Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Những bất cập của giáo dục đại học ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 33 trang )

Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
I. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

3
1. Khái niệm về giáo dục đại học 3
2. Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển của quốc gia 3
2.1. Vai trò của giáo dục đại học tới chất lượng nguồn nhân lực 3
2.2. Vai trò của giáo dục đại học đối với sự tăng trưởng kinh tế 3
2.3. Vai trò của giáo dục đại học với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5
2.4. Vai trò của giáo dục đại học đối với các vấn đề xã hội 7
II. NHỮNG BẤT CẬP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

8
1. Những bất cập còn tồn tại trong giáo dục đại học ở Việt Nam 8
1.1.Dưới góc độ phát triển chiều rộng: phổ cập giáo dục đại học và sự tăng trưởng tri thức 8
1.2. Phát triển chiều sâu: vấn đề chất lượng đào tạo 10
2. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam đến
nguồn vốn nhân lực trong nước và sự phát triển kinh tế xã hội 12
2.1. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến nguồn vốn nhân lực trong nước 13
2.2. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến sự phát triển kinh tế xã hội 16
3. Nguyên nhân của những bất cập trong giáo dục đại học ở Việt
Nam 25
3.1. Về phía Nhà nước: 25
3.2. Về phía các trường Đại học 27
III. GIẢI PHÁP CHO NHỮNG BẤT CẬP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC Ở VIỆT NAM


28
1. Về phía Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo 28
2. Về phía các trường đại học, học viện 29
KẾT LUẬN 31
1
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế Việt Nam đã có một sự
chuyển mình mạnh mẽ. GDP tăng với tốc độ cao, môi trường kinh doanh
thuận lợi thu hút được nhiều đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trong
một hai năm trở lại đây, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh
tế Việt Nam phát triển chậm lại. Điều này đặt ra vấn đề báo động về sự
phát triển bền vững của quốc gia mà yếu tố then chốt nhất của sự phát triển
đó là chất lượng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao.
Xuất phát từ đó, bài tiểu luận này tập trung xoay quanh một vấn đề quan
trọng, quyết định trực tiếp tới chất lượng vốn nhân lực và gián tiếp ảnh
hưởng tới sự phát triển của quốc gia: “Những bất cập của giáo dục đại
học ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam.”
Bài tiểu luận được xây dựng dựa trên góc nhìn của lý thuyết kinh tế
phát triển nên ngoài việc đưa ra những bất cập trong nội tại nền giáo dục
đại học sẽ phân tích sâu về ảnh hưởng của những bất cập này tới sự phát
triển của Việt Nam thể hiện ở: tăng trưởng kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và các vấn đề cơ bản của xã hội như bình đẳng, bảo vệ môi
trường… Do sự tác động của giáo dục đại học tới các nhân tố phát triển đều
thông qua chất lượng nguồn nhân lực nên bài viết dành một phần riêng để
tập trung phân tích tác động của giáo dục đại học tới chất lượng nguồn
nhân lực Việt Nam. Quan trọng hơn, thông qua việc phân tích các nguyên
nhân gây nên những bất cập của giáo dục Việt Nam, một số giải pháp sẽ
được đưa ra nhằm thúc đẩy nền giáo dục Việt Nam nói riêng, chất lượng
vốn nhân lực nói chung và qua đó, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia.


2
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
I. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1. Khái niệm về giáo dục đại học
Đại học được định nghĩa là một tổ chức dành cho giáo dục bậc cao
và nghiên cứu, cấp các bằng cấp hàn lâm cho nhiều ngành học đa dạng. Từ
“đại học” trong tiếng Anh (university) có nguồn gốc từ cụm từ Latin
“universitas magistrorum et scholarium”, có thể tạm dịch là “cộng đồng
của các giáo viên và học giả”. Trong tiếng Việt, từ “đại học” có nguồn gốc
Hán-Việt, có thể hiểu là “học vấn uyên bác, tinh sâu” hay “bậc học cao
nhất”. Những định nghĩa này phần nào nói lên khái niệm của giáo dục bậc
đại học.
2. Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển của quốc
gia
2.1. Vai trò của giáo dục đại học tới chất lượng nguồn nhân lực
Giáo dục đại học hình thành được ở con người những phẩm chất và
năng lực để đáp ứng yêu cầu của thời đại, hướng cho họ khả năng chịu
đựng các ảnh hưởng phức tạp và khả năng tiếp nhận các giá trị tri thức
uyên bác. Trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức, thì vai trò của chất
xám ngày càng trở nên quan trọng và quyết định trực tiếp tới chất lượng
của nguồn nhân lực.
2.2. Vai trò của giáo dục đại học đối với sự tăng trưởng kinh tế
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng có vai trò quan trọng
đối với tăng trưởng kinh tế bởi giáo dục đại học trau dồi kĩ năng nghề
nghiệp cho người lao động, từ đó quyết định trực tiếp đến chất lượng lao
3
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
động. Chất lượng lao động đến lượt nó lại tác động mạnh mẽ đến năng suất
lao động và đầu tư, các động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

2.2.1. Giáo dục đại học có vai trò tiên quyết đối với năng suất lao động và
thu nhập
Bốn nhân tố quyết định năng suất lao động là vốn nhân lực, nguồn tài
nguyên, tư bản và công nghệ. Trong đó vốn nhân lực hay chất lượng đầu
vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động
là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất lao động. Hầu hết các yếu tố
khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay
mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự. Các
yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có
thể phát huy tối đa hiệu quả nếu có đội ngũ lao động có trình độ văn hóa,
sức khỏe và kỷ luật lao động tốt. Thêm vào đó, vốn nhân lực được tích luỹ
dần từ các chương trình giáo dục qua các cấp từ mẫu giáo, tiểu học, trung
học, lên đại học - cao đẳng và qua công việc. Trong chuỗi đó giáo dục bậc
đại học - cao đẳng đóng vai trò quan trọng nhất vì đây là giai đoạn con
người được phát triển toàn diện về cả thể lực lẫn trí lực. Vì vậy có thể
khẳng định rằng giáo dục đại học có vai trò tiên quyết đối với năng suất lao
động.
Mặt khác, giáo dục đại học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập.
Các nước phát triển như Mỹ, Nhật, các nước thuộc khối EU có thu nhập
tính trên đầu người cao gấp nhiều lần so với các nước đang phát triển.
Nguyên nhân trực tiếp của thực tế này là do tác động của năng suất lao
động cao, và nguyên nhân sâu sa là do sự khác biệt trong chất lượng giáo
dục, nhất là giáo dục ở bậc đại học.
2.2.2. Giáo dục đại học ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư và thu hút đầu

