Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

So sánh tác động môi trường nuôi dưỡng và nồng độ oxy khác nhau tới tình trạng bất thường nhiễm sắc thể của phôi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (455.86 KB, 7 trang )

HỘI NGHỊ KHOA HỌC HÌNH THÁI HỌC TỒN QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2022

SO SÁNH TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG NUÔI DƯỠNG VÀ NỒNG ĐỘ OXY
KHÁC NHAU TỚI TÌNH TRẠNG BẤT THƯỜNG
NHIỄM SẮC THỂ CỦA PHƠI
Nguyễn Linh Chi1,2, Ngơ Thị Tường Châu2,
Nguyễn Đình Tảo1, Nguyễn Ngọc Diệp3
TĨM TẮT

29

Mục tiêu: Đánh giá sự bất thường nhiễm sắc
thể của phôi khi nuôi cấy ở nồng độ oxy và môi
trường nuôi cấy khác nhau (môi trường đơn
bước/ đa bước và nồng độ oxy 20%/5%)
Phương pháp: Đánh giá phân tích dựa trên
257 chu kỳ IVF/ICSI từ tháng 10/2019 đến tháng
2/2021, sử dụng 2 loại tủ ni cấy: tủ ni cấy 3
khí K-system G-210 (Úc) (5% O2, 5%CO2,
90%N2) và tủ ni cấy 2 khí Thermo Scientific
371 (Đan Mạch) (5%CO2, 75%N2, nồng độ Oxy
theo khí quyển). Nỗn trưởng thành (MI và MII)
được nuôi cấy trong môi trường đa bước G1PLUSTM (Vitrolife) hoặc môi trường đơn bước
Lifeglobal. Lựa chọn bệnh nhân <37 tuổi,
AMH>1,2 ng/ml, AFC≥4. Kết quả sàng lọc
PGT-A phôi ngày 5 cho thấy, tỷ lệ phôi bất
thường cao nhất ở nhóm ni cấy phơi bằng
nồng độ oxy cao 20% với môi trường đa bước, ở
mức 46.02±5.31%, thấp nhất ở nhóm oxy thấp
5%, đơn bước ở mức 30.74±3.50%
(


. Khi nuôi cấy trong
cùng môi trường đa bước, sự khác biệt về số
Bệnh viện Đa khoa 16A Hà Đông
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội
3
Học viện Quân Y
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Linh Chi
Email:
Ngày nhận bài: 25/7/2022
Ngày phản biện khoa học: 10/08/2022
Ngày duyệt bài: 29/08/2022
1
2

208

lượng phơi bất thường/chu kỳ cho kết quả có ý
nghĩa thống kê với
. Cụ
thể, ở nhóm 5% là 1.60±0.22 phơi/chu kỳ trong
khi ở nhóm oxy 20% là 2.08±0.28 phơi/chu kỳ
Kết luận: Nuôi cấy phôi trong môi trường
nồng độ oxy thấp giúp phơi phát triển ít bất
thường nhiễm sắc thể hơn so với khi ni cấy ở
nồng độ khí quyển.
Từ khóa: IVF, môi trường nuôi cấy, nồng độ,
bất thường nhiễm sắc thể

SUMMARY

COMPARISON THE IMPACTS OF
CULTURE MEDIA AND DIFFERENT
OXYGEN CONCENTRATION TO
CHROMOSOMAL A BNORMALITIES
OF EMBRYOS
Objective: Evaluating the chromosomal
abnormalities of embryos when cultured at
different oxygen concentrations and culture
medium (single step/multistep medium, oxygen
concentration 20%/5%)
Methods: analytical evaluation based on 257
cycles of IVF/ICSI from October 2019 to
February 2021, using 2 types of incubator: Ksystem G-210 3-gas incubator (Australia) (5)
%O2, 5%CO2, 90%N2) and Thermo Scientific
371 (Denmark) 2-gas incubator (5%CO2, 75%N2
and using atmospheric Oxygen concentration).
Mature oocytes (MI and MII) were cultured in
G1-PLUSTM multistep medium (Vitrolife) or
Lifeglobal single step medium. Select patients


TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 518 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

<37 years old, AMH>1.2 ng/ml, AFC≥4. The
results of embryo PGT-A screening on day 5
showed that the percentage of abnormal embryos
was highest in the group of embryo culture with
high oxygen concentration 20% with multistep
medium, at 46.02±5.31%, the lowest in low
oxygen group 5. %, single step at 30.74±3.50%

). When cultured in the
same multistep medium, the difference in
number of abnormal embryos/cycle was
statistically
significant
with
. Specifically, in the 5%
group it was 1.60±0.22 embryos/cycle while in
the 20% oxygen group it was 2.08±0.28
embryos/cycle.
Conclusion: Embryo culture in a low-oxygen
environment helped embryos develop fewer
chromosomal abnormalities than when cultured
at atmospheric concentrations.
Keywords:
IVF,
culture
medium,
concentration, chromosomal abnormalities

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản IVF
đang ngày càng được phát triển và hoàn
chỉnh hơn, giúp mang lại thành công lớn cho
các cặp vợ chồng mong con hiếm muộn. Bên
cạnh các nghiên cứu kiểm tra hình thái phơi,
các nhà khoa học còn đang tiến hành các xét
nghiệm sinh thiết sàng lọc phôi PGT-A để
đánh giá chất lượng phôi một cách tồn diện
nhất. Kết quả sàng lọc phơi PGT-A cho phép

bệnh nhân xác định và lựa chọn được phôi
tốt nhất, có tiềm năng phát triển nhất để
chuyển vào cơ thể mẹ, giúp cải thiện kết quả
thụ tinh ống nghiệm trên mỗi lần chuyển
phơi.
Tuy nhiên, để chẩn đốn di truyền trước
làm tổ một cách hiệu quả, cần sinh thiết phôi
ở giai đoạn phôi nang để lấy được mẩu tế

bào đặc trưng nhất, mà không gây ảnh hưởng
đến sự phát triển của phơi sau này. Theo đó,
mơi trường ni cấy phơi và nồng độ oxy sẽ
là hai trong những nhân tố ảnh hưởng chính
đến sự phát triển của phơi trong các giai
đoạn, quyết định sự hình thành và chất lượng
phơi nang. Thời điểm hiện tại, có hai loại
mơi trường thương mại đang được sử dụng
rộng rãi trong các trung tâm hỗ trợ sinh sản
trên thế giới: Môi trường nuôi cấy đơn bước
và mơi trường ni cấy đa bước. Bên cạnh
đó, nồng độ oxy cũng là một vấn đề đang
được tranh cãi giữa 5% O2 và 20% O2 trong
phòng labo. Từ những ngày đầu IVF, các
phịng labo ln sử dụng nồng độ oxy là
20%, tuy nhiên các chuyên gia nghiên cứu
thấy rằng nồng độ oxy thực tế trong tử cung
mẹ và động vật có vú chỉ giao động trong
khoảng 2-8% [1].
Trước đây người ta cho rằng phôi bất
thường là do di truyền của bố mẹ, tuổi mẹ, ti

thể... nhưng một số nghiên cứu gần đây cho
thấy môi trường nuôi cấy và nồng độ oxy có
thể ảnh hưởng đến kết quả PGT-A, nhưng
chưa đưa ra được khẳng định thống nhất.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu về vấn đề này,
nhưng vẫn chưa đủ bằng chứng để đưa một
kết luận cụ thể về mối quan hệ giữa môi
trường nuôi cấy và kết quả sàng lọc PGT-A
[2] [3]
Thực chất, mỗi phòng Labo Hỗ trợ sinh
sản đều có một hệ thống ni cấy riêng, điều
trị nhóm bệnh nhân đặc thù khác nhau, nên
có thể dẫn đến kết quả nghiên cứu khác nhau
giữa các trung tâm hỗ trợ sinh sản. Để đóng
góