấu song hành đối nhau toàn diện và
trùng với một cặp câu thất ngôn bát cú Đờng luật. Thứ hai, tác phẩm vận dụng thủ pháp thậm xng mang những
đặc điểm riêng của phú Đờng luật. Nó thờng đợc dùng sóng đôi và Dù ý nghĩa là tơng đồng hay đối lập
thì cơ chế tạo nghĩa vẫn phải tơng đồng (Phạm Tuấn Vũ), ví dụ: Ngời quốc sĩ canh gà đợi sáng, lỡi thép
mài trăng. Khách cung nhân vờn ngự chờ vua, hàng mi rơi ngọc. Thứ ba, tác phẩm vận dụng 3/4 loại câu đặc
trng của tiểu loại phú Đờng luật: câu bát tự, câu song quan, câu cách cú. Yếu tố nhịp (gồm nhịp đậm, nhịp nhạt)
và lời văn mỹ miều, giàu tính ớc lệ cũng là một đặc trng của phú Đờng luật đợc Ngân Giang vận dụng.

3.3. Tiểu kết:Về mặt thi pháp, Thơ Mới đã tiếp thu những đặc trng rất cơ bản của phong cách Đờng
thi nh: tạo dựng các mối quan hệ, bút phát chấm phá, gợi tả theo lối hoạ vân hiển nguyệt, cấu trúc cú
pháp tỉnh lợc. Về mặt thể thơ, Thơ Mới đã tiếp thu hai thể thơ rất cơ bản của đời Đờng đó là Đờng luật và
Cổ phong (cổ phong có sự chi phối của luật thi). Ngoài ra họ còn tìm đến với những thể thơ đặc biệt nh
Thuận - nghịch độc, Nhất thất lệnh, phú Đờng luật nh một thú chơi tao nhã.
Chơng 4-Thơ Đờng hi ho với thơ tợng trng Pháp trong sự tiếp
thu của Thơ Mới Việt Nam
Thơ Đờng rất hài hoà với thơ tợng trng Pháp trong sự tiếp thu của Thơ Mới chứ không hề phá vỡ
chỉnh thể nghệ thuật của nó.
4.1. Nguyên nhân dẫn tới sự ảnh hởng hài hoà:Nguyên nhân quan trọng là, xét trên bình diện lý
thuyết, chúng có nhiều điểm tơng đồng nh GS.Phơng Lựu đã nói trong bài viết Thử tìm nguyên nhân hài
hoà giữa thơ Đờng với thơ tợng trng Pháp trong Thơ Mới Việt Nam.
Đó là: chủ trơng thơ không nên tả
chân, chỉ cốt gợi ra, ám thị những tình ý ẩn đằng sau sự vật; sự chan hoà chủ thể và đối tợng; vấn đề trực
giác phi lý tính; nhấn mạnh vấn đề âm nhạc. Chúng tôi cũng nhận thấy giữa thơ Đờng và thơ tợng trng
Pháp có những điểm tơng đồng đó và trong luận án đã chứng minh cụ thể bằng thực tế sáng tác. Dới đây
chúng tôi xin trình bày những biểu hiện cụ thể của sự hài hoà giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp trong
sáng tác của phong trào Thơ Mới qua các cấp độ trào lu, nhà thơ, bài thơ, nghĩa là từ vĩ mô đến vi mô. Tuy
qua nhiều cấp độ nh thế, nhng tất cả đều đợc chứng giải một cách nhất quán từ những nguyên nhân đã
đợc phát hiện ở trên. Tính hệ thống trong sự chứng giải là ở đó.
4.2. Sự hài hoà trên cấp độ trào lu:

Nh Hoài Thanh - Hoài Chân đã nói, Thơ Mới có dòng ảnh hởng
Đờng thi và có dòng ảnh hởng thơ Pháp (nhất là thơ tợng trng). Từ những đại diện tiêu biểu ta sẽ thấy
đợc tình hình chung của cả trào lu.

4.2.1. Dòng ảnh hởng thơ Đờng mang những đặc điểm tơng đồng với thơ tợng trng Pháp: Thuộc
dòng ảnh hởng thơ Đờng thì Quách Tấn chính là một đại diện tiêu biểu nhất. Tính gợi, tính ám thị trong
thơ Quách Tấn nổi bật lên một điều: chất liệu hiện thực chỉ vừa đủ để gợi ra những điều sâu thẳm bên trong.
Chẳng hạn bài Dới liễu chờ xuân, viết về mùa thu, thi sĩ chỉ chọn đặc tả một nhành liễu thớt tha. Tiêu đề bài
thơ chứa đầy hàm ý, hình ảnh liễu kia lại biểu hiện ra đợc một trạng thái tâm linh (Mallarmé). Sự chan hoà chủ
thể và đối tợng là điều rất dễ thấy trong thơ Quách Tấn. Thiên nhiên sinh động diệu kỳ chính là hình tợng thơ cơ
bản, là đối tợng thẩm mỹ chủ yếu làm nên linh hồn trong các tập thơ của Quách Tấn (Mùa cổ điển, Một tấm
lòng). Cũng nhấn mạnh vai trò của trực giác thì trong thơ Quách Tấn ta thấy không chỉ có những cảm giác thông
thờng mà chủ yếu là siêu cảm giác, là sự chuyển đổi và tơng ứng giữa các giác quan (Đà Lạt đêm sơng). ý
thơ tuôn trào, tình thơ lai láng bất cứ khi nào thi hứng tới (Thơ về). Thơ Quách Tấn còn rất giàu âm nhạc, có nhận
xét Mỗi bài thơ tựa hồ nh một bản nhạc reo lên ở trang giấy. Có nhạc cụ thể qua việc phối hợp hài hoà các yếu
tố tạo nhạc. Đồng thời cũng có nhạc siêu huyền, nhạc vì gợi chứ không phải vì tả mà có (
Âm ba
vv).

4.2.2. Dòng ảnh hởng thơ tợng trng Pháp mang những đặc điểm tơng đồng với thơ Đờng:
Nhóm Dạ đài là đại diện tiêu biểu cho dòng ảnh hởng thơ tợng trng Pháp. Nhng quan niệm nghệ thuật mà
Dạ đài phát biểu trong Tuyên ngôn tợng trng và một số sáng tác của họ vẫn có nhiều điểm gần gũi với thơ
Đờng.
Dạ đài
quan niệm thơ cũng phải âm u nh cảnh giới của cái tôi thầm lặng chính là cũng gần gũi với
cái vô ngôn chi mỹ của Đờng thi. Họ còn phát biểu Mỗi câu thơ sẽ có một ý nghĩa - cái nghĩa rất thờng -
nhng sẽ mang lại biết bao nhiêu ý nghĩa âm u và khác lạ chính là nói về nghĩa ám thị. Tiêu biểu cho Dạ đài
có Đinh Hùng. Ví dụ ở điểm gợi, điểm ám thị, hai mảng đề tài trở đi trở lại là rừng sâu núi thẳm và đô thị.
Qua đó nhà thơ muốn nói gì? Cảnh rừng sâu núi thẳm gợi ý nghĩ về một thế giới nguyên thuỷ hoang sơ, thuở
thơ ấu của loài ngời mà nhà thơ khao khát trở về. Trong khi cảnh đô thị thì Những gì chân thật của con

ngời đều bị lớp áo ngoài bao phủ (Nguyễn Tấn Long) là thế giới văn minh không chịu thừa nhận con ngời
hoang dại - chính là tiền thân của họ xa kia. Về sự chan hoà chủ thể và đối tợng thì cách diễn đạt của Dạ đài
là Sức rung động của một bài thơ chỉ có thể vào sâu và lan rộng nếu đã thâu góp đợc cái sức rung động của vô
biên, nghĩa là của muôn nghìn cõi đất, chúng ta muốn vào sâu ngoại vật v.vThơ Đinh Hùng chìm đắm
trong núi thẳm hơng rừng là ví dụ (Bài ca man rợ, Ngời gái thiên nhiên v.v). Dạ đài kêu gọi chúng ta
không đợc dùng lý trí, một bài thơ phải vô cùng linh động v.vĐinh Hùng có cả một tập thơ đề tên Mê
hồn ca đầy ắp trực giác, phi lý tính nh ru ngời ta vào cõi mê vô tận. Dạ đài chú ý diễn tả thứ âm nhạc huyền
diệu, Thơ chỉ cần bắt đ
ợc cái âm điệu khởi hành của một bài ca nào huyền mặc. Thơ Đinh Hùng phủ trùm
chúng ta bằng một khúc Lạc hồn ca (tên một phần thơ trong tập Mê hồn ca), đặc biệt vang ngân những âm điệu
của rừng (Hoa Sử v.v ). Thơ Đinh Hùng nhiều câu nhiều bài rất dễ nhớ, dễ thuộc vì có hồn nhạc trong đó.
4.3. Sự hài hoà trên cấp độ nhà thơ: Một số nhà thơ tiêu biểu nh Huy Cận, Lu Trọng L, Bích Khê,
Hàn Mặc Tử đều có những bài ảnh hởng Đờng thi và những bài ảnh hởng thơ tợng trng Pháp. Nhng sự
ảnh hởng đó là hài hoà với nhau chứ không hề phá vỡ chỉnh thể t tởng - nghệ thuật của tác giả. Trong luận
án chúng tôi tìm hiểu cả bốn nhà thơ trên, ở đây chỉ lấy Lu Trọng L làm ví dụ. Với Lu Trọng L, chúng
tôi xin phân tích sự hài hoà giữa thơ Đờng với thơ tợng trng Pháp qua hai tác phẩm Tiếng thu và Gió.
Tiếng thu có ảnh hởng thơ Đờng về mặt nghệ thuật nh tạo dựng các mối quan hệ, kết cấu theo kiểu đứt -
nối mà chúng tôi đã trình bày ở chơng 3. Gió thì có câu đề từ bằng thơ của P.Valéry.