4
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả đầu tư và thu hút đầu
tư là chất lượng nguồn nhân lực. Cùng với sự phát triển không ngừng của
công nghệ là sự đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng lao động. Hiệu quả

đầu tư, nhất là của các dự án đòi hỏi đầu tư lớn thuộc các ngành công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng phụ thuộc phần nhiều vào trình
độ và khả năng tiếp thu công nghệ của đội ngũ lao động. Khả năng tiếp thu
công nghệ và khoa học kĩ thuật đó được quyết định phần lớn bởi giáo dục
đại học - cao đẳng.
Về phương diện thu hút đầu tư nước ngoài, để tiết kiệm chi phí về thời
gian và tài chính đào tạo nhân công, trình độ của lao động là một trong các
yếu tố đầu tiên mà các chủ đầu tư thường cân nhắc khi lựa chọn nơi đầu tư.
Điều này đồng nghĩa với việc nơi nào có giáo dục đại học - cao đẳng phát
triển thì nơi nó sẽ thu hút đầu tư mạnh.
2.3. Vai trò của giáo dục đại học với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trước tiên, cần phải khẳng định rõ giáo dục đại học đóng vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì chính trường đại
học là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho toàn bộ nền kinh tế,
từ đó dẫn đến sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế.
2.3.1 Vai trò của giáo dục đại học với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
và nội bộ từng ngành
Giáo dục đại học đóng vai trò chủ chốt trong việc làm gia tăng chất
lượng đội ngũ lao động. Khi nguồn nhân lực này nắm trong tay tri thức, có
khả năng làm chủ khoa học công nghệ thì chính họ sẽ góp phần tạo nên sự
thay đổi trong cơ cấu kinh tế, từ đó dẫn tới sự phát triển kinh tế. Cùng với
sự gia tăng của chất lượng lao động, tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm đi
5
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
nhiều, đồng thời tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên đáng
kể, đặc biệt là ở các nước phát triển - các nước có nền giáo dục tiên tiến.
Đồng thời, trong nội bộ các ngành kinh tế cũng có sự chuyển biến rõ
rệt. Lực lượng lao động với kĩ năng nghề nghiệp được đào tạo tốt trong
trường đại học chính là những người sẽ tìm tòi áp dụng khoa học kĩ thuật
vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy đổi mới và hiện đại hoá các

ngành kinh tế. Sự gia tăng chất lượng lao động dẫn đến sự chuyển dịch từ
các ngành công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều sức lao động sang các ngành
công nghệ cao, có kỹ thuật hiện đại trong từng nội bộ các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
2.3.2. Vai trò của giáo dục đại học với chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế
Thông qua tác động tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thì giáo dục
đại học cũng có tác động không nhỏ tới việc chuyển dịch cơ cấu vùng kinh
tế. Số người lao động trong nông nghiệp và các ngành nghề thô sơ giảm
dần, đời sống của người lao động được nâng cao, tỉ lệ dân thành thị ngày
càng tăng một phần do dân nông thôn chuyển ra thành thị làm việc và một
phần khác do tỉ lệ đô thị hoá ngày càng tăng. Khi công nghiệp phát triển thì
diện tích đất nông nghiệp cũng giảm dần nhường chỗ cho các nhà máy, xí
nghiệp. Các khu công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp này sẽ thúc đẩy kinh
tế khu vực đó phát triển và dần dần tạo nên xung quanh nó một khu đô thị
mới. Vì thế, có thể khẳng định rằng một khi thực hiện tốt việc đào tạo
nguồn nhân lực đặc biệt ở bậc đại học thì việc chuyển dịch cơ cấu vùng
kinh tế sẽ diễn ra nhanh chóng và theo chiều hướng tích cực.
2.3.3. Vai trò của giáo dục đại học với chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Thêm vào đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng
của giáo dục đại học đối với việc chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế.
6
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Trường đại học chính là nơi người lao động trau dồi tri thức, kĩ năng nghề
nghiệp, nơi họ khám phá và thể hiện khả năng sáng tạo, khả năng tư duy
của bản thân. Vì thế, đại học sẽ thúc đẩy thành phần kinh tế tư nhân phát
triển mạnh mẽ, từ đó dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế từ
kinh tế nhà nước sang kinh tế tư nhân. Trong thời đại ngày nay, sự năng
động và hiệu quả của thành phần kinh tế tư nhân ngày càng trở nên quan
trọng với khả năng đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm quốc dân.
2.4. Vai trò của giáo dục đại học đối với các vấn đề xã hội

Giáo dục đại học góp phần nâng cao trình độ, giúp những người lao
động có khả năng tìm kiếm những công việc đem đến mức thu nhập cao
hơn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Như vậy, giáo dục đại học chính
là nhân tố quan trọng làm gia tăng chỉ số phát triển con người (HDI) của
một quốc gia.
Giáo dục đại học cũng góp phần nâng cao nhận thức của người dân về
môi trường. Một quốc gia có trình độ dân trí phát triển đồng nghĩa với vấn
đề bảo vệ môi trường sẽ được chú trọng nhiều hơn so với các quốc gia trình
độ dân trí thấp. Bên cạnh đó, sự phát triển của giáo dục đại học còn góp
phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học – công nghệ. Đội ngũ lao động
với trình độ tay nghề cao và khả năng đổi mới tư duy, sáng tạo sẽ cho ra
đời những cách thức sản xuất mới vừa đáp ứng hiệu quả kinh tế vừa góp
phần bảo vệ môi trường.
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng còn là nhân tố quan
trọng giúp san lấp khoảng cách về giới tính. Cơ hội được hưởng mức giáo
dục cao và làm việc trong các ngành nghề quan trọng đã khiến nữ giới ngày
càng trở nên bình đẳng với nam giới. Ngoài ra, trình độ dân trí cao cũng
nâng cao nhận thức của con người về vấn đề bình đẳng giới, đem đến cho
phụ nữ nhiều cơ hội phát triển và khẳng định bản thân mình hơn.
7
0
20
40
60
80
100
120
Primary GER Secondary GER Tertiary GER
1990
2002

2004
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
II. NHỮNG BẤT CẬP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT
NAM
Giáo dục nói chung và gíáo dục đại học nói riêng là một trong những
ưu tiên hàng đầu trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của
Việt Nam. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục đại
học đã đạt được rất nhiều những thành tựu dáng kể, tuy nhiên đi cùng với
nó lại là những bất cập cần phải giải quyết.
1. Những bất cập còn tồn tại trong giáo dục đại học ở Việt
Nam
1.1.Dưới góc độ phát triển chiều rộng: phổ cập giáo dục đại học và sự
tăng trưởng tri thức
Xét về việc phổ cập đại học, bên cạnh những con số khá ấn tượng về tỉ
lệ số người biết chữ, tỉ lệ phổ cập giáo dục tiểu học, trung học, số lượng
sinh viên vào đại học trong tổng số người đang ở độ tuổi học đại học là rất
thấp. Năm 2004, tỷ lệ sinh viên đỗ đại học ở Việt Nam chỉ là 16%, trong
khi con số này ở Trung Quốc và In-đô-nê-xia là 17%-19%, còn ở Thái-lan
là 43% (Theo Báo cáo Lựa chọn thành công - Chương trình Việt Nam tại
Havard).
8
Tỉ lệ đầu vào các cấp ở Việt Nam qua các năm
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Bên cạnh đó, một thực tế là giáo dục Việt Nam chưa cung cấp một cơ
hội công bằng cho tất cả những người có năng lực được hưởng giáo dục đại
học, nâng cao trình độ và có được cơ hội tìm kiếm công việc với thu nhập
cao. Điều này thể hiện ở tình trạng những người xuất thân từ gia đình có
thu nhập cao thì khả năng tiếp cận với giáo dục đại học cao hơn những
người đến từ gia đình có thu nhập thấp. Mặc dù học phí đại học và chi phí

sinh hoạt tại Việt Nam được đánh giá là thấp so với nhiều nước trên thế
giới và trong khu vực, đây vẫn là một chi phí đáng kể đối với những gia
đình ở nông thôn muốn cho con theo học đại học tại thành phố. Nhiều
người tuy đã thi đỗ đại học nhưng không trang trải được chi phí đã phải bỏ
giữa chừng. Trong khi đó, nhiều sinh viên xuất thân từ gia đình khá giả có
học lực kém nhưng vẫn khá dễ dàng có được vị trí trong các trường đại học
tư nhân, hệ mở rộng hay thậm chí là ra nước ngoài du học.
Cơ cấu đầu vào đại học tại Việt Nam theo thu nhập năm 2004
9
Tỉ lệ đầu vào đại học giữa các quốc gia, 2004
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Xét về việc gia tăng tri thức, qua thống kê các công trình nghiên
cứu trên tạp chí khoa học chuyên ngành sẽ thấy bức tranh đáng ngại của
giáo dục đại học. Chỉ so với các quốc gia châu Á, sự tụt hậu của VN cũng
đã thể hiện rõ. Theo nguồn Scientific Citation Index Expanded, tổng cộng
số bài trên tạp chí khoa học chuyên ngành của cả hai ĐHQG VN đến thời
điểm này chỉ là 52 bài, trong đó của Viện Khoa học và công nghệ VN là 44
bài. Trong khi chỉ riêng ĐHQG Seoul (Hàn Quốc), số bài đăng lên đến
5.060 bài, ĐH Bắc Kinh có hơn 3.200 bài, ĐHQG Singapore (NUS) có
3.598 bài, ĐH Chulalongkon của Thái Lan được 822 bài.
So sánh chỉ số đổi mới thông qua số bằng sáng chế còn thấy “tủi thân”
hơn. Trong năm 2006, Hàn Quốc được cấp 102.633 bằng, Trung Quốc có
26.292 bằng. Các nước Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan, Malaysia,
Philippines đều có từ hàng chục đến hàng trăm bằng sáng chế. Nhưng VN
lại chẳng có công trình sáng chế nào được cấp bằng vào năm 2006.
1.2. Phát triển chiều sâu: vấn đề chất lượng đào tạo
Xét về tổng quan chất lượng hệ thống đào tạo: Hàng năm, có thêm
rất nhiều cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ, nhưng trong thực tế, họ không có những
kiến thức tương xứng với những văn bằng đã được cấp. Theo nghiên cứu
của một tổ chức quốc tế thì Việt Nam thuộc nước đứng đầu trong khu vực

