Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học trong dạy học hoạt động nói và nghe – bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (647.71 KB, 10 trang )

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

95

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC HOẠT ĐỘNG NÓI VÀ NGHE –
BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG
Nguyễn Thị Hoà, Trần Khánh Ly
Trường Đại học Thủ đơ Hà Nội
Tóm tắt: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học giúp thúc đẩy sự phát triển cá nhân
của các em. Quá trình này cần được tiến hành một cách linh hoạt, tích hợp trong nhiều nội
dung và hoạt động học khác nhau trong dạy học Tiếng Việt, trong đó có hoạt động Nói và
Nghe. Bài viết làm rõ tầm quan trọng của hoạt động Nói và Nghe trong giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh tiểu học; từ đó tác giả đề xuất nguyên tắc, quy trình, nội dung và phương
pháp tích hợp nhằm giáo dục hiệu quả kĩ năng sống cho học sinh tiểu học, đặc biệt học
sinh lớp 2.
Từ khóa: Giáo dục kĩ năng sống, học sinh tiểu học, hoạt động nói và nghe, kĩ năng sống,
tích hợp.
Nhận bài ngày 2.4.2022; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 22.5.2022
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Hòa; Emai:

1. MỞ ĐẦU
Giáo dục kĩ năng sống (KNS) là nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục phổ
thơng, đặc biệt trong giáo dục ở bậc tiểu học. Giáo dục KNS cho học sinh (HS) tiểu học giúp
thúc đẩy sự phát triển cá nhân, giúp quá trình trưởng thành của các em được phát triển theo
hướng tích cực, tạo ra “sản phẩm” của giáo dục là những cơng dân có ích cho xã hội. HS tiểu
học cịn nhỏ vì vậy các kinh nghiệm sống của các em cịn rất ít, cần giáo dục KNS cho các
em để các em có hành trang vững vàng trước các tình huống bất ngờ trong cuộc sống và tự
bảo vệ chính mình.
Trong Chương trình giáo dục phổ thơng 2018, nội dung giáo dục KNS được tích hợp
khá đa dạng trong nội dung các môn học. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học được thiết kế với các


mạch kiến thức chính nhằm rèn các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe cần thiết cho HS tiểu học,
đặc biệt có nội dung tích hợp các tình huống trong thực tế với mục tiêu đưa các kĩ năng Tiếng
Việt đồng hành cùng học sinh trong mọi hoạt động của đời sống. Tuy nhiên phần lớn các nội
dung này đều khá mờ nhạt, chưa phát huy được hiệu quả vốn có của tích hợp nhằm đạt hiệu
quả giáo dục KNS cần thiết cho HS tiểu học. Các em còn rụt rè, thiếu tự tin, một số học sinh


96

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐƠ HÀ NỘI

thì chưa có kĩ năng tự lập, tự phục vụ bản thân, kĩ năng giao tiếp hạn chế, giải quyết vấn đề
thiếu tính chủ động,…
Qua q trình nghiên cứu, chúng tơi nhận thấy để giáo dục KNS cho HS tiểu học đạt
hiệu quả cần được tiến hành một cách linh hoạt, tích hợp trong nhiều nội dung và hoạt động
học khác nhau trong dạy học Tiếng Việt. Trong đó, hoạt động Nói và Nghe góp phần giúp
học sinh hình thành và phát triển những kĩ năng khác nhau như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
lắng nghe, kĩ năng suy đoán, kĩ năng phản biện, kĩ năng quan sát.,… Việc tích hợp giáo dục
KNS có thể đem lại hiệu quả tích cực ở cả hai nhiệm vụ giáo dục phẩm chất và năng lực cho
học sinh. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều giáo viên còn lúng túng khi tổ chức hoạt động tích hợp
giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2, đặc biệt trong dạy học hoạt động Nói và Nghe.
Sở dĩ như vậy vì GV khơng nắm được ngun tắc, quy trình, nội dung và phương pháp dạy
học tích hợp giáo dục KNS trong hoạt động Nói và Nghe. Đó là những vấn đề mà chúng tôi
đặt ra và nghiên cứu trong bài viết này nhằm nâng cao chất lượng tích hợp giáo dục KNS trong
dạy học Tiếng Việt cho HS lớp 2 qua bộ sách Tiếng Việt “Kết nối tri thức với cuộc sống”.