Tiếng thu có một sức gợi tả tài hoa. Theo GS. Trần Đình Sử: Tiếng thu của Lu Trọng L gợi niềm rạo
rực, yêu đơng cha đợc thoả mãn - gợi tiếng kêu của bao kiếp lá lìa cành, gợi sự thổn thức phổ biến của
sự sống. Còn Gió thì, nói nh Mallarmé phải để cho ngời ta nhẩm đoán từng điểm một, đó là ám thị, là
mộng tởng. Lấy ý từ câu thơ của Valéry: Le vent se lève, il faut tenter de vivre (Gió thổi lên rồi, hãy
gắng mà sống), Gió ám chỉ một tác nhân, một kích thích để nhà thơ hoà mình vào cuộc đời rộng lớn, đừng
đứng cũi tâm hồn mình. Gió - một phần của tự nhiên - gợi những cơn bão táp, những đợt cuốn đi, gợi một
trạng thái động. Lu Trọng L rất có ý thức tự giác về vấn đề trực giác. Tiếng thu với những vấn thơ mơ
màng, mộng ảo đợc viết ra một cách tự nhiên, là một minh chứng. Rồi Gió, đâu là sự liên hệ lôgic giữa câu
trớc và sáu câu sau? Ngời đọc tự bổ sung để tìm ra hữu lý. Nhng không chỉ có vậy, cả Tiếng thu và Gió
còn dẫn dắt ta đi bằng khả năng linh thị của cảm giác cao siêu, của sự tổng hoà các giác quan. Nhà thơ có
khả năng thấu thị, đọc đợc, nghe đợc ngôn ngữ mơ hồ của thiên nhiên trong mối quan hệ giao ứng