về tỷ lệ giáo sư, tiến sỹ nhưng lại đứng thấp nhất về trình độ ngoại ngữ,
10
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
khoa học và công nghệ. Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối,
rối loạn trầm trọng giữa cao đẳng, đại học, giữa công lập và tư thục, giữa
chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, v.v tất cả làm thành một hệ thống
rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi
đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, hơn là quan tâm đến lợi ích cơ
bản và lâu dài của cộng đồng.
Xét về chương trình giảng dạy đại học, nội dung và phương pháp
giáo dục thể hiện xu hướng học lạc hậu, dành nhiều thời gian học thuộc
lòng mà bỏ qua thực qua hành, coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản cho
cả xã hội và cho từng cá nhân như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng
lực tư duy, khả năng cảm thụ. Chương trình học “ôm đồm”, không dành
quyền lựa chọn cho người học: Thời gian học đại học 4 năm ở Việt Nam là
2.183 giờ (ở Mỹ là 1.380 giờ). Ngoài ra, có thể nhận thấy, chương trình đào
tạo đại học ở Việt Nam không hẳn là nghề, cũng không hẳn là đào tạo để có
kiến thức sâu và tính sáng tạo. Ví dụ, Chương trình đào tạo đại học kinh tế
ở Việt Nam (Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh) đòi hỏi 1.451 giờ học kinh
tế (ở Mỹ chỉ 480 giờ). Sinh viên Việt Nam trong 4 năm phải học gần như
tất cả mọi thứ về kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra, nên không có khả
năng hoặc thời gian đi sâu vào bất cứ vấn đề gì.
Ian Lydall, nhân viên quản lý của Công ty tư vấn và kiểm toán
Pricewaterhouse Coopers Việt Nam cho rằng: " Những trường đại học tốt
hơn đang tạo ra những con người có trình độ tiếng Anh, nhạy bén và hiểu
được lợi ích từ việc học lên trình độ cao hơn. Nhưng xét về khả năng công
nghệ, họ lại không được dạy hoặc đào tạo theo cách thường thấy ở phương
Tây. Cũng là những nội dung đó nhưng ở Việt Nam, sinh viên không đạt
đến được cùng mức độ sâu sắc như vậy." Những chuẩn mực trong giảng
dạy và rất nhiều môn học đều không hiện đại bằng các trường đại học hay

11
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
học viện ở các nước châu Á như Singapore, Malaysia hoặc những trường
hàng đầu của Trung Quốc, Ấn Độ.
Xét về đội ngũ giảng viên cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho việc
giảng dạy: Cả hai nhân tố vẫn còn nhiều yếu kém, do đó chưa đáp ứng
được nhu cầu học tập của sinh viên. Thực tế cho thấy rằng có một tỷ lệ
không nhỏ các thầy cô giáo chỉ dạy lý thuyết mà nhiều lý thuyết lại đã lỗi
thời, lạc hậu, có từ những năm 70 của thế kỷ trước. Chỉ có một số lượng rất
ít giáo viên đưa thực tế vào minh chứng cho lý thuyết mà họ cung cấp cho
sinh viên, tập trung chủ yếu ở các giáo viên mới được đào tạo ở nước ngoài
về hoặc ở các trường có các chương trình tiên tiến, các khóa học liên kết
với nước ngoài hoặc ở các trường kỹ thuật, công nghệ
Các phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất khác đều trong tình trạng hoặc
quá thừa thãi hoặc không có gì hoặc đã hư hại, hỏng hóc, khiến cho sinh
viên gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận hoặc thực hành các môn khoa học,
kỹ thuật và các lĩnh vực khác. Lấy ví dụ về các trường đại học kỹ thuật,
thực tế ở nước ta, chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay về các trường có gần đủ
các phương tiện thực tập như Đại học Bách khoa hay Xây dựng. Còn một
số trường khác như Đại học Công nghiệp Hà Nội hay khá hơn như Đại học
Giao thông Vận tải vẫn ở tình trạng nghèo nàn về cơ sở vật chất và trang bị
kỹ thuật.
2. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam
đến nguồn vốn nhân lực trong nước và sự phát triển kinh tế
xã hội
Giáo dục đại học có trách nhiệm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng
cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu cuộc sống và của
12
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
công cuộc đổi mới, hội nhập. Vậy trên thực tế, giáo dục đại học ở Việt

Nam đã thực hiện nhiệm vụ này ở mức độ nào?
Như những phân tích ở phần trên, thực trạng giáo dục đại học ở Việt
Nam tuy đã có nhiều nỗ lực cải thiện những vẫn chứa đựng nhiều vấn đề
bất cập. Điều này tác động trực tiếp trước nhất là đến số lượng cũng như
chất lượng nguồn vốn nhân lực trong nước, từ đó ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Đây cũng chính là nội dung trình
bày trong phần 2.
2.1. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến nguồn
vốn nhân lực trong nước
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, chính sách đổi mới và kinh tế thị
trường đã thổi một luồng gió mới, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, kéo theo sự gia tăng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao trên
thị trường lao động Việt Nam. Vì thế mà sức ép trong ngành cung ứng lao
động đang ngày càng tăng lên cả về lượng và chất. Trong khi đó, có thể
thấy rằng nền giáo dục Việt Nam chưa chuyển mình kịp để đáp ứng nhu
cầu đào tạo và hội nhập quốc tế. Chính vì thế, dù số lượng sinh viên tốt
nghiệp đại học mỗi năm lên tới vài chục vạn người và vẫn tăng lên hàng
năm nhưng hầu hết các doanh nghiệp luôn phàn nàn rằng, họ luôn gặp khó
khăn trong tuyển dụng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu.
Về số lượng, sự thiếu hụt nguồn nhân lực đạt chuẩn ở hầu hết các
ngành, đặc biệt là các ngành mới đã và đang đặt các doanh nghiệp vào tình
thế nan giải trong quản lý nhân sự. Tình hình này không chỉ diễn ra ở nhiều
ngành:
 Để đạt mục tiêu phát triển công nghệ thông tin vào năm 2010, chúng
ta cần khoảng 80 ngàn kỹ sư phần mềm chuyên nghiệp, tuy nhiên, theo
13
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
tổng hợp chung, cho đến thời điểm đó, chúng ta cố gắng cũng chỉ có
khoảng 26 ngàn người được đào tạo.
 Theo nghiên cứu của Navigos năm 2007 tại Việt Nam, tình trạng