2. NỘI DUNG
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Tích hợp và dạy học tích hợp
Theo từ điển Tiếng Việt, “tích hợp” có nghĩa là sự kết hợp, hợp nhất, hịa nhập. Tích

hợp trong tiếng Anh được viết là “Integration”, có nguồn gốc từ tiếng “Integer” trong tiếng
Latin, được hiểu với nghĩa là lồng ghép những cái chung, cái toàn bộ, cái toàn diện, cái thống
nhất trên cơ sở các bộ phận riêng lẻ. Với nghĩa này, có thể hiểu tích hợp chính là kết hợp các
bộ phận hoặc các thành phần khác nhau để tạo ra sản phẩm là một hệ thống đảm bảo sự kết
hợp hài hòa về chức năng và mục tiêu phát triển.
Đối với việc đưa quan điểm tích hợp vào dạy học, đây được coi là một xu hướng giáo
dục tích cực trên tồn thế giới. Theo Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO
(Paris – 1972), dạy học tích hợp tức là “Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình
bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư
tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học
khác nhau.”[1]. Từ định nghĩa này, có thể thấy rằng khái niệm dạy học tích hợp được tiếp
cận từ khái niệm và nguyên lý khoa học chứ không tiếp cận theo hướng hợp nhất nội dung.
Khái niệm tích hợp nhấn mạnh đến các phương pháp dạy học coi học sinh là trung tâm để
phát triển năng lực và phẩm chất, đáp ứng nhu cầu của xã hội để trở thành cơng dân có ích.
Cũng có thể hiểu rằng dạy học tích hợp là cách tiếp cận giảng dạy liên ngành. Các nội dung
dạy học thường được trình bày dưới dạng các chủ đề hoặc các đề tài. Các chủ đề hoặc các
đề tài này được chia thành các bài học nhỏ để phù hợp với trình độ chung của người học,
người học có đủ thời gian để tiếp nhận một các sâu sắc nhất các kiến thức và liên hệ mạch
kiến thức với nhau.
Tóm lại, có thể hiểu dạy học tích hợp chính là q trình dạy học có sự liên kết các đối
tượng kiến thức, học tập trong cùng một chương trình dạy học để tạo ra một hệ thống kiến


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

97

thức đảm bảo sự hài hịa, thống nhất và tồn vẹn. Trong đó mục tiêu mà tích hợp hướng tới
là hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực và phẩm chất cần thiết trong đó có
năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các vấn đề, các tình huống xảy ra

trong cuộc sống.
2.1.2. Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
Theo L.Đ.Lêvitôv, kĩ năng là “sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một
hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính
đến những điều kiện nhất định”. Nói gọn hơn, có thể hiểu KN là khả năng sử dụng kiến thức,
sự hiểu biết của mình để thực hiện một cơng việc nào đó nhằm tạo ra kết quả như mong muốn.
Có rất nhiều khái niệm được đưa ra về KNS. Theo Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên hợp quốc
UNICEF, KNS là “cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận
này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hành vi, thái độ và KN.” Theo sự nhìn nhận
từ góc độ sức khỏe, Tổ chức Y tế Thế giới WHO lại cho rằng KNS là những KN thiết thực
mà con người cần có để cuộc sống an toàn và tốt đẹp hơn. Hiểu rộng ra, KNS là năng lực có
tính tâm lý xã hội, KN giao tiếp, tương tác và khả năng giải quyết các vấn đề, tình huống có
hiệu quả trong cuộc sống. Theo quan điểm của Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục Liên
hợp quốc UNESCO, KNS là “năng lực của cá nhân để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và tham
gia và cuộc sống hàng ngày” [8]. Từ những quan điểm trên có thể hiểu KNS là những khả
năng con người có thể thực hiện để hồn thành các nhiệm vụ, mục tiêu nào đó, phục vụ cho
đời sống hàng ngày. KNS bao gồm rất nhiều các KN cần thiết cho cuộc sống của mỗi người.
KNS được hình thành trong quá trình học tập, phát triển của mỗi cá nhân trong đời sống chứ
không phải là bản năng của mỗi người.
Theo nghiên cứu của WHO, các KNS được hình thành tốt nhất thơng qua học tập tích
cực. Ở Việt Nam, từ năm học 2010 – 2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ chương xây
dựng chương trình theo định hướng tích hợp KNS trong dạy học các mơn hoặc hoạt động
ngồi giờ lên lớp. Tích hợp KNS vào dạy học là giáo dục KNS cho HS qua các nội dung
kiến thức các mơn học có “tiềm năng” như: Tiếng Việt, Đạo Đức, Tự nhiên và xã hội… Cách
tiếp cận giáo dục KNS như trên sẽ giảm tải cho chương trình học của các em HS, các em
khơng cần phải học thêm một môn học mà vẫn được trang bị đầy đủ KNS cho quá trình sống,
học tập và làm việc sau này.
2.1.3. Dạy học Hoạt động Nói và Nghe
“Dạy học là một hoạt động tổ chức có kế hoạch, tuân thủ mục đích dạy học đề ra.”[5,
tr110]. Đó là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức

năng khác nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động
học. Như vậy, “dạy học Hoạt động Nói và Nghe” có thể hiểu là quá trình tổ chức các hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm “giúp học sinh có khả năng diễn
đạt, trình bày ngơn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; biết tơn trọng
người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận”[7, tr 96]. Dạy nói và
nghe không chỉ phát triển năng lực giao tiếp mà còn giáo dục phẩm chất và nhân cách học


98

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐƠ HÀ NỘI

sinh. Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn, hoạt động Nói và Nghe
được phát triển trên nền của phân mơn Kể chuyện trước đây. Các hình thức nói và nghe gồm:
nghe kể chuyện, kể lại câu chuyện đã nghe hoặc đã đọc và nói theo chủ đề.
2.2. Hoạt động Nói và Nghe – Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Với thông điệp là đem tri thức kết nối với cuộc sống, chương trìnhTiếng Việt 2 – bộ
sách Kết nối tri thức với cuộc sống được biên soạn dựa trên ba quan điểm chính. Một là, biên
soạn chương trình đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực của HS. Hai là, biên
soạn chương trình phát huy tính tích cực của HS. Ba là, biên soạn chương trình chú trọng
dạy học tích hợp và phân hóa.
Ở hoạt động Nói và Nghe, yêu cầu cần đạt về kĩ năng kể chuyện được chia thành 2 mức
độ tương ứng với hai học kì. Đối với học kì I, hoạt động Nói và Nghe được thiết kế với mức
độ cơ bản: Kể một câu chuyện đơn giản hoặc kể lại 1 – 2 đoạn trong truyện. Đối với học kì
II, mức độ được nâng lên cao hơn, bao gồm: Nghe một câu chuyện rồi kể lại từng đoạn và
kể lại tồn bộ câu chuyện. Sau đó, ở phần Vận dụng, HS được yêu cầu kể lại cho người thân
hoặc viết câu liên quan đến câu chuyện khi ở nhà.
Hoạt động Nói và Nghe được thiết kế thành mục riêng ở bài 4 tiết. Trong chương trình
Tiếng Việt 2, hoạt động Nói và Nghe chiếm khoảng 10% trong thời lượng chung của môn
Tiếng Việt, cụ thể là 1 tiết/tuần và 35 tiết/năm.

Trong hoạt động Nói và Nghe, hoạt động học được diễn ra dưới hình thức HS nhìn tranh
và kể lại câu chuyện theo ý hiểu. Việc kể lại câu chuyện có thể khơng thực sự trùng khớp
với nội dung tranh, tuy nhiên hoạt động này lại giúp các em phát triển kĩ năng suy đoán, khả
năng quan sát và đọc các văn bản đa phương thức.
Trong hoạt động Nói theo chủ điểm, các chủ đề nói được lựa chọn rất gần gũi với đời
sống. Đây là những vấn đề được các em HS quan tâm và luôn hiện diện trong cuộc sống của
các em như: Niềm vui của em, điều em thích về trường, điều em muốn trường thay đổi, làm
thế nào để giữ sách môi trường, ngày hè của em,…
2.3. Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học hoạt động Nói và nghe - Bộ sách Kết
nối tri thức với cuộc sống
2.3.1. Nguyên tắc tích hợp
Khi thiết kế nội dung tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2 cần chú ý tới
một số nguyên tắc sau:
Một là, tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2 đảm bảo mục tiêu giáo dục,
hình thành và phát triển năng lực một cách toàn diện cho HS thông qua các hoạt động giáo
dục phù hợp. Có thể nhận thấy rằng, KNS của HS lớp 2 được hình thành qua quá trình tổ
chức các hoạt động có sự tương tác. Vì vậy khi xây dựng nội dung tích hợp tích hợp giáo
dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2, GV cần chú ý đến tính đa dạng và tính tương tác của
các hoạt động giáo dục.
Hai là, tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2 cần đáp ứng được sự thay đổi


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

99

khơng ngừng của xã hội, có tính trải nghiệm thực tế để hoạt động học trở nên có ý nghĩa với
HS. Trang bị KNS cho HS lớp 2 sẽ giúp nâng cao khả năng thích nghi ở các em. Tuy nhiên,
khi tích hợp tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt, GV nên lựa chọn các chủ đề
hoặc các bài học có nội dung thiết thực, gần gũi với môi trường sống của học sinh. Ngồi ra,

cần đặt HS vào các tình huống thực tế, các hoạt động trải nghiệm để HS được vận dụng kiến
thức đã học.
Ba là, đảm bảo nội dung tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2 là một q
trình giáo dục mang tính khoa học, đồng bộ với nội dung chương trình Tiếng Việt 2. Có thể
nhận thấy rằng q trình giáo dục KNS cho HS không thể chỉ diễn ra trong thời lượng một
vài tiết hoặc một vài buổi học mà cần đến quá trình giáo dục thường xuyên nhằm tạo nên
một chu trình: xây dựng cơ sở nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hành vi. Đối với quá
trình này, nội dung giáo cần đảm bảo tính khoa học, đồng bộ. Điều này có nghĩa là các nội
dung tích hợp phải đảm bảo được nguyên tắc như: Dạy đúng, dạy đủ theo chương trình hiện
hành đồng thời tích hợp một cách logic các KNS phù hợp với khả năng nhận thức của HS và
kế hoạch bài dạy.
Bốn là, nội dung tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2 đảm bảo tính giáo
dục và giáo dục để thay đổi hành vi. Mục tiêu của giáo dục KNS hướng tới là giúp HS thay
đổi hành vi. Tuy nhiên thay đổi hành vi là cả một chặng đường dài với rất nhiều những khó
khăn, thử thách. Vì thế, khi tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt, GV
cần kiên nhẫn, tổ chức các hoạt động tích hợp rèn luyện KNS thường xun. Ngồi ra, GV
cũng cần tích cực tạo động lực cho HS thay đổi nhận thức và hành vi.
Năm là, nội dung tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Tiếng Việt 2 đảm bảo sự hài
hịa về thời gian, mơi trường giáo dục và liên kết chặt chẽ với một số vấn đề nổi bật của xã
hội. Giáo dục KNS cho HS nên được thực hiện ở “mọi lúc, mọi nơi, ở cả nhà trường, gia
đình và xã hội” và thực hiện càng sớm càng tốt.
2.3.2. Quy trình tích hợp giáo dục kĩ năng sống
Dựa trên đặc điểm của các hoạt động trong dạy học Tiếng Việt 2 – bộ sách Kết nối tri
thức với cuộc sống, chúng tôi nhận thấy rằng: việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh cần được thực hiện theo các bước sau:
*Bước 1: Đánh giá mức độ thực hiện kĩ năng sống ban đầu của học sinh
Với HS lớp 2, việc thực hiện KNS còn gặp rất nhiều khó khăn do đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi, môi trường học tập và môi trường sống. Việc giáo dục KNS ở mỗi HS không được
thực hiện đồng đều còn do khả năng tiếp thu khác nhau và mức độ thực hiện KNS ở mỗi HS.
Vì vậy, trước khi tiến hành thiết kế nội dung tích hợp giáo dục KNS trong dạy học môn

Tiếng Việt 2, GV cần thực hiện đánh giá mức độ thực hiện KNS của HS. Việc đánh giá mức
độ thực hiện KNS ban đầu sẽ là cơ sở cho quá trình xác định mục tiêu giáo dục, thiết kế nội
dung dạy học tích hợp sao cho phù hợp nhất với đối tượng giáo dục. Giáo viên có thể tiến
hành đánh giá thơng qua nhiều hình thức khác nhau. Có thể kể đến một số hình thức đánh
giá như: GV quan sát hoạt động thường ngày của HS và kết hợp tìm hiểu thơng qua phụ


100

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

huynh để lập bảng đánh giá, xây dựng khảo sát thơng qua hình thức câu hỏi trắc nghiệm, tổ
chức hoạt động trải nghiệm – đóng vai, xử lý tình huống.
*Bước 2: Xác định mục tiêu của nội dung tích hợp trong bài học
Dựa trên kết quả đánh giá mức độ thực hiện KNS của HS, GV tiến hành xác định mục
tiêu của nội dung tích hợp trong bài dạy mơn Tiếng Việt 2. Việc xác định mục tiêu cần dựa
vào mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể nói chung và mơn Tiếng Việt 2
nói riêng kết hợp với mục tiêu mà GV xác định khi tích hợp KNS vào bài dạy. Từ cơ sở này,
GV có thể thiết lập một sơ đồ mục tiêu chung cho nội dung dạy học tích hợp trong đó gồm
có: kiến thức, kỹ năng, thái độ, định hướng năng lực hình thành và phát triển cho HS.
*Bước 3: Lựa chọn KNS tích hợp phù hợp với mục tiêu và nội dung kiến thức của bài học
Mỗi bài học sẽ có nội dung kiến thức khác nhau phù hợp với các KNS khác nhau. GV
cần nghiên cứu nội dung bài học để lựa chọn KNS tích hợp trong bài sao cho phù hợp với
nội dung kiến thức và trình độ của HS nhất. Để lựa chọn được KNS thích hợp nhất, GV nên
tiến hành phân tích chương trình dạy học và sách giáo khoa (SGK) để tìm ra các nội dung
dạy học gần giống nhau hoặc có gắn kết chặt chẽ nhất với một trong số các KNS mà GV đã
xác định để tích hợp trong dạy học trước đó.
*Bước 4: Thực hiện xây dựng kế hoạch tích hợp trong nội dung bài học tổ chức dạy học
Q trình xây dựng kế hoạch tích hợp trong nội dung dạy học thường được kết hợp trong
quá trình xây dựng kế hoạch dạy học của GV. Quá trình thực hiện với nhiều bước nhỏ như:

- Xác định nội dung cốt lõi và một số câu hỏi gợi mở.
- Xác định phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học thích hợp: GV cần lựa chọn các
phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực một cách kỹ lưỡng, trong đó có thể sử dụng các
phương pháp, kỹ thuật như: Phương pháp dạy học nhóm, phương pháp dạy học trị chơi,
phương pháp đóng vai, phương pháp dạy học dự án, kỹ thuật sơ đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải
bàn, kỹ thuật “bể cá”…
Tiếp đến, GV thực hiện kế hoạch dạy học các chủ đề theo các tiến trình đã thiết kế.
* Bước 5: Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả của nội dung tích hợp đối với HS sau
khi học. Thực hiện đánh giá. Trong bước cuối cùng, GV tiến hành xây dựng các tiêu chí
đánh giá của nội dung tích hợp đối với HS sau khi học. Tiêu chí đánh giá thể hiện được sự
tác động của các nội dung tích hợp đối với sự hình thành và phát triển năng lực cho HS. GV
có thể sử dụng lại bảng đánh giá ở bước một để đánh giá hiệu quả dạy học. Sau khi thực hiện
đánh giá, GV cần rút ra những ưu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất các cải tiến để tăng hiệu
quả của các nội dung tích hợp.
2.3.3. Nội dung và các phương pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
trong dạy học hoạt động Nói và Nghe
2.3.3.1. Nội dung tích hợp
Hoạt động Nói và Nghe được chia thành các mạch kiến thức chính là: Nghe kể chuyện,


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

101

Kể lại câu chuyện đã nghe hoặc đã đọc và Nói theo chủ đề. GV có thể thiết kế hoạt động dạy
học tích hợp giáo dục KNS trong một số bài học ở học kì I như bảng sau:
Tên bài
Chú đỗ con
Bữa ăn trưa
Họa mi, vẹt và quạ

Niềm vui của em
Chúng mình là bạn
Hai anh em

KNS có thể tích hợp
- Kĩ năng lắng nghe.
- Kĩ năng đặt mục tiêu.
- Kĩ năng chia sẻ, cảm thơng
- Kĩ năngphịng chống dịch bệnh.
- Kĩ năng đặt mục tiêu.
- Kĩ năng ứng phó với căng thẳng.
- - Kĩ năng chia sử, cảm thông
- Kĩ năng lắng nghe.
- Kĩ năng chia sẻ, cảm thông.
- Kĩ năng chia sẻ.
- Kĩ năng biết u thương, trân trọng.

2.3.3.2. Phương pháp tích hợp
Có thể thấy rằng trong hoạt động Nói và Nghe, phương pháp dạy học thích hợp nhất
chính là phương pháp dạy học đóng vai. Đối với dạy học tích hợp giáo dục KNS, phương
pháp dạy học đóng vai được đánh giá là một trong những phương pháp dạy học có khả năng
phát huy hiệu quả tích hợp tốt nhất. Phương pháp dạy học đóng vai là phương pháp tổ chức
cho HS thực hành nhập vai để ứng xử trong một tình huống giả định. Phương pháp này đặt
HS vào các tình huống tạo điều kiện cho HS được trải nghiệm thực tế những kiến thức mình
đã học. Quy trình dạy học của phương pháp dạy học đóng vai gồm các bước sau:

Việc tích hợp giáo dục KNS trong hoạt động Nói và Nghe được thực hiện theo mức độ
tích hợp nội mơn. Điều này có nghĩa là hoạt động Nói và Nghe vẫn được học một cách độc
lập, riêng lẻ. Tích hợp diễn ra trong quá trình giảng dạy, giáo viên phát hiện và bỏ bớt các



102

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

phần kiến thức trùng lặp. Song hành cùng q trình đó, GV khai thác thêm các phần kiến
thức có tác dụng bổ trợ kĩ năng sống. Mục tiêu của mức độ này là học sinh hiểu được mạch
kiến thức chính của hoạt động Nói và Nghe, kết nối giữa Nói và Nghe với kĩ năng sống để
áp dụng vào thực tế.
Với hoạt động Nói và Nghe trong SGK Tiếng Việt 2 – bộ sách Kết nối tri thức với cuộc
sống, có thể sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để giáo dục KNS trong một số bài học.
Dựa trên cơ sở nội dung và mục tiêu đã đề ra, các KNS chủ yếu cần được tích hợp trong hoạt
động Nói và Nghe là:
- Kĩ năng chia sẻ, cảm thông
- Kĩ năng lắng nghe.
- Kĩ năng quản lý thời gian.
Ngoài các KNS trên, các hoạt động dạy học tích hợp giáo dục KNS sử dụng phương
pháp dạy học đóng vai cịn góp phần rèn luyện một số KNS khác gồm:
- Kĩ năng tự tin.
- Kĩ năng giao tiếp.
- Kĩ năng hợp tác.
2.3.3.3. Ví dụ minh họa
Trong bảng trên, câu chuyện Hai anh em thuộc tuần 14 – SGK Tiếng Việt 2 - bộ sách
Kết nối tri thức với cuộc sống thuộc chủ đề Mái ấm gia đình. Câu chuyện kể về hai người
anh em nọ hai anh em cày chung một đám ruộng. Khi ngày thu hoạch, họ cùng gặt và chia
thành hai đống bằng nhau ngoài đồng. Đêm đến, người em nghĩ: “Anh mình cịn phải ni
vợ con. Nếu phần lúa của mình cũng bằng của anh ấy thì thật khơng cơng bằng”. Vì thế,
người em ra đồng và đem lúa của mình bỏ thêm vào phần của anh. Người anh lại nghĩ: “"Em
ta sống một mình vất vả. Nếu phần của chúng ta cũng bằng phần của chú ấy thì thật khơng
cơng bằng” nên người anh cũng ra đồng và lấy lúa của mình bỏ thêm vào phần của em. Câu

chuyện Hai anh em là một câu chuyện vô cùng ý nghĩa về tình cảm gia đình. Hai anh em nọ
khơng những đối xử rất tốt với nhau mà cịn ln ln suy nghĩ cho hoàn cảnh của nhau. Sau
khi học xong bài học này, học sinh biết yêu thương, đoàn kết với anh chị em và người thân
trong gia đình.
Giáo viên có thể sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để tích hợp giáo dục KNS trong
bài học này theo tiến trình sau:
- Bước 1: GV chia lớp thành các nhóm thích hợp (nhóm 4).
- Bước 2: GV giao nhiệm vụ cho HS: Đóng vai các các nhân vật trong câu chuyện Hai
anh em, diễn lại câu chuyện và chia sẻ cảm nhận của em sau khi đóng vai các nhân vật.
- Bước 3: GV cho HS tiến hành thảo luận trong 5 phút và đóng vai.
- Bước 4: GV đưa ra nhận xét. GV đặt các câu hỏi để HS trả lời:


TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 60/2022

103

+ Nếu người anh/người em khơng u thương, chia sẻ với người cịn lại điều gì sẽ xảy ra?
+ Nếu em là người anh/người em trong câu chuyện có làm như vậy khơng? Vì sao?
+ Em học được điều gì từ hai anh em trong câu chuyện?
+ Em có anh, chị hay em? Nếu họ gặp khó khăn, em sẽ làm gì? Vì sao em lại làm như vậy?
- Bước 5: GV đưa ra kết luận: Trong cuộc sống, tình cảm gia đình ln là thứ tình cảm
thiêng liêng nhất như câu ca dao: Anh em như thể tay chân- Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ
đần. Mỗi chúng ta cần biết quan tâm, yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ anh chị em trong gia đình.

3. KẾT LUẬN
Dạy học tích hợp KNS trong mơn Tiếng Việt, đặc biệt là hoạt động Nói và Nghe là yếu
tố cần thiết và góp phần quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm
chất của HS. Với kết quả nghiên cứu ở trên, chúng tơi đã làm rõ ngun tắc, quy trình, nội
dung và phương pháp tích hợp giáo dục KNS trong SGK Tiếng Việt 2 nói chung, bộ sách

Kết nối tri thức với cuộc sống nói riêng. Tuy nhiên, đây là một quá trình khơng hề dễ dàng.
Để nội dung tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Hoạt động Nói và Nghe - Bộ sách Kết
nối tri thức với cuộc sống phát huy hiệu quả, ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc tích hợp và
thực hiện các nội dung tích hợp thì còn cần đến sự kết hợp đồng bộ của nhiều yếu tố khác
trong q trình giáo dục. Đó là vai trò của nhà trường tiểu học trong việc chỉ đạo, hướng dẫn
tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, tập huấn nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên về dạy
học tích hợp và tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong nội bộ các mơn học nói chung,
mơn Tiếng Việt nói riêng. Sau đó là vai trị của giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt
động dạy học tích hợp giáo dục KNS là yếu tố quyết định.
Vì vậy, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban giám hiệu Nhà trường, giáo viên tiểu học
với sự say mê tìm tịi và tinh thần trách nhiệm cao, cần có định hướng xây dựng kế hoạch
dạy học tích hợp đảm bảo mục tiêu, nội dung, phương pháp và tổ chức đánh giá quá trình
giáo dục KNS phù hợp đặc điểm học sinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thơng mơn Ngữ Văn (Ban hành kèm
theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Tài liệu tập huấn giáo viên môn Tiếng Việt 2 – bộ sách Kết nối
tri thức với cuộc sống, Nxb. Giáo dục.
3. Nguyễn Thanh Bình (2016), Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh phổ thông, Nxb. Đại học Sư phạm.
4. Lê Ngọc Bích, “Tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong dạy học Tiếng Việt lớp 3 (2017)”, Luận án
thạc sĩ Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
5. Đặng Vũ Hoạt (Chủ biên) (2016), Giáo dục học Tiểu học I, Nxb. Đại học Sư phạm.
6. Bùi Mạnh Hùng (Chủ biên) (2021), SGK Tiếng Việt 2 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống,


104

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI


Nxb. Giáo dục.
7. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) (2019), Hướng dẫn dạy học môn Tiếng Việt theo Chương trình giáo
dục phổ thơng mới, Nxb. Đại học Sư phạm
8. Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO (1972), Paris.

INTEGRATING LIFE SKILLS EDUCATION FOR PRIMARY SCHOOL
STUDENTS IN TEACHING SPEAKING AND LISTENING ACTIVITIES
– THE BOOK SERIES CONNECTING KNOWLEDGE WIHT LIFE
Abstract: Education life skills for primary students is beneficial for their growth. These
skills should be conducted flexibly and integrated into many different learning themes and
activities in Vietnamese teaching, including speaking and listening activities. The article
clarifies the importance of Speaking and Listening activities in life skills education for
primary school students. Hence, the author proposes principles, processes, and integrated
contents to effectively teach life skills to primary school students, especially grade 2 students.
Keywords: Life skills education, primary school students, speaking and listening activities,
life skills, integration.



×