với con ngời. Trực giác đã cho phép nhà thơ chan hoà vào khách thể thiên nhiên, xoá nhoà ranh giới chủ thể
và đối tợng mà biểu hiện cụ thể nhất, thiên nhiên chính là đề tài. Nhạc trong thơ Lu Trọng L không chỉ có
giầu mà còn huyền diệu, thi sĩ nghe thấy nhạc ở khắp nơi nơi. Tiếng thu nh biểu tợng của một hợp âm,
càng về cuối càng có tính chất trờng ngân (Nguyễn Thanh Hùng). Trong bài Gió, Lu Trọng L tạo nhạc
cho thơ bằng cách kết hợp hai cách gieo vần của thơ tợng trng Pháp, vần chân liên tiếp và vần chân gián
cách, khiến ta có cảm giác nh khi nghe một bản nhạc ngắn mà dồn dập.
4.4. Sự hài hoà trên cấp độ bài thơ: Sự hài hòa này thể hiện ở các bài thơ tiêu biểu nh: Nguyệt cầm
(Xuân Diệu), Thanh Siêu (Lu Kỳ Linh), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ), chúng có mối liên hệ cụ thể mang
tính thực chứng cả với thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp. Nhng chỉnh thể tác phẩm không bị phá vỡ, vì
chúng vẫn nhất quán theo những điểm tơng đồng giữa hai nguồn thơ đó. Trong luận án chúng tôi tìm hiểu cả
ba bài thơ trên. ở đây, chỉ lấy Nguyệt cầm của Xuân Diệu làm dẫn chứng. Nguyệt cầm rất gần gũi với thơ
tợng trng Pháp thế kỷ XIX trớc hết là điểm nhất mạnh vấn đề âm nhạc. ở đây là thứ âm nhạc có thể đáp
ứng một cách tối đa cho nhu cầu thuần khiết hoá, huyền bí hoá của chủ nghĩa tợng trng (Phơng Lựu). Bài
thơ có chịu ảnh hởng của Tỳ bà hành (Bạch C Dị), nhất là qua câu thơ Trăng nhớ Tầm Dơng nhạc nhớ
ngời. Trong toàn thi phẩm âm nhạc đợc gợi mang tính ám thị chứ không phải là tả nh Nguyễn Du tả
tiếng đàn Thúy Kiều và giao hoà tinh tế với tính trực giác, sự chan hoà chủ thể - đối tợng.
ở khổ một, bằng trực giác Xuân Diệu đã phát hiện ra mối quan hệ tơng giao giữa âm thanh và ánh
sáng nh trong bài thơ Tơng ứng của Baudelaire: Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh. Xuân Diệu tiếp tục
dùng trực giác khai thác quan hệ đồng nhất ở khổ thơ thứ hai: Mây vắng trời trong đêm thuỷ tinh Thực ra là
Xuân Diệu nói ánh trăng trong vắt nh thuỷ tinh. ánh trăng nh có linh hồn Linh lung bóng sáng bỗng rung
mình là dấu hiệu chan hoà chủ - khách thể. Thực ra là nhà thơ đang cảm động vì nghe câu hát, nghe tiếng đàn
nhng lại để bóng sáng thay mình làm chủ thể đặt đầu câu thơ vắt dòng có quan hệ từ chỉ nguyên nhân vì (Vì
nghe nơng tử trong câu hát).
Sự chan hoà chủ - khách thể càng rõ rệt khi trăng và nhạc nh hoá thân của thi
sĩ hoài niệm về cảnh trăng nớc Tầm Dơng trong Tỳ bà hành. Nhạc âm ở đây là nhạc âm mang tính biểu
tợng vì nó khơi dậy bao nhiêu vùng tiềm thức của ngời đọc.
Cuối bài thơ, âm nhạc - ánh sáng chan hoà
thành biển. Hai câu thơ cuối: Sơng bạc làm thinh, khuya nín thở, Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê chính là
thủ pháp miêu tả tiếng đàn theo kiểu dĩ tân tả chủ hoặc vô thanh thắng hữu thanhgián tiếp miêu tả cái hay
tuyệt vời của tiếng đàn phổ biến trong Đờng thi.