thiếu hụt lao động trầm trọng vẫn tiếp tục diễn ra ở các ngành nghề dệt
may, da giày, gỗ, du lịch. Trong quý II, chỉ số cầu nguồn nhân lực của
46/56 ngành nghề tăng đáng kể và tập trung vào các ngành nghề đòi hỏi
chuyên môn và trình độ cao.
 Bán hàng, kế toán tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin, hành
chính, tiếp thị, quản lý điều hành đều có nhu cầu cần tuyển tăng trên 200%.
Trong khi đó, số lượng lao động cung ứng đã tăng lên đáng kể nhưng chưa
thể đáp ứng cầu nhu cầu. Báo cáo của Navigos còn khẳng định, nếu nguồn
cung tăng khoảng 30% thì cầu lao động lại tăng đến 142%.
 Theo Chủ tịch tập đoàn Vinashin, mỗi năm, ngành đóng tàu cần
thêm 20000 công nhân và 2000 kỹ sư nhưng quy mô đào tạo mới chỉ đáp
ứng được 50% lượng công nhân và khoảng 30% số lượng kỹ sư theo yêu
cầu.
Bên cạnh đó, tình trạng mất cân đối trong cơ cấu lao động trình độ
cao giữa các ngành được biểu hiện rất rõ. Tỷ số người tốt nghiệp các cấp
đào tạo theo chuẩn mực của thế giới là 1 cao đẳng, đại học/4 trung cấp
chuyên nghiệp/10 học nghề, thì ở nước ta các tỷ số tương ứng là 1 - 0,98 -
3,03, gây ra tình trạng "thiếu thợ nhiều hơn thiếu thầy".
Số liệu tuyển sinh hàng năm cho thấy có khoảng 50% sinh viên đăng
kí học các chuyên ngành kinh tế và giáo dục, trong khi đó chỉ có 12% học
các chuyên ngành khoa học và công nghệ. Đặc biệt, sinh viên chuyên các
ngành khoa học cơ bản không được khuyến khích nên thiếu hụt nghiêm
14
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
trọng. Điều này dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu lao động có
trình độ cao giữa các ngành.
Theo một nghiên cứu của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO),
hơn một nửa trong số các công ty của Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam
khi được hỏi đã trả lời rằng họ đang gặp khó khăn lớn trong việc tuyển
dụng nhân sự quản lý cấp trung (middle – management level) và kỹ sư,

trong đó sự thiếu hụt lớn nhất là về kỹ sư cơ khí và điện tử. Ngay cả các
doanh nghiệp trong nước cũng xảy ra tình trạng thiếu nhân sự quản lý và
các vị trí cấp cao (theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và
Ngân hàng phát triển Châu Á).
Về chất lượng, có thể nói, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học đáp ứng
được yêu cầu thực tế công việc hiện tại là rất thấp. Theo khảo sát của Bộ
Giáo dục Đào tạo, hầu hết các sinh viên ra trường đều có được việc làm
nhưng tỷ lệ người có được việc làm đúng chuyên ngành được đào tạo dưới
20%. Chính vì thế, hầu hết sinh viên mới tốt nghiệp thường phải được đào
tạo lại tại nơi mà họ được tuyển dụng từ 6 tháng tới 1 năm. Việc phải đào
tạo lại sinh viên mới tốt nghiệp đã tạo một sức ép lớn lên các doanh nghiệp
trong việc sử dụng những người được coi là đã được đào tạo nhưng lại
không hiểu vai trò, trách nhiệm và công việc của mình tại nơi làm việc.
Theo số liệu Ngân hàng Thế giới thống kê, có tới 50% doanh nghiệp
may mặc, hóa chất đánh giá lao động được đào tạo không đáp ứng nhu cầu
của mình. Khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo cần
được đào tạo lại ngay sau khi tuyển dụng, cá biệt, lĩnh vực phần mềm cần
đào tạo lại ít nhất 1 năm cho 80%-90% sinh viên tốt nghiệp được tuyển
dụng.
Không chỉ phải đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ, người sử dụng
lao động còn phải huấn luyện cho nhân viên cả thái độ làm việc, nhận thức
15
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
về trách nhiệm và nghĩa vụ trong công việc để có được quyền lợi mà họ
được hưởng, các kỹ năng cần thiết trong công việc như giao tiếp, thương
lượng, sử dụng máy tính, ngoại ngữ, và đặc biệt là kỷ luật làm việc, tuân
thủ thời gian trong công việc, nhất là các doanh nghiệp có quan hệ với đối
tác nước ngoài. Những chi phí đào tạo này không chỉ tốn kém tiền bạc của
người sử dụng lao động mà cả thời gian, công sức và đôi khi là những cơ
hội kinh doanh. Để tiết kiệm chi phí, rất nhiều doanh nghiệp đã chọn giải

pháp là sử dụng người nước ngoài tại các vị trí chủ chốt. Như vậy, với tốc
độ tăng trưởng như hiện nay, Việt Nam có thể sẽ mất đi lợi thế về nguồn
nhân lực rẻ nếu như lao động sau đào tạo vẫn tiếp tục không đáp ứng được
yêu cầu của các nhà tuyển dụng.
Như vậy, số lượng lao động qua đào tạo đại học tại Việt Nam tuy có
tăng những vẫn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực
không đáp ứng được nhu cầu và mất cân đối khi tỉ lệ nhân lực trong các
ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ còn thiếu hụt trầm trọng.
2.2. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến sự phát
triển kinh tế xã hội
Một nguồn vốn nhân lực còn chưa đáp ứng được những yêu cầu của
sự phát triển xuất phát từ một hệ thống giáo dục đại học còn nhiều yếu kém
là trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong quá trình
hội nhập với thế giới. Điều này được thể hiện qua những phân tích dưới
đây.
2.2.1 Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến sự tăng
trưởng kinh tế
* Ảnh hưởng đến năng suất lao động và thu nhập
16
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Trình độ nguồn nhân lực ảnh hưởng đến quá trình phân công lao
động và chuyên môn hóa, cũng như là tiền đề cho việc áp dụng công nghệ
mới và các dây chuyền hiện đại vào quá trình sản xuất, từ đó quyết định
năng suất lao động.
Trong thời gian qua, những nỗ lực trong việc cải thiện nguồn nhân
lực đã giúp tăng đáng kể năng suất lao động của Việt Nam. Những ngành
có năng suất lao động tăng cao nhất phải kể đến là ngành khai thác (tăng
17%/năm), ngành điện, khí đốt, nước (tăng 11,1%) nhờ áp dụng nhiều
tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh và quản lý.
Xét chung lại, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam thời kỳ 2001

