Tải bản đầy đủ (.pdf) (148 trang)

Tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 148 trang )

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong khóa luận tốt nghiệp của mình, tơi xin gủi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc nhất tới Ths. Đinh Thị Nguyệt Linh, người đã trực
tiếp hướng dẫn, động viên, nhiệt tình giúp đỡ và chỉ bảo cho tơi trong suốt
q trình nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Giáo dục
Tiểu học và Mầm non, trường Đại học Hùng Vương đã trang bị cho tôi hành
trang tri thức và kĩ năng vững chắc trong học tập và nghiên cứu khoa học, tạo
mọi điều kiện giúp đỡ tơi trong q trình học tập tại trường và hồn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Đồng thời, tơi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giáo hiệu và các thầy, cô
giáo trường Tiểu học Minh Côi, xã Minh Côi, huyện Hạ Hịa, tỉnh Phú Thọ đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi khi tiến hành điều tra
và thực nghiệm đề tài của mình tại trường.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè - những
người đã ln cổ vũ, động viên tôi từ những ngày đầu thực hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên khóa luận của tơi khơng thể tránh
khỏi những thiếu sót và sơ suất. Vì vậy, tơi rất mong nhận được sự góp ý của
các thầy cơ và các bạn để cơng trình nghiên cứu của tơi được hồn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Phú Thọ ngày

tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Phùng Lan Anh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là


của riêng tơi. Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận là trung
thực. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các
thơng tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc và được phép
công bố.
Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Phú Thọ, tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện

Phùng Lan Anh


DANH MỤC CÁC CHỮ VẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
GDMN

Giáo dục mầm non

GDPT

Giáo dục phổ thông

GDTX

Giáo dục thường xuyên

KNS

Kĩ năng sống

GD&ĐT


Giáo dục và Đào tạo

SGK

Sách giáo khoa


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................... 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ...................................................................... 3
2.1. Ý nghĩa khoa học ...................................................................................... 3
2.2. Ý nghĩa thực tiễn ....................................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 4
5.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 4
5.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 4
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận (Phân tích và tổng hợp lí thuyết) .. 4
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn .................................................. 5
6.2.1. Phương pháp quan sát............................................................................. 5
6.2.2. Phương pháp điều tra.............................................................................. 5
6.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia ........................................................ 6
6.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm........................................................ 6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP Ở TIỂU
HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................... 7
1.1.1. Các nghiên cứu về KNS ở nước ngoài .................................................... 7

1.1.2. Các nghiên cứu về KNS trong nước ....................................................... 9
1.2. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 10
1.2.1. Quan điểm dạy học tích hợp ................................................................... 10
1.2.2. Khái niệm KNS và giáo dục KNS ..........................................................
1.3. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 16
1.3.1. Tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Kể


chuyện chương trình Tiếng Việt hiện hành ...................................................... 16
1.3.2. Khả năng tích hợp giáo dục KNS trong dạy học kể chuyện lớp 4 ........... 17
1.3.3. Thực trạng việc tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện
lớp 4 trường Tiểu học Minh Côi ....................................................................... 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................... 22
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG
SỐNG TRONG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN LỚP 4
2.1. Cơ sở đề xuất các hoạt động dạy học tích hợp giáo dục KNS ở trường
Tiểu học ........................................................................................................... 23
2.1.1. Cơ sở tâm lý học .................................................................................... 23
2.1.2. Cơ sở sinh lý học .................................................................................... 25
2.2. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động tích hợp giáo dục KNS......................... 27
2.2.1. Đảm bảo mục tiêu, nội dung bài học……………………………….........27
2.2.2. Đảm bảo phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi, nhu
cầu và hứng thú của học sinh ............................................................................ 28
2.2.3. Đảm bảo cân đối giữa lý thuyết và thực tiễn, tính khoa học và tính sư
phạm ................................................................................................................ 30
2.2.4. Đảm bảo tính chỉnh thể, nhất quán và phát triển liên tục......................... 34
2.2.5. Đảm bảo cân đối giữa các hoạt động cá nhân với hoạt động tập thể,
hoạt động trong giờ học và ngoài giờ lên lớp, hoạt động trong nhà trường
và ngoài nhà trường .......................................................................................... 35
2.2.6. Đảm bảo sự đa dạng hóa các hình thức tổ chức ...................................... 39

2.2.7. Đảm bảo tính khả thi .............................................................................. 45
2.3. Xây dựng một số hoạt động tích hợp giáo dục Kỹ năng sống trong dạy
học Kể chuyện lớp 4, trường Tiểu học Minh Cơi, xã Minh Cơi, huyện Hạ
Hịa, tỉnh Phú Thọ ............................................................................................ 46
2.3.1. Dạy học tích hợp giáo dục KNS trong giờ Kể chuyện ............................ 46
2.3.2. Dạy học tích hợp giáo dục KNS thơng qua các hoạt động ngồi giờ
trên lớp của phân mơn Kể chuyện lớp 4 ........................................................... 58


2.3.3. Dạy học tích hợp giáo dục KNS thơng qua tổ chức các chuyên đề ......... 66
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2................................................................................... 80
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................... 81
3.2. Đối tượng, địa điểm, thời gian thực nghiệm .............................................. 81
3.3. Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 86
3.4. Phương pháp tổ chức thực nghiệm ............................................................ 86
3.5. Tổ chức thực nghiệm ................................................................................. 87
3.6. Kết quả thực nghiệm ................................................................................ 88
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3................................................................................... 93
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận........................................................................................................ 94
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 94
TÀI LỆU THAM KHẢO ............................................................................... 96
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Căn cứ vào Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục và đào tạo cùng với

xu thế “toàn cầu hóa” và “hội nhập kinh tế” với các quốc gia trên thế giới, con
người ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Để đáp ứng
được yêu cầu của xã hội và ứng phó với những thách thức đó địi hỏi con
người phải tự trang bị cho mình những kĩ năng cơ bản và cần thiết. Chính
thực tế này đã khiến các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm, chú trọng đến vấn đề
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở các bậc học.
Giáo dục KNS cho học sinh trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng
với tồn bộ các cấp học nói chung và cho cấp Tiểu học nói riêng - cấp học
nền tảng đóng vai trị quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Theo
công văn số 463 của Bộ Giáo dục & Đào tạo (hướng dẫn triển khai thực hiện
giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX) đã nêu ra
những định hướng về nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cấp Tiểu
học, đó là: “Tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở mầm non, tập
trung hình thành cho học sinh kỹ năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè;
kỹ năng xây dựng tình bạn đẹp; kỹ năng kiên trì trong học tập; kỹ năng đúng
giờ và làm việc theo yêu cầu, kỹ năng đồng cảm,... tạo tiền đề cho sự phát
triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất, học vấn và năng lực của học
sinh”. Đồng thời, công văn cũng đề ra được các phương thức tổ chức giáo dục
KNS cho học sinh (đặc biệt là giáo dục KNS theo hướng tích hợp vào các
mơn học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường).
Năm 2017, chương trình GDPT mới chính thức được ban hành, trong đó
vừa kế thừa vừa phát triển những ưu điểm của chương trình GDPT hiện hành.
Chương trình GDPT mới được xây dựng theo mơ hình phát triển năng lực,
thơng qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp
tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển
những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng.


Giáo dục KNS không phải một môn học độc lập trong hệ thống các mơn
học ở phổ thơng nhưng nó lại là một yêu cầu tất yếu cần có trong nội dung

dạy học tích hợp hiện nay. Mỗi mơn học có mức độ biểu hiện nội dung giáo
dục KNS khác nhau nhưng tựu chung lại chúng đều hàm ẩn nội dung này.
Trong hệ thống các môn học của bậc giáo dục Tiểu học thì Tiếng Việt là mơn
khoa học xã hội và nhân văn nắm vai trò chủ đạo trong việc giáo dục các
KNS cho học sinh. Môn Tiếng Việt bao gồm 5 phân mơn: Tập đọc, Kể
chuyện, Chính tả, Luyện từ & câu, trong đó phân mơn Kể chuyện được coi
như là một phương tiện giáo dục quan trọng và có hiệu quả giáo dục KNS tối
ưu.
Thơng qua hoạt động của tiết học kể chuyện các em được vận dụng một
cách sáng tạo theo khả năng cá nhân các kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết, trau
dồi kiến thức về mở rộng vốn từ ở nhiều chủ điểm khác nhau, bồi dưỡng thêm
về ngữ pháp Tiếng Việt, cách sử dụng các kiểu câu. Bên cạnh đó, hoạt động
kể chuyện cịn giúp các em có cơ hội sáng tạo ngôn ngữ, diễn đạt trôi chảy
khi kể về những câu chuyện mình đã được chứng kiến (tham gia) bằng lời kể
của chính các em. Một chức năng quan trọng hơn cả của phân môn Kể chuyện
là giáo dục các em tình cảm yêu thương (yêu gia đình, quê hương, đất nước),
sự đồng cảm với những mảnh đời bất hạnh, sự nhận thức rõ ràng về yêu ghét,
thiện - ác, tốt - xấu, ... Từ đó, giáo dục cho các em lối sống có lí tưởng, vươn
tới cái đẹp và hành động vì cái đẹp. Vì vậy, việc kết hợp giáo dục KNS cho
học sinh thông qua phân môn Kể chuyện khơng làm cho chương trình mơn
học tăng thêm kiến thức mà lại gây được sự u thích, muốn tìm tịi ở các em
(bởi lẽ chính bản thân phân mơn này đã hàm chứa nội dung dạy học KNS cho
học sinh).
Sau khi khảo sát các giờ dạy kể chuyện lớp 4 trong nhà trường tiểu học,
chúng tôi nhận thấy rằng các nội dung của phân môn này khi được đưa vào
chương trình SGK đều là những câu chuyện mang giá trị nội dung và nghệ
thuật đặc sắc, có tác dụng bồi dưỡng tâm hồn và các giá trị sống đẹp cho học
sinh. Tuy vậy, trong thực tế giảng dạy, việc dạy học kể chuyện kết hợp với



giáo dục KNS cho học sinh chưa được chúng ta khai thác triệt để nội dung
của các câu chuyện và đặc biệt đề kể chuyện ở lớp 4, nhằm trang bị cho các
em những kiến thức sống cần thiết khi bước vào đời. Về phía giáo viên, một
bộ phận giáo viên chưa thực sự quan tâm đến vấn đề giáo dục KNS cho học
sinh mà chỉ trú trọng đến truyền thụ kiến thức ở SGK nên chưa tìm tịi các
hình thức và phương pháp tổ chức cho hoạt động này; do thời gian các tiết
học hạn chế gây nên khó khăn trong việc kết hợp giáo dục KNS với dạy học
kể chuyện. Về phía học sinh, các em học tập thụ động, chưa có sự sáng tạo
trong các tiết học kể chuyện, chưa biết cách đưa những kinh nghiệm, kĩ năng
của mình vào hoạt động kể chuyện.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn đã nêu trên, cùng với mong
muốn tìm ra những phương pháp dạy học nhằm giáo dục học sinh những giá
trị sống, kĩ năng sống thơng qua dạy học kể chuyện ở chương trình Tiếng Việt
lớp 4, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong
dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 4”.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần xây dựng cơ sở lí luận của việc tích hợp giáo dục KNS
trong dạy học kể chuyện lớp 4 ở trường Tiểu học.
- Bước đầu làm rõ khả năng và hiệu quả của việc tích hợp giáo dục kĩ
năng sống trong dạy học Kể chuyện lớp 4.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xây dựng được phiếu học tập với nội dung tích hợp giáo dục KNS
trong dạy học phân môn Kể chuyện lớp 4.
- Thiết kế được các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong phân
môn Kể chuyện lớp 4.
- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên
ngành giáo dục Tiểu học và những ai quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh trong dạy học Kể chuyện.
3. Mục tiêu nghiên cứu



Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ ra cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn
của việc tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện lớp 4 và
xác đinh được khả năng tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện.
Thông qua việc khảo sát tình hình thực tế dạy học Kể chuyện tích hợp giáo
dục KNS ở lớp 4 tại trường thực nghiệm để tổ chức một số hoạt động dạy học
phân mơn Kể chuyện có tích hợp nội dung giáo dục KNS và thiết kế được các
phiếu học tập hỗ trợ cho việc dạy và học Kể chuyện nhằm nâng cao chất
lượng môn Tiếng việt ở trường tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc vận dụng tích hợp
giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện lớp 4.
- Nghiên cứu thực trạng của việc vận dụng dạy học tích hợp giáo dục
KNS trong dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 4, trường Tiểu học .
- Khảo sát khả năng tích hợp giáo dục KNS trong dạy học phân môn Kể
chuyện lớp 4, từ đó xây dựng và thiết kế được các phiếu học tập; tổ chức các
hoạt động tích hợp giáo dục KNS với dạy học Kể chuyện lớp 4.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc dạy học tích hợp giáo dục KNS
trong dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát việc dạy học tích hợp giáo dục KNS trong dạy học kể
chuyện cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Minh Cơi, xã Minh Cơi, huyện Hạ
Hịa, tỉnh Phú Thọ. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Các tiết Kể chuyện lớp 4.
- Nội dung, chương trình giáo dục KNS trong phân môn Kể chuyện cho
học sinh lớp 4.
- Các câu hỏi tích hợp giáo dục KNS với nội dung của phân mơn Kể

chuyện.
- Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNS.


6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tơi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận (Phân tích và tổng hợp lí
thuyết)
Phân tích lí thuyết là thao tác phân tài liệu lí thuyết, các đề tài nghiên
cứu, giáo trình tham khảo thành các đơn vị kiến thức rồi tổng hợp lại các kiến
thức đó sao cho phù hợp. Thực hiện phương pháp phân tích và tổng hợp kiến
thức giúp người nghiên cứu nắm vững bản chất của kiến thức và của vấn đề
cần nghiên cứu, cho phép xây dựng các giả thuyết và tiến tới tạo thành các lí
thuyết khoa học.
Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết được thực hiện chủ yếu ở
chương 1 (cơ sở khoa học của việc dạy học trải nghiệm), để hình thành các
luận điểm làm sáng tỏ hướng triển khai của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện,
hiện tượng, q trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn
cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc
trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó.
Việc sử dụng phương pháp quan sát giúp người nghiên cứu nhận xét,
đánh giá tổng quan về thực tiễn vấn đề được nghiên cứu từ đó đưa ra những
kết luận xác thực trong q trình nghiên cứu.
Phương pháp quan sát được thực hiện trong cả quá trình nghiên cứu,
đặc biệt ở Chương 3 của đề tài.
6.2.2. Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra nhằm khảo sát số lượng lớn các đối tượng nghiên
cứu nhằm thu thập các số liệu, hiện tượng để từ đó phát hiện các vấn đề giải


quyết, định tính phổ biến, nguyên nhân chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp
theo.
Thực hiện dự giờ điều tra, phỏng vấn, trao đổi với các giáo viên giỏi, có
kinh nghiệm chuyên môn ở trường Tiểu học, lấy ý kiến đóng góp qua phiếu
điều tra. Phương pháp điều tra được thực hiện ở Chương 1 và Chương 3 của
đề tài.
6.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Đó là phương pháp thu thập thông tin, nhận định, đánh giá một sản
phẩm khoa học bằng cách sử dụng trí tuệ của đội ngũ chun gia có trình độ
cao về một lĩnh vực nhất định.
Phương pháp này sẽ giúp người nghiên cứu có được những đánh giá cụ
thể về cơng trình nghiên cứu của mình. Cụ thể là lấy ý kiến từ giảng viên
hướng dẫn, các giáo viên giỏi ở trường Tiểu học.
6.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu thập thông tin
về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối
tượng giáo dục do người nghiên cứu tác động đến.
Áp dụng phương pháp này vào đối tượng học sinh lớp 4 nhằm kiểm
nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả để hồn thiện đề tài.

PHẦN NỘI DUNG


CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP Ở TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1. Các nghiên cứu về KNS ở nước ngồi
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều quan niệm về KNS, mỗi một quan
niệm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau của cuộc sống.
Trong hệ thống các quan niệm về KNS (quan niệm của “Tổ chức Y tế thế
giới” (WHO), của “Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc” (UNICEF) thì quan niệm
rộng nhất là của “Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc”
(UNESCO) đưa ra, KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết
(Learning to know) - Học để làm (Learning to do) - Học để cùng chung sống
(Learning to live together) - Học để tự khẳng định mình (Learning to be).
* Theo“Tổ chức văn hố, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc”
UNESCO, KNS được định nghĩa như sau: “KNS là năng lực cá nhân để thực
hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày ”.
KNS được phân loại thành các kĩ năng sau:
+ Các kĩ năng cơ bản: kĩ năng “Đọc - Viết - Tính tốn”, đây là các kĩ
năng phục vụ thiết thực, trực tiếp cho hoạt động của con người hàng ngày.
+ Các kĩ năng chung: bao gồm các kĩ năng như kĩ năng ra quyết định,
kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giáo tiếp, kĩ năng
xác định mục tiêu ....
+ Các kĩ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống
xã hội, như: Các vấn đề về giới tính, các vấn đề về phịng chống HIV/AIDS,
chống ma túy, rượu..., các vấn đề về gia đình trường, trường học, ...
Cả 3 nhóm kĩ năng này đều cần thiết đối với mỗi chúng ta, giúp chúng ta
hoàn thiện nhân cách và kĩ năng sống để hòa nhập với xu thế phát triển của
toàn cầu.
* Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), định nghĩa KNS như sau: “KNS là
những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của các nhân có


thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng
ngày”.

KNS được phân loại thành 3 nhóm:
+ Nhóm các kĩ năng nhận thức: bao gồm kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng
đặt mục tiêu, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng tư duy phê phán,...
+ Nhóm các kĩ năng xã hội: bao gồm kĩ năng giao tiếp, kĩ năng cảm
thông, kĩ năng hợp tác,...
+ Nhóm các kĩ năng cảm xúc: bao gồm kĩ năng ứng phó với cảm xúc,
kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng điều chỉnh cảm xúc,...
* Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), định nghĩa
KNS như sau: “KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội có liên quan đến tri thức,
những giá trị và thái độ, cuối cũng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho
các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách
thức của cuộc sống”.
Theo sách “Kỹ năng sống” của Trần Đại Vi, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, KNS được phân thành 3 nhóm sau:
+ Nhóm kĩ năng xã hội: bao gồm kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đàm
phán - thương lượng - từ chối, kĩ năng quan hệ xã hội, kĩ năng hợp tác, kĩ
năng thấu cảm, kĩ năng động viên.
+ Nhóm kĩ năng phát triển nhận thức: bao gồm kĩ năng ra quyết định
và giải quyết vấn đề, kĩ năng suy nghĩ có phán đốn, kĩ năng tư duy sáng tạo.
+ Nhóm kĩ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân: bao gồm
kĩ năng quản lí căng thẳng, kĩ năng quản lí cảm xúc, kĩ năng tự điều chỉnh.
Ngồi 3 cách phân loại trên cịn có rất nhiều các quan niệm của các tổ
chức, nhà nghiên cứu khác nhau trên tồn thế giới. Tuy có sự khác biệt về
quan niệm KNS nhưng tựu chung lại các tổ chức UNESCO, WHO, UNICEF
đã thống nhất được 10 kĩ năng sống cơ bản nhất, cần thiết nhất đối với cuộc
sống của tất cả mọi người:
1. Kĩ năng ra quyết định
2. Kĩ năng giải quyết vấn đề



3. Kĩ năng tư duy sáng tạo
4. Kĩ năng tư duy phê phán
5. Kĩ năng truyền thơng có hiệu quả
6. Kĩ năng giao tiếp
7. Kĩ năng tự nhận thức
8. Kĩ năng thấu cảm
9. Kĩ năng phó với cảm xúc
10. Kĩ năng ứng phó với stress
Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến vấn đề đưa nội
dung giáo dục KNS vào nội dung dạy học trong nhà trường, trong đó đã có
hơn 143 nước đã đưa dạy học KNS vào chương trình dạy học chính khóa ở
Tiểu học và Trung học. Việc giáo dục KNS cho học sinh ở các nước được
thực hiện theo 3 hình thức sau:
+ KNS là một môn học riêng biệt.
+ KNS được tích hợp vào một số mơn học chính.
+ KNS được tích hợp vào nhiều hay tất cả các mơn học có trong
chương trình học.
Để tránh sự quả tải trong các nhà trường thì chủ yếu các nhà trường chọn
hình thức tích hợp giáo dục KNS vào một phần của nội dung mơn học mà chủ
yếu là tích hợp vào các môn xã hội như: giáo dục mỗi trường, giáo dục sức
khỏe, giáo dục giới tính, ....
Mặc dù giáo dục KNS đã được tiến hành ở rất nhiều nước trên thế giới
nhưng quan niệm về nội dung giáo dục KNS ở các nước lại không đồng nhất.
Do phần lớn các nước đều đang trong quá trình triển khai giáo dục KNS cho
học sinh nên những nghiên cứu, lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú
nhưng chưa thật sự sâu sắc và tồn diện. Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có
quốc gia nào tìm ra được kinh nghiệm thống nhất tiêu chí đánh giá chất lượng
của giáo dục KNS.
1.1.2. Các nghiên cứu về KNS trong nước
Hiện nay, ở Việt Nam cũng có khá nhiều quan niệm khác nhau về KNS.



TH.S Nguyễn Thị Oanh trình bày quan điểm: “KNS với tư cách là đối
tượng của giáo dục KNS là năng lực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với
những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
Trong bài viết “Khái niệm kĩ năng sống nhìn từ góc độ tâm lí học”, PGS.
Nguyễn Quang Duẩn (ĐH Sư phạm Hà Nội) đưa ra khái niệm về KNS như
sau: “KNS là một tổ chức phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói lên
năng lực sống của con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống
hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”.
Theo định nghĩa này, KNS được chia thành 3 nhóm kĩ năng sau:
+ Nhóm kĩ năng về cuộc sống cá nhân
+ Nhóm kĩ năng quan hệ với người khác, cộng đồng và xã hội
+ Nhóm kĩ năng công việc
Năm 1996, thuật ngữ “Kĩ năng sống” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam
qua chương trình của UNICEF do các chuyên gia Australia tập huấn “Giáo
dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh
thiếu niên trong và ngoài nhà trường”.
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và Kĩ năng sống” do UNESCO
tài trợ được tổ chức.
Năm 2005, triển khai dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ “Giáo dục dân số
và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà
trường” và đề tài cấp Bộ “Giáo dục một số kĩ năng sống cho học sinh trung
học phổ thông ” của trường ĐH Sư phạm Hà Nội triển khai.
Nhìn chung, ở Việt Nam chưa có nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh Tiểu học, đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh Tiểu học qua môn Tiếng Việt. Mức độ nghiên cứu chưa chuyên sâu và
các nghiên cứu thì chưa mang tính khả thi.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Quan điểm dạy học tích hợp

1.2.1.1. Khái niệm


Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối thống nhất.”
Theo “Từ điển Giáo dục học”: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực
khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.”
Trong “Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở Tiểu học” (2015), Bộ
Giáo dục và Đào tạo, NXB Đại học Sư phạm, các tác giả cho rằng dạy học
tích hợp là hoạt động dạy học nhằm định hướng và hình thành một số năng
lực cho người học, thực hiện yêu cầu đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo là
giảm tải và hạn chế trùng lặp kiến thức giữa các môn học với nhau. Tài liệu
đã đưa ra khái niệm dạy học tích hợp như sau:
“Dạy học tích hợp được hiểu là những hoạt động của học sinh, dưới
sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, huy động đồng thời kiến thức, kĩ năng
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thơng
qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần
thiết.” (trích Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở Tiểu học năm 2015 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, NXB Đại học Sư phạm).
Dạy học tích hợp được hiểu là những hoạt động dạy học mà giáo viên
tổ chức và hướng dẫn giúp huy động đồng thời kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập thơng qua đó hình
thành được cho học sinh kiến thức, kĩ năng mới nhằm giúp học sinh phát triển
những năng lực cần thiết.
Theo quan điểm dạy học tích hợp, mục tiêu của dạy học là hướng đến
đào tạo ra những con người với những năng lực cụ thể để giải quyết những
vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo nhất.
Vì vậy, việc đưa tư tưởng dạy học theo hướng tích hợp vào quá trình
dạy học là việc làm cần thiết, đồng thời đây cũng là một xu hướng của lí luận

dạy học và được nhiều nước trên thế giới thực hiện.
1.2.1.2. Đặc trưng của dạy học tích hợp


Chương trình dạy học truyền thống phần lớn được thực hiện theo quan
điểm tiếp cận nội dung. Chương trình dạy học được thiết kế thành các môn
học lý thuyết và môn học thực hành riêng lẻ nhau. Trong cuốn “Dạy và học
tích cực “Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” của Nguyễn Lăng Bình,
NSB Đại học Sư phạm đã đưa ra những hạn chế của chương trình này như
sau:
- Q nặng về phân tích lý thuyết, khơng định hướng thực hành.
- Thiếu và yếu trong việc chú trọng phát triển kỹ năng giao tiếp.
- Lý thuyết và thực hành tách rời nhau.
- Người học hoạt động nhóm khơng hiệu quả.
- Nội dung trong chương trình học của các lớp trùng lắp.
- Không phù hợp với xu thế học tập suốt đời…
Cùng với xu thế đổi mới về giáo dục tại Việt Nam, thì chương trình dạy
học hiện đại được thiết kế theo quan điểm kết hợp môn học và kỹ năng thực
hành nhằm giúp người học ứng dụng được các kiến thức vào thực tiễn cuộc
sống. Các nội dung dạy học được xây dựng theo quan điểm hướng đến năng
lực của người học.
Thực tế giáo dục hiện nay cho thấy, việc tích hợp giáo dục KNS trong
dạy học ở tất cả các bậc học của hệ thống giáo dục Việt Nam là rất cần thiết.
Tích hợp là hoạt động thiết kế các nội dung và tổ chức các hoạt động dạy học
khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau thành một thể thống nhất nhằm tạo
điều kiện cho học sinh phối hợp các kiến thức và kinh nghiệm trau dồi được
vào học tập. Việc tích hợp các nội dung dạy học được tiến hành một cách
khoa học và hợp lí tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách
nhẹn nhàng hơn, đồng thời giúp cho nội dung dạy học trở nên mới mẻ, thu hút
sự tập trung của người người học, mỗi bài học với nội dung tích hợp phong

phú, sinh động sẽ ln tạo ra sự thích thú, ham muốn tìm hiểu của người học.
Thơng qua đó, học sinh được tìm hiểu cùng lúc nhiều kiến thức hơn mà không
bị quá tải trong việc tiếp nhận nội dung bài học. Một bài học được tích hợp từ


nhiều môn học, nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực khác nhau, cùng có mối quan
hệ mật thiết với nhau.
1.2.1.3. Các hình thức tích hợp trong dạy học ở bậc Tiểu học
Theo cuốn “Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường tiểu học
(2015)” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXb Đại học Sư phạm đã đưa ra các
hình thức dạy học tích hợp được sử dụng ở nhà trường Tiểu học là tích hợp
trong nội bộ mơn học, tích hợp liên mơn và tích hợp xun mơn.
Các hình thức tích hợp trong nhà trường Tiểu học cụ thể như sau:
* Tích hợp trong nội bộ mơn học:
Tích hợp trong nội bộ môn học được thực hiện dựa trên việc loại bỏ các
nội dung trùng lặp giữa các phân môn, giữa các phần của môn học. Trong
cách tiếp cận này, giáo viên giúp học sinh tìm kiếm sự kết nối kiến thức, kỹ
năng giữa các chủ đề trong một mơn học. Tích hợp trong nội bộ mơn học là
việc tổng hợp một cách có hệ thống các đơn vị kiến thức có mối liên hệ trong
cùng một tiết học, một bài học hoặc một bài tập được tổng hợp nhiều mảng
kiến thức, kĩ năng liên quan nhau nhằm tăng cường hiệu quả học tập và tiết
kiệm thời gian cho người học.
Ví dụ, trong mơn Tiếng Việt ở tiểu học, hoạt động tích hợp được thực
hiện ở các nội dung sau:
+ Tích hợp các phân mơn trong mơn Tiếng Việt: tích hợp các phân mơn
Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn theo các chủ
điểm.
+ Tích hợp kiến thức về từ của phân mơn Luyện từ và câu với phân
mơn Chính tả (cách sử dụng từ ngữ, viết chính tả đúng), với phân mơn Kể
chuyện (sử dụng hợp lí các từ ngữ, các kiểu câu để có một bài kể chuyện hay)

và tích hợp với phân môn Tập làm văn (thông qua kiến thức về từ và câu
được học ở phân môn Luyện từ và câu học sinh có được vốn từ ngữ phong
phú phục vụ cho học tập Tập làm văn).


+ Tích hợp kĩ năng của phân mơn Chính tả với phân môn Tập làm văn
(hoạt động học tập phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh biết cách dùng
từ, đặt câu chính xác, sử dụng ngơn ngữ phù hợp giúp các em thực hành tốt
các bài Tập làm văn).
* Tích hợp đa mơn (tích hợp với các mơn học khác)
Tích hợp đa mơn là một hình thức dạy học theo các môn học riêng rẽ
nhưng các môn học đều có một chủ đề chung. Ở một số nước, nhà trường phổ
thơng xếp thời khóa biểu phù hợp để các mơn đều dạy chủ đề tích hợp đa mơn
trong một tuần nhất định.
+ Ví dụ, trong mơn Tiếng Việt, học sinh có thể được học nội dung tìm
hiểu về các vị anh hùng dân tộc qua: môn Tiếng việt (các bài tập đọc Hai Bà
Trưng - lớp 3, Anh hùng Núp - lớp 5, Bóp nát quả cam - lớp 2,...), mơn Lịch
sử (“Bình Tây Đại ngun sối” Trương Định - lớp 5, Phan Bội Châu và
phong trào Đông du - lớp 5, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ qn - lớp 4), mơn
Đạo đức (bài Kính u Bác Hồ - lớp 3).
* Tích hợp liên mơn
Tích hợp liên mơn là hình thức phối hợp của nhiều mơn học có liên
quan được liên kết thành một mơn học mới hệ thống những chủ đề nhất định
xuyên suốt qua các lớp.
Một hình thức phổ biến của tích hợp liên mơn là hình thành mơn học
mới so với mơn học truyền thống.
+ Trong chương trình giáo dục hiện nay, có khả năng nhiều mơn học
được xây dựng theo hình thức tích hợp liên mơn và hiệu quả của hình thức
tích hợp này đã được khẳng định trong thực tế.
Trong các mơn học đó, có thể có nội dung riêng của từng lĩnh vực khoa

học, cũng có nội dung hịa vào nhau và không phân biệt rõ thuộc lĩnh vực
khoa học nào.
* Tích hợp xun mơn