4.5. Tiểu kết: Với những điểm tơng đồng quan trọng nh tính gợi, tính ám thị; sự chan hoà chủ thể
và đối tợng; vấn đề trực giác phi lý tính; nhấn mạnh vấn đề âm nhạc, cả thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp
đã cùng nhau bớc vào thế giới nghệ thuật của Thơ Mới. Sự hài hoà giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp
trong sự tiếp thu của Thơ Mới Việt Nam không chỉ thể hiện ở cấp độ vĩ mô là toàn bộ trào lu Thơ Mới, mà
còn thể hiện ở cấp độ vi mô hơn là nhà thơ và bài thơ.
kết luận v kiến nghị
Trớc hết nghiên cứu đề tài Thơ Mới với thơ Đờng chúng tôi muốn góp phần khẳng định một quy
luật là văn học luôn phát triển trong mối quan hệ giao lu mà Thơ Mới là một ví dụ sinh động. Thơ Mới là sự
kết tụ tinh hoa của nhiều nền văn học, của Đông - Tây, kim - cổ, đặc biệt là thơ Đờng. Thơ Đờng
đã góp phần quan trọng làm nên sức quyến rũ của Thơ Mới. Thơ Mới đúng nh tên gọi của nó là tân kỳ, hiện
đại nhng vẫn nằm trong mỹ cảm truyền thống và tâm lý phơng Đông một phần vì có hồn Đờng thi trong
đó. Đề tài của chúng tôi cũng là sự vận dụng và chứng minh cho khả năng ứng dụng của lý thuyết Văn hoá so
sánh. Cụ thể ở đây, chúng tôi vận dụng hớng Nghiên cứu ảnh hởng của trờng phái Pháp, đặt trọng điểm ở
ngời thu (Nguồn gốc học), thực hiện một bớc tìm hiểu tổng hợp Thơ Mới đã tiếp thu đợc những gì từ
nội dung đến nghệ thuật của thơ Đờng; trong quá trình tiếp thu đó, họ đã bộc lộ tính chủ thể theo khuynh
hớng lãng mạn và bản lĩnh kết hợp tinh hoa văn học Đông - Tây nh thế nào?
1. Sự tiếp thu của Thơ Mới đối với thơ Đờng vừa trải ra trên diện rộng lại vừa đậm nhạt khác nhau
trong từng vấn đề. Diện mạo Đờng thi trong Thơ Mới vừa đợc nhận ra theo cách có thể quan sát đợc vừa
tiềm ẩn nh một vỉa ngầm không dễ khai thác. Xu hớng của chúng tôi là tập trung vào những vấn đề tiếp thu
có thể khảo chứng đợc của Thơ Mới đối với thơ Đờng để nhận thức rõ sự giao lu giữa hai nền văn học.
Chúng tôi đã cố gắng để luôn luôn nhìn song song trên hai đối tợng: Thơ Mới và thơ Đờng, không phải để
thấy sự khác biệt mà để thấy sự giống nhau, sự phản chiếu lẫn nhau. Trong đó, thơ Đờng vừa nh những
mảnh vỡ bị hút vào một từ trờng, một quỹ đạo vừa nh những mảnh giá trị đóng vai trò là hệ quy chiếu
bên trong. Thơ Mới không chỉ tiếp thu thơ Đờng trên một vài khía cạnh riêng lẻ mà tiếp thu trên nhiều mặt.
Chúng tôi đã mô tả diện mạo Đờng thi trong Thơ Mới theo từng mặt và ở mặt nào, bình diện nào cũng có
dấu vết của sự ảnh hởng. Đó là tiêu đề, đề từ, từ ngữ, hình ảnh cho đến câu thơ, liên thơ, khổ thơ, bài thơ,
nhà thơ. Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi tiếp đến những kết luận sâu sắc khác.
2. Thơ Đờng xâm nhập vào Thơ Mới một cách rộng rãi trớc hết là ở những cấp độ hình thức kể trên
với những biểu hiện có thể quan sát đợc. Mặt khác từ nhận thức đó, chúng ta phải thấy đợc sự tiếp thu có
chọn lựa của Thơ Mới đối với thơ Đờng về mặt nội dung. Đề cập đến vấn đề này có ý nghĩa giúp ta nhận

biết đợc sự gặp gỡ những nguồn mạch cảm hứng cũng nh bề rộng và chiều sâu của sự ảnh hởng nhất là sự
khác biệt giữa Thơ Mới với ông cha trong việc tiếp thu thơ Đờng. Cùng chung một đối tợng nhng mỗi chủ
thể lại có cách tiếp thu khác nhau. Các nhà thơ của dân tộc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát v.v
đã tiếp thu thơ Đờng một cách toàn diện hơn ai hết, nhất là đối với những giá trị nhân văn cao đẹp trong thơ
Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch C Dị v.vĐến Thơ Mới thì sự tiếp thu đó đã thay đổi theo khuynh hớng sáng tác
lãng mạn chủ nghĩa trong một giai đoạn lịch sử đặc thù. Thơ Mới cũng đã tiếp thu thơ Đờng song về nội
dung chỉ tập trung vào một số khía cạnh cơ bản nh nỗi niềm biệt ly - cô đơn, cảm xúc thoát tục, đồng cảm
với thân phận bị vùi dập của kiếp đời ca kỹ. Tóm lại chỉ là những gì phù hợp với cái Tôi lãng mạn, cái Tôi cá
nhân cô đơn, buồn bã. Bao nhiêu bài thơ Đờng thể hiện niềm u ái đối với vận mệnh nhân dân, có nội dung
hiện thực, ý nghĩa xã hội sâu sắc v.vđã không đợc Thơ Mới tiếp thu. Và ngay ở những chỗ tiếp thu, Thơ
Mới cũng cha chứng tỏ đợc chiều sâu cần thiết. Chẳng hạn nh ở chỗ Thơ Mới đã không kết tụ đợc với
những giá trị quý báu trong cái nhìn hiện thực sâu sắc và tấm lòng nhân đạo cao cả trong khi tiếp thu Tỳ bà
hành
của Bạch C Dị. Thậm chí Thơ Mới còn làm biến dạng đi một số hình ảnh đẹp của thơ Đờng và
khoách cho nó một sắc mầu tiêu cực. Có thể nói Thơ Mới một mặt đã lựa chọn tiếp thu những điệu tâm hồn
giàu chất thơ của Đờng thi, họ đã bắt gặp một cái gì rất quen thuộc với mình, nh
ng mặt khác lại xa rời với
những giá trị nhân văn sâu rộng của thơ Đờng. Tuy đó là sự chủ động trong tiếp nhận văn học nhng thực sự
đã không tránh khỏi những điểm còn giới hạn.
3. Việc tiếp thu của Thơ Mới đối với thơ Đờng về mặt nghệ thuật, cụ thể là thi pháp và thể thơ lại
cho thấy tính chất mâu thuẫn, phức tạp trong cái gọi là cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và thơ mới. Nó sẽ giúp ta
nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và chính xác hơn. Đúng nh Hoài Thanh đã nói một bên giành quyền
sống, một bên giữ quyền sống và cuối cùng hồn thơ Đờng vắng đã lâu nay lại trở về trong Thơ Việt (Thi
nhân Việt Nam). Thơ Mới đã đóng vai trò quyết định trong công cuộc hiện đại hoá thơ ca Việt Nam song những
đặc trng thi pháp của thơ Đờng vẫn tiếp tục đợc sử dụng nh nhận thức thế giới khách quan bằng việc tạo
dựng các mối quan hệ, bút pháp chấm phá, gợi tả theo lối họa vân hiển nguyệt, cấu trúc cú pháp tỉnh lợc. Và
giữa những vần thơ tự do theo đúng nghĩa của nó vẫn có mặt những bài thơ cổ viết theo thể cổ phong, Đờng
luật (với số lợng không phải là ít), thể phú Đờng luật và một số thể thơ đặc biệt. Ta vẫn gọi đó là Thơ Mới.
Lúc này, cái mới chỉ hớng đến tiêu chí về mặt nội dung. Thơ Đờng đã cắm rễ rất sâu trong lòng bạn đọc
Việt Nam và nhiều nhà Thơ Mới đã chứng minh tình yêu của mình đối với di sản văn học quý báu mà ngời

Trung Quốc đã cống hiến cho nhân loại. Nh vậy cuộc duy tân của phong trào Thơ Mới không loại trừ khía
cạnh phục hng những giá trị cổ điển vốn cũng là bản chất của bất cứ một hiện tợng văn học nào.
4. Ngoài việc tiếp thu thơ Đờng, Thơ Mới đồng thời cũng tiếp thu thơ tợng trng Pháp thế kỷ XIX
nhng hai nguồn ảnh hởng này lại rất hài hoà với nhau. Nguyên nhân chính là về lý thuyết lẫn thực tiễn sáng
tác, thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp có những điểm tơng đồng nh tính gợi, tính ám thị; nhấn mạnh vai
trò của trực giác; sự chan hoà chủ thể và đối tợng; nhấn mạnh vấn đề âm nhạc. Sự hài hoà này đều thể hiện
trên các cấp độ nh trào lu, nhà thơ, bài thơ. ở cấp độ trào lu, đại diện cho dòng ảnh hởng Đờng thi là
Quách Tấn, đại diện cho dòng ảnh hởng thơ tợng trng Pháp là
Xuân thu nhã tập, Dạ đài
(nói chung),
Đinh Hùng ( nói riêng). Sự giao hoà giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp thể hiện trong cả quan niệm
nghệ thuật lẫn sáng tác của họ. ở cấp độ nhà thơ, các thi sĩ tiêu biểu nh Huy Cận, Lu Trọng L, Bích Khê,
Hàn Mặc Tử đều có bài thiên về ảnh hởng Đờng thi và có bài thiên về ảnh hởng thơ tợng trng Pháp
nhng cả hai loại ấy đều có những điểm tơng đồng với nhau. ở cấp độ bài thơ, các tác phẩm tiêu biểu nh
Nguyệt cầm, Thanh Siêu (Lu Kỳ Linh), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ) đều có mối liên hệ với cả thơ
Đờng và thơ tợng trng Pháp, đều thống nhất với nhau ở những điểm tơng đồng nói trên. Qua mỗi cấp độ,
sự hài hoà giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp ngày càng trở nên cụ thể, chi tiết. Tóm lại, ở mỗi cấp độ đều
có thể tìm ra dấu hiệu của hai nguồn ảnh hởng mang tính thực chứng và sâu sắc hơn là nó thể hiện sự hài hoà
trên những điểm tơng đồng. Tuy có nhiều cấp độ, nhng sự chứng giải ở đây đều thể hiện qua những chỉnh thể
hữu cơ chứ không phải là tản mác. Tất cả đều liên kết với nhau và thể hiện đợc tính hệ thống của vấn đề.
Dù có tiếp thu thơ Đờng sâu rộng, ảnh hởng của thơ tợng tr
ng Pháp cũng sâu sắc thì ta vẫn có
thể tự hào Thơ Mới và thơ của dân tộc, một hiện tợng thơ ca độc đáo, kết tinh nhiều thành tựu quý báu. Bởi
vì nhìn một cách toàn diện trên cả phong trào Thơ Mới và khối lợng tác phẩm đồ sộ, hàng ngàn tác phẩm
của trên 80 tác giả, những gì mà Thơ Mới tiếp thu từ văn học nớc ngoài chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với sức sáng
tạo dồi dào của các thi sĩ. Thơ Mới mặc dù có ảnh hởng nớc ngoài nhng ta vẫn có thể khẳng định nói
giống nhau thì rất giống nhau mà nói khác nhau thì cũng rất khác nhau (Trần Thanh Đạm).
Đề tài Sự tiếp thu Thơ Mới đối với thơ Đờng hay nói cách khác là ảnh hởng của thơ Đờng đối với
Thơ Mới đòi hỏi rất nhiều công phu nghiên cứu và h`ơn thế nữa là một mối quan hệ liên ngành. Chẳng hạn, nó
cần thiết có đợc sự hỗ trợ đắc lực của chuyên ngành Văn bản học trong việc kiểm chứng những mối liên hệ

đích thực giúp ta có cái nhìn vấn đề một cách chính xác hơn. Chúng tôi không có tham vọng khép lại vấn đề ở
đây trên những phơng diện đã đợc trình bày. Với những lý do khách quan và chủ quan, công trình này có thể
còn thiếu sót, hạn chế. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục đợc đi sâu và mở rộng đề tài nghiên cứu bổ ích này trong
một thời gian không xa.
* * *
Chúng tôi không có kiến nghị gì cụ thể, nhng ở đây cũng xin tự đề xuất hớng nghiên cứu tiếp nh sau.
Không chỉ có Thơ Mới, thơ cổ điển và thơ ca Việt Nam nửa sau thế kỷ XX cũng tiếp thu thơ Đờng,
song cơ chế ảnh hởng và hiệu quả tiếp thu có gì giống và khác nhau? Một việc làm cũng rất cần thiết đó là
so sánh việc tiếp thu thơ Đờng giữa Thơ Mới với thơ cổ điển và thơ ca hiện đại Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.
Trong điều kiện cho phép, sự giao lu văn hoá, văn học ngày càng phát triển, chúng tôi sẽ liên hệ với
việc tiếp thu thơ Đờng trong thơ ca thế giới, nhất là các nớc đồng văn nh Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản./.



Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học s phạm H Nội




Lê Thị Anh




thơ mới với thơ đờng


Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62.22.32.01





Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn




Ngời hớng dẫn khoa học:
1. GS.TSKH Bùi Văn Ban
2. PGS. TS. Lê Lu Oanh





Hà Nội - 2006


Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học s phạm H Nội





Lê Thị Anh






thơ mới với thơ đờng



Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62.22.32.01






Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn










Hà Nội - 2006

Công trình đợc hoàn thành tại:
Tổ bộ môn lý luận văn học

Khoa Ngữ văn Trờng Đại học S phạm H Nội


Ngời hớng dẫn khoa học:
1. GS. TSKH Bùi Văn Ba
Trờng Đại học S phạm Hà Nội
2. PGS.TS Lê Lu Oanh
Trờng Đại học S phạm Hà Nội

Phản biện 1: GS. Phan Cự Đệ
Trờng Đại học KHXH và NV- Đại học Quốc gia Hà Nội Phản
biện 2: GS. Hà Minh Đức
Viện Văn học
Phản biện 3: GS.TS. Trần Văn Bính
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp nhà nớc
Họp tại Trờng Đại học S phạm Hà Nội

Vào hồi: giờ. ngày.tháng.năm 2006.

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Quốc gia Hà Nội
- Th viện trờng Đại học S phạm Hà Nội.
Công trình đợc hoàn thành tại:
Khoa Ngữ văn- Đại học s phạm Hà Nội




Ngời hớng dẫn khoa học:

1. GS. TSKH Bùi Văn Ba
2. PGS. TS Lê Lu Oanh

Phản biện 1:.
Phản biện 2:.
Phản biện 3:



Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc họp tại:

Vào hồi: ngày .tháng năm





Có thể tìm hiểu luận án tại các th viện:


.




DANH MụC CÔNG TRìNH liên quan đến đề ti luận án

1. (2002), Góp phần chứng giải sự tiếp thu nhiều mặt của Thơ Mới đối với thơ
Đờng, Tạp chí Khoa học, Đại học s phạm Hà Nội, (2), tr.9 - 15.
2. (2005) Vẻ đẹp hài hoà giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp trong

Nguyệt cầm của Xuân Diệu, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, (6), tr.6 -9.
3.
(2005), Đi tìm ý nghĩa hàm ngôn trong thi phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn
Mặc Tử, báo Giáo dục và thời đại, (81), tr.9.
4.
(2005), Sự tiếp nhận thể Đờng luật trong Thơ Mới, tạp chí Văn hoá nghệ
thuật, (7), tr.77-82.
5. (2005), Thơ Đờng hài hoà với thơ tợng trng Pháp trong sự tiếp thu của
Thơ Mới Việt Nam, tạp chí Văn nghệ công nhân, (32), tr.104 116.
6. (2005), Một ý niệm đẹp và độc đáo về thời gian của Đoàn Phú Tứ, tạp chí
Ngôn ngữ và đời sống, (10), tr.18-19.
7. (2005), Những nội dung tiếp thu cơ bản của Thơ Mới đối với thơ Đờng,
Tạp chí Khoa học, Đại học s phạm Hà Nội, (5), tr. 22 - 26.
8. (2005), Sự tiếp thu về mặt thi pháp của Thơ Mới đối với thơ Đờng, tạp
chí Nghiên cứu văn học, (11), tr. 110 - 122.
9. (2005), Sự giao hoà giữa chất liệu Đờng thi và thơ tợng trng Pháp trong
Thơ Mới Việt Nam, tạp chí Nhà văn, (12), tr.47 - 56.
10.
(2005), Âm hởng Đờng thi trong Thơ Mới, in chung trong Văn học so
sánh nghiên cứu và triển vọng, Nxb Đại học s phạm, Hà Nội, tr. 283 288.


Danh mục công trình liên quan đến đề ti luận án

1. Lê Thị Anh (2002), Góp phần chứng giải sự tiếp thu nhiều mặt của Thơ Mới
đối với thơ Đờng, Tạp chí Khoa học, Đại học s phạm Hà Nội, (2), tr.9 - 15.
2. Lê Thị Anh (2005), Vẻ đẹp hài hoà giữa thơ Đờng và thơ tợng trng Pháp
trong Nguyệt cầm của Xuân Diệu, tạp chí Văn học và tuổi trẻ, (6), tr.6 -9.
3.
Lê Thị Anh (2005), Đi tìm ý nghĩa hàm ngôn trong thi phẩm Đây Thôn Vĩ Dạ

của Hàn Mặc Tử, báo Giáo dục và thời đại, (81), tr.9.
4.
Lê Thị Anh (2005), Sự tiếp nhận thể Đờng luật trong Thơ Mới, tạp chí Văn
hoá nghệ thuật, (7), tr.77-82.
5. Lê Thị Anh (2005), Thơ Đờng hài hoà với thơ tợng trng Pháp trong sự tiếp
thu của Thơ Mới Việt Nam, tạp chí Văn nghệ công nhân, (32), tr.104 116.
6. Lê Thị Anh (2005), Một ý niệm đẹp và độc đáo về thời gian của Đoàn Phú
Tứ, tạp chí
Ngôn ngữ và đời sống
, (10), tr.18-19.
7. Lê Thị Anh (2005), Những nội dung tiếp thu cơ bản của Thơ Mới đối với thơ
Đờng, Tạp chí Khoa học, Đại học s phạm Hà Nội, (5), tr. 22 - 26.
8. Lê Thị Anh (2005), Sự tiếp thu về mặt thi pháp của Thơ Mới đối với thơ
Đờng, tạp chí Nghiên cứu văn học, (11), tr. 110 - 122.
9. Lê Thị Anh (2005), Sự giao hoà giữa chất liệu Đờng thi và thơ tợng trng
Pháp trong Thơ Mới Việt Nam, tạp chí
Nhà văn,
(12), tr.47 - 56.
10. Lê Thị Anh (2005), Âm hởng Đờng thi trong Thơ Mới, in chung trong
Văn học so sánh nghiên cứu và triển vọng, Nxb Đại học s phạm Hà Nội, tr.
283 288.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×