- 2005 đạt bình quân 4,81%/năm (theo số liệu của Tổng cục Thống kê).
Tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất lao động này chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu của hội nhập và phát triển. Năng suất lao động của Việt Nam
còn rất thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Điều này được
thể hiện rõ trong bảng Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động
của một số nước và lãnh thổ trên thế giới năm 2005 (Phụ lục 1).
Phụ lục 1. Bảng Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của một số nước
và lãnh thổ trên thế giới năm 2005.
Tên nước và
lãnh thổ
Mức năng suất lao động Tốc độ tăng NSLĐ
Mức NSLĐ (USD) Thứ tự Tốc độ (%) Thứ tự
Mỹ 77346 1 1,8 12
Nhật 77061 2 1,9 10
Ai-len 62936 3 1,0 15
Hồng Kông 60299 4 5,0 4
Pháp 57677 5 1,4 14
Phần Lan 55698 6 0,1 18
Sing-ga-po 52426 7 1,9 10
Anh 51882 8 0,9 16
Đức 50789 9 0,9 16
Ca-na-đa 49308 10 1,6 13
Ô-xtrây-li-a 45545 11 -1,0 20
17
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Đài Loan 35856 12 2,7 8
Hàn Quốc 27907 13 2,6 9
Ma-lai-xi-a 11300 14 3,0 6
Thái Lan 4305 15 3,0 6
Phi-lip-pin 2807 16 -0,8 19

Trung Quốc 2272 17 7,1 1
In-đô-nê-xi-a 1952 18 4,4 5
Ấn Độ 1242 19 6,6 2
Việt Nam 1237 20 5,51 3
Các số liệu trong bảng đã chỉ ra rằng, năng suất lao động của Việt
Nam đạt ở mức thấp xấp xỉ năng suất lao động của Ấn Độ và đứng cuối
cùng trong số 20 nước được chọn để so sánh. Nếu so với năng suất lao
động của Mỹ (nước có năng suất lao động cao nhất trong bảng), thì năng
suất lao động của Việt Nam chỉ mới bằng 1,6%. Nếu tách riêng 6 nước
trong khối ASEAN có trong bảng trên gồm: Sing-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái
Lan, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a và Việt Nam thì Sing-ga-po dẫn đầu và Việt
Nam lại ở vị trí cuối. Năng suất lao động năm 2005 của Việt Nam chỉ đạt
2,35% so với Sing-ga-po, 10,95% so với Ma-lai-xi-a, 28,73% so với Thái
Lan, 44,07% so với Phi-lip-pin và 63,37% so với In-đô-nê-xi-a. Tuy nhiên,
xét về tốc độ tăng năng suất lao động thì trong số những nước này Việt
Nam có tốc độ tăng cao (5,51%, đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn Độ)
trong khi đó 4 nước còn lại chỉ tăng từ 1,9% đến 4,4%, riêng Phi-lip-pin, năng
suất lao động năm 2005 giảm -0,8%. Nếu tính theo phương pháp sức mua tương
đương (PPP), năng suất lao động của Việt Nam năm 2005 đạt trên 5.000 USD,
tuy nhiên vẫn ở vị trí cuối cùng trong số 20 nước được nghiên cứu.
Như vậy, có thể nói, năng suất lao động của Việt Nam còn quá thấp so
với năng suất lao động của các nước khác. Một trong những nguyên nhân
trực tiếp của điều này là nguồn vốn nhân lực còn yếu, hệ quả của chất
lượng giáo dục đại học còn nhiều bất cập. Nguồn lực năng động nhất, cũng
là lợi thế phát triển quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt
Nam đang bị lãng phí rất lớn, khó phục vụ hiệu quả cho tăng trưởng kinh
18
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
tế. Vì thế, năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp so với các nước
trong khu vực chứ chưa nói gì đến các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới.

Do tác động trực tiếp đến năng suất lao động, yếu tố nguồn lao động cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập hàng năm. Cùng với nhân tố vốn, sự bổ sung
lao động có trình độ cao cũng có những đóng góp không nhỏ vào việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế của VN. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây.
Đóng góp của các yếu tố vào GDP (%)
1993 - 97 1998 – 02 2003 – 2006
Đóng góp của L 16,02 20,00 19,07
Đóng góp của K 68,98 57,42 52,73
Đóng góp của TFP 15,00 22,58 28,20
Tỷ lệ GDP 100 100 100
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Quy mô GDP của VN tăng lên nhanh chóng, năm 2005 đã gấp 3 lần
năm 1990. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 195 USD năm 1990 lên
729 USD năm 2006, năm 2007 đạt 820 USD. Tuy nhiên, mức thu nhập
hiện nay chưa đủ để đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước có thu
nhập thấp trên thế giới theo phân loại của Ngân hàng thế giới. Một lần
nữa, bài toán nguồn nhân lực lại được đặt ra để đưa nước ta tiến đến nền
kinh tế tri thức, tăng năng suất lao động, đáp ứng nhu cầu gia tăng thu
nhập xã hội, và lời giải đáp vẫn không nằm ngoài việc nâng cao chất
lượng nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.
19
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
* Ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và thu hút đầu tư
Tỷ trọng vốn đầu tư trên GDP của Việt Nam liên tục gia tăng, năm
1990 đạt 17,3%, hiện nay khoảng 40-45%. So với các nước trong khu vực
và các nước đang phát triển trên thế giới VN được xếp vào loại nước có tỷ
trọng vốn đầu tư trên GDP cao. Đóng góp của vốn vào tăng trưởng GDP
tuy giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn ở vị trí chủ đạo. Nếu tính
theo tỷ lệ, giai đoạn 2003 đến nay nhân tố vốn đóng góp trung bình khoảng
52,73% vào tăng trưởng GDP.

Không thể phủ định những tác động tích cực mà nền giáo dục Đại học
đã mang lại cho sức hút đầu tư của nền kinh tế Việt Nam. Trước hết,
những nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam như một nước có lực lượng
lao động trí thức có giá thành khá thấp so với nhiều nước trong khu vực.
Với chính sách hỗ trợ giáo dục của Nhà nước, sinh viên Việt Nam có cơ
hội học Đại học với học phí thấp, chương trình học không tốn kém. Nếu
như mức lương trung bình mà một doanh nghiệp đầu tư vào Singapore phải
trả cho một sinh viên mới ra trường là xấp xỉ $12 000 một năm, thì ở Việt
Nam con số này chỉ là $1100. Lượng lao động có trình độ cao ngày càng
tăng mỗi năm cũng chính là một động lực lớn khi các nhà đầu tư quyết định
đầu tư tại Việt Nam.
Tuy nhiên, tuy lượng vốn thu hút hàng năm khá lớn nhưng hiệu quả
đầu tư của nước ta còn thấp. Nhiều dự án đầu tư triển khai thiếu tính khả thi
nên không thể tiếp tục hoạt động, một số công trình trọng điểm lại chịu sự
thờ ơ, thiếu quan tâm của các cơ quan ban ngành, dẫn đến ách tắc lâu ngày
không được giải quyết, hàng tỉ đồng máy móc thiết bị bỏ không, gây ra thất
thoát lớn.
Những thực tế đáng buồn ấy chính là hậu quả trực tiếp của lối suy nghĩ
khuôn phép, xa rời thực tiễn và thiếu tinh thần trách nhiệm của một bộ
20
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
phận lớn của lực lượng lao động. Thêm vào đó, nguồn nhân lực có trình độ
cao, chuyên môn sâu về các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học và một số ngành khác còn thiếu, ảnh hưởng lớn đến
khả năng tiếp thu công nghệ dẫn đến hiệu quả đầu tư kém.
Cùng với thực trạng hiệu quả đầu tư kém, chất lượng nguồn nhân lực
chưa cao cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng năng lực cạnh tranh
của Việt Nam thấp và có xu hướng tụt hạng so với thời kỳ trước năm 1996.
Vào năm 2003, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới về năng lực cạnh tranh,
tăng 5 bậc so với năm 2002, nhưng giảm 7 bậc so với thứ hạng 53 của năm

2000 và giảm 21 bậc so với thứ hạng năm 1998. Năm 2006, Việt Nam xếp
thứ 77/125 quốc gia, tụt 3 hạng so với năm 2005. Nếu so sánh năng lực
cạnh tranh của Việt Nam với một số nước ASEAN, thì Sing-ga-po xếp thứ
26, Thái Lan xếp thứ 35, In-đô-nê-xi-a xếp thứ 50, Phi-lip-pin xếp thứ 71,
Cam-pu-chia xếp thứ 103. Như vậy, Việt Nam chỉ xếp trên Cam-pu-chia.
Các nước Lào, Bru-nây, Mi-an-ma chưa được xếp hạng về năng lực cạnh
tranh. Năng lực cạnh tranh thấp và có xu hướng tụt bậc này cho thấy, Việt
Nam đang đứng trước nguy cơ gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư
trong thời gian tới. Như vậy, nếu không cải thiện được những bất cập trong
giáo dục đại học thì Việt Nam sẽ không thể tận dụng được một cách trọn
vẹn lợi ích của đầu tư cũng như thu hút thêm nhiều nhà đầu tư lớn.
2.2.2. Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Bên cạnh việc kích thích tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng
nguồn lao động sẽ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, nền
giáo dục đại học nước ta lại đang đứng trước rất nhiều bất cập với hệ quả là
những sản phẩm đào tạo không đáp ứng được yêu cầu thực tế và chắc chắn
21
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
sẽ không tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa – hiện đại hóa thành công như mục tiêu đất nước đặt ra.
Thứ nhất, giáo dục ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Những lao động không có trình độ chỉ có thể làm việc trong khu vực nông
nghiệp hoặc những ngành có thu nhập thấp. Trong khi đó khu vực công
nghiệp và dịch vụ ngày một phát triển thì luôn trong tình trạng khan hiếm
lao động có trình độ cao mặc dù lực lượng này có tăng lên trong những
năm gần đây (xem biểu đồ). Điều này dẫn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành ở nước ta diễn ra chậm chạp. Trong nhiều năm chúng ta đã phấn đấu
giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch
vụ nhưng thành tựu đạt được vẫn rất khiêm tốn. Điều này thể hiện qua cơ