Trong cách tiếp cận tích hợp xun mơn, giáo viên tổ chức chương
trình học tập xoay quanh các vấn đề mà người học quan tâm. Trong hình thức
tiếp cận này, học sinh được học và hình thành kiến thức, kĩ năng ở nhiều thời
điểm và thời gian khác nhau, theo sự chọn lựa của người dạy hoặc người học.
Thông qua tích hợp xun mơn, học sinh có điều kiện được phát triển
các kĩ năng sống khi áp dụng các kĩ năng của mơn học và liên mơn vào hồn
cảnh thực tế của cuộc sống. Tích hợp xun mơn thường sử dụng hai phương
pháp tích hợp đó là học theo dự án và thương lượng chương trình học.
Học theo dự án là phương pháp học tập mà trong đó giáo viên tổ chức
giao cho học sinh một dự án để thực hiện, qua đó người học phải hợp tác với
nhau để cùng thiết kế một chương trình hoạt động, phải cùng nhau hoạt động,
cùng nhau thực hiện, cùng nhau đánh giá kết quả đạt được của hoạt động. Học
theo dự án giúp người học làm chủ được các hoạt động học tập, có điều kiện
phát triển các kĩ năng như kĩ năng xây dựng chương trình, tự nhận thức,
thương lượng, giải quyết vấn đề.
Thương lượng chương trình học là phương pháp học tập trong đó diễn
ra sự “thỏa thuận” giữa người dạy và người học, người học có quyền lựa chọn
chương trình học tập phù hợp với nhu cầu, sở thích và trình độ của người học.
Người học cịn được tham gia vào q trình thiết kế chương trình dạy học.
Thơng qua phương pháp tích hợp này, học sinh được rèn luyện tính tự tin,
quyết đốn và hứng thú hơn trong học tập, giúp người dạy lựa chọ nội dung,
tài liệu học tập và phương pháp giảng dạy phù hợp với người học.
1.2.2. Khái niệm KNS và giáo dục KNS
1.2.2.1. Kỹ năng sống
Chúng tôi thể hiện quan điểm thống nhất với khái niệm của UNESCO,

đó là: “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham
gia vào cuộc sống hàng ngày”.
1.2.2.2. Giáo dục KNS


Bên cạnh việc trang bị kiến thức cho học sinh, sinh viên trên lớp thì
giáo dục KNS cũng là một việc rất cần thiết và quan trọng. Giáo dục kỹ năng
sống giúp các em học hỏi thêm kiến thức và kinh nghiệm về cuộc sống mà khi
còn ngồi trên ghế nhà trường các em không được tiếp cận, các em sẽ biết cách
ứng xử đúng đắn trong giao tiếp với xã hội, có thể định hướng được niềm
đam mê và sở thích của bản thân... Từ đó có thể lựa chọn được nghề nghiệp
phù hợp với trình độ chun mơn cũng như sở thích.
Giáo dục KNS là q trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm
tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách vận dụng kiến thức đã được học
thành thái độ tích cực trong hành động thực tế.
Giáo dục KNS cho học sinh là giáo dục cho các em cách sống tích cực,
là xây dựng hoặc thay đổi ở các em những hành vi theo hướng tích cực để phù
hợp với mục tiêu phát triển tồn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp
học sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Vai trò của việc tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện
chương trình Tiếng Việt hiện hành
Tích hợp giáo dục KNS trong mơn Tiếng việt nói chung và tích hợp
giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện nói riêng là một trong những hoạt
động giáo dục cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới dạy học hiện nay.
KNS đóng một vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, đặc
biệt là trong định hướng phát triển và hoàn nhân cách cho người học.
Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội
Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân, cộng đồng nhằm nâng
cao chất lượng cuộc sống và giúp cho con người xây dựng một xã hội có văn

hóa. Các KNS chỉ được hình thành thơng qua giáo dục, đào tạo và rèn luyện.
Các KNS có liên quan và hỗ trợ cho nhau.
Ví dụ: Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp cho con người tăng khả năng giải
quyết vấn đề và đưa ra các quyết định.


Mặt khác, KNS cịn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp
ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người. Các cá nhân đều
được trang bị đầy đủ những KNS cơ bản và cần thiết thì nguồn lao động của
xã hội sẽ được đảm bảo và đáp ứng được nhu cầu đổi mới của thế giới. Đây là
nmột trong những nhân tố tạo nên sự vững vàng cho sự phát triển kinh tế, xã
hội,... Từ đó, góp phần đẩy lùi các tai tệ nạn xã hội, xây dựng một xã hội văn
minh và tiến bộ hơn.
Giáo dục KNS chú trọng đến đào tạo nguồn nhân lực dồi dào, có chất
lượng, có trình độ và có đầy đủ các năng lực cần thiết phục vụ cho xã hội hiện
đại, văn minh.
1.3.2. Khả năng tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện lớp 4
Cũng như các phân môn khác trong môn Tiếng việt, Kể chuyện giữ một
vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục tiếng mẹ đẻ, trước hết vì hành động
kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Kể chuyện vận
dụng một cách tổng hợp nhất những sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện
cho học sinh được rèn luyện tổng hợp các kĩ năng Tiếng Việt như nghe, đọc,
nói trong hoạt động giao tiếp.
Kể chuyện cũng là phân mơn có khả năng tích hợp giáo dục KNS hiệu
quả nhất trong các phân môn của Tiếng Việt bởi vì hầu hết các bài kể chuyện
đều có thể tích hợp giáo dục KNS cho học sinh ở một mức độ nhất định, mỗi
câu chuyện được đưa vào chương trình dạy học Kể chuyện của bậc Tiểu học
đều mang nội dung, ý nghĩa giáo dục sâu sắc.
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, có tất cả 10 chủ điểm và được
chia đều cho hai học kì. Các chủ điểm như sau:

Chủ điểm 1: Thương người như thể thương thân
Chủ điểm 2: Măng mọc thẳng
Chủ điểm 3: Trên đơi cánh ước mơ
Chủ điểm 4: Có chí thì nên
Chủ điểm 5: Tiếng sáo diều
Chủ điểm 6: Người ta là hoa đất


Chủ điểm 7: Vẻ đẹp muôn màu
Chủ điểm 8: Những người quả cảm
Chủ điểm 9: Khám phá thế giới
Chủ điểm 10: Tình yêu cuộc sống
Từ các chủ đề này, chúng tôi rút ra được các KNS cơ bản cần giáo dục
cho học sinh lớp 4 như sau:
+ Kĩ năng giao tiếp.
+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông.
+ Kĩ năng xác định giá trị.
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo.
Giáo dục KNS và phân mơn Kể chuyện có mối liên hệ gần gũi với
nhau, cụ thể:
Về mục tiêu: mục tiêu của giáo dục KNS và mục tiêu phân môn Kể
chuyện đều nhằm giúp học sinh trang bị được hệ thống kiến thức, giá trị, thái
độ và cách ứng xử phù hợp để hình thành những hành vi, thói quen tích cực,
biết phân biệt cái tốt và cái xấu.
Về nội dung: nội dung của giáo dục KNS chính là giáo dục những kĩ
năng cơ bản và cần thiết nhất đối với học sinh. Đây cũng chính là điểm chung
giữa giáo dục KNS với phân mơn Kể chuyện. Bởi vì, phân mơn Kể chuyện
đưa ra các câu chuyện mà nội dung của các câu chuyện hàm chứa cả những
KNS cần thiết đối với học sinh và thông qua các câu chuyện này nhằm bồi
dưỡng về nhận thức, giá trị, thái độ và những hành vi đúng đắn cho học sinh.

Về phương pháp và hình thức tổ chức: đặc trưng của giáo dục KNS là
giáo dục thông qua hai phương pháp chủ yếu đó là phương pháp đóng vai và
phương pháp nghiên cứu tình huống. Mối quan hệ mật thiết ở đây chính là hai
phương pháp này đều là các phương pháp được sử dụng trong dạy học Kể
chuyện. Chính là thơng qua các câu chuyện giáo viên giúp học sinh khai thác
dữ liệu, chất liệu từ các câu chuyện, các tình huống truyện. Trong thực tế
giảng dạy, giáo viên thường sử dụng phương pháp đóng vai để giúp học sinh
nhập tâm vào câu chuyện, dễ dàng hiểu nội dung câu chuyện, được hóa thân


làm nhân vật trong chuyện để các em hiểu rõ hơn về ý nghĩa của câu chuyện.
Đây chính là điểm cầu nối mật thiết giữa giáo dục KNS với phân môn Kể
chuyện.
Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói. Khi
cần thay đổi hình thức diễn giảng, giảng giải nhằm thu hút sự chú ý của người
nghe, người ta cũng xen kẽ phương pháp kể chuyện. Với lứa tuổi học sinh
Tiểu học, các em thường bị thu hút bởi những điều mới lạ, vì vậy, thay đổi
cách giảng dạy bằng những câu chuyện kể là một sự lựa chọn thông minh.
Phân môn Kể chuyện đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện ở học sinh Tiểu
học, qua đó phát triển được ở các em kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ
năng nghe - nói, phát triển tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, bồi dưỡng vốn văn
học cho học sinh.
1.3.3. Thực trạng việc tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Kể chuyện lớp
4 trường Tiểu học Minh Côi
Trường Tiểu học Minh Côi, xã Minh Cơi, huyện Hạ Hịa, tỉnh Phú Thọ
là một ngôi trường nằm trên địa bàn xã Minh Côi, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú
Thọ. Từ khi mới thành lập, trường luôn là một tấm gương mẫu mực trong hệ
thống giáo dục Tiểu học của huyện Hạ Hịa, ln đi đầu trong các phong trào
thi đua của huyện và đã đạt được rất nhiều những thành tích trong phong trào,
giảng dạy. Trường Tiểu học Minh Cơi có tổng số 14 giáo viên văn hóa, 185

học sinh. Năm 2003, trường được cơng nhận là trường Tiểu học đạt chuẩn
Quốc gia, theo quyết định số 3767/QĐ-GD&ĐT ngày 16/7/2003; thời điểm
có hiệu lực cơng nhận là tháng 8 năm 2003. Đến năm 2016, theo quyết định
2483/QĐ-UBND ngày 30/9/2016 được công nhận lại là trường Tiểu học đạt
chuẩn quốc gia; có hiệu lực bắt đầu từ tháng 9 năm 2016. Trong hoạt động
đánh già ngoài, kiểm định chất lượng tại thời điểm tháng 12 năm 2017,
trường được đánh giá đạt cấp độ 1.
1.3.3.1. Nội dung khảo sát
Trong các phân môn của bộ môn Tiếng việt ở Tiểu học thì Kể chuyện
giữ một vai trị đặc biệt quan trọng bởi vì các tri thức của phân môn Kể


×