cấu ngành năm 2008 như sau: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm
21,99% GDP, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,91% và khu vực
dịch vụ chiếm 38,1%. Nông nghiệp tuy giảm nhưng vẫn chiếm tỉ trọng
đáng kể trong GDP và vẫn là nguồn sống của đại bộ phận cư dân nông thôn
không có điều kiện tiếp cận với hệ thống giáo dục có chất lượng tốt hơn.
Hình 1.1: Sự phân bổ lao động có trình độ cao trong các ngành kinh tế
22
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Thứ hai, giáo dục cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình
chuyển dịch dưới góc độ cơ cấu vùng kinh tế (thành thị và nông thôn).
Giữa thành thị và nông thôn không chỉ có sự chênh lệch về phát triển kinh
tế mà còn cả sự bất hợp lí trong đầu tư cho giáo dục. Trong khi phần lớn
các trường đại học đều tập trung ở Thủ đô hay các thành phố lớn, hầu như
không có các cơ sở giáo dục, đào tạo bài bản ở nông thôn và các vùng xa
xôi hẻo lánh. Nơi đây, cơ sở vật chất lạc hậu, hệ thống giáo dục sơ sài, chất
lượng giảng dạy yếu kém, người dân càng khó tiếp cận với các loại hình
giáo dục để nâng cao trình độ, do đó những vùng này càng khó có điều kiện
phát triển kinh tế. Hệ quả là những người tốt nghiệp đại học đa số không
trở về quê hương mà bám trụ ở thành phố với hi vọng có mức thu nhập cao
hơn. Điều này làm gia tăng gánh nặng về việc làm, ô nhiễm, gia tăng dân
số ở khu vực kinh tế thành thị và kinh tế nông thôn vốn yếu kém lại càng
yếu kém hơn. Việc chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm phát triển nông
thôn, giảm bớt gánh nặng cho thành thị gặp phải khó khăn lớn từ chính vấn
đề giáo dục, rộng hơn là vấn đề nhân lực.
Thứ ba, giáo dục cũng có liên quan đến quá trình chuyển dịch cơ cấu
thành phần kinh tế. Chương trình giảng dạy đại học ở nước ta lạc hậu, kém
cập nhật hơn rất nhiều ngay cả với các nước trong cùng khu vực. Ngoài ra,
thói quen dạy và học thụ động, thiếu sáng tạo, thiếu thực hành, gian lận thi
cử trong nhà trường đã khiến sinh viên khi ra trường thiếu tính năng động,
khả năng dám nghĩ dám làm, tinh thần trách nhiệm và tác phong công

nghiệp. Thành phần kinh tế tư nhân muốn phát triển mạnh mẽ cần có những
con người chủ động, nhạy bén, tính kỉ luật cao và đáp ứng được những đòi
23
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
hỏi của thị trường. Ngoài ra, thành phần kinh tế nhà nước có xu hướng
giảm nhưng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế cũng gặp phải
tình trạng thiếu hụt lao động có trình độ cao. Như vậy, chất lượng giáo dục
yếu kém đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các thành phần kinh tế
cũng như sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế.
2.2.3 Ảnh hưởng của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đến sự phát
triển xã hội
Thực trạng giáo dục đại học tại Việt Nam cũng có nhiều tác động
đến sự phát triển toàn diện của xã hội.
Bất bình đẳng trong việc tiếp cận với giáo dục đại học dẫn đến bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập ngày càng rõ nét. Những người xuất
thân từ gia đình có điều kiện được hưởng nền giáo dục đại học lại tiếp tục
có nhiều cơ hội trong việc tìm kiếm các công việc với thu nhập cao, trong
khi phần lớn những người không có khả năng theo đuổi tấm bằng đại học
lại trở về với những công việc không đòi hỏi trình độ cao và thu nhập thấp
hơn rất nhiều. Cùng với đó là tình trạng phần lớn nhân lực trình độ cao tập
trung tại các đô thi lớn, điều này đã dẫn đến chênh lệch giàu nghèo có xu
hướng gia tăng. Mặc dù Việt Nam đạt nhiều thành công trong công tác
chống đói nghèo, nhưng tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam ở các vùng Tây
Nguyên, vùng núi phía Bắc và vùng duyên hải Bắc Trung Bộ vẫn còn cao.
Ngoài ra, khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng rộng đồng thời với quá
trình giảm nghèo.
Xét một cách toàn diện, trình độ nguồn nhân lực tăng cũng giúp cải
thiện đáng kể chất lượng cuộc sống. Nhờ chú trọng giáo dục - đào tạo,
chăm sóc sức khỏe, hạn chế tỷ lệ sinh, năm 2006, HDI của Việt Nam đạt
0,709, cao hơn nhiều nước có cùng trình độ phát triển kinh tế.

24
Tiểu luận Kinh tế phát triển Anh 14 – K45E – KTĐN
Tuy nhiên, sự thiếu hụt nhân lực cao trong các ngành khoa học - công
nghệ đã gây trở ngại lớn đến việc áp dụng các công nghệ tiên tiến tại nước
ta. Tình trạng áp dụng các công nghệ cũ kĩ lạc hậu trong sản xuất dẫn đến
hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp, tài nguyên thiên nhiên chưa được khai
thác hiệu quả, ô nhiễm môi trường gia tăng. Hiệu quả sử dụng năng lượng
đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn còn thấp. Lượng đi-ô-xít cac-bon thải ra
tính trên đầu người tăng gấp đôi trong thời kỳ đổi mới. Vấn đề khai thác tài
nguyên, đầu tư vào tài sản môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường đang
đe dọa sự phát triển bền vững của Việt Nam.
3. Nguyên nhân của những bất cập trong giáo dục đại học ở
Việt Nam
Nền giáo dục đại học Việt Nam còn tồn tại khá nhiều bất cập, nhưng
những hạn chế đó xuất phát từ đâu? Mặc dù có rất nhiều nguyên nhân tác
động tới nền giáo dục nước nhà, ở đây chúng ta sẽ xem xét một số nguyên
nhân cơ bản:
3.1. Về phía Nhà nước:
 Tư duy căn bản về giáo dục đại học đang gặp hạn chế trầm trọng
trong việc nhầm lẫn giữa tuyên truyền và giáo dục. Tuyên truyền mang
tính tình thế, hướng đối tượng đi theo ý muốn của mình; còn giáo dục
đúng nghĩa, cần mang tính nhân văn, lâu dài và phổ quát, lấy con người
làm gốc, tạo điều kiện để đối tượng có hiểu biết, giúp họ hành sự như một
thực thể độc lập, đủ khả năng thích ứng với sự thay đổi của bối cảnh, cuộc
sống, sự việc. Các lối thức suy nghĩ cũng như nhận định vấn đề đang bị áp
đặt một cách khô cứng chẳng khác nào tuyên truyền trong môi trường giáo
dục đại học ở Việt Nam Trong giai đoạn hội nhập, nếu tiếp tục có tư duy
lẫn lộn giữa giáo dục và tuyên truyền thì sớm muộn sẽ đi đến ngõ cụt của
tri thức, đến tụt hậu của tư duy.
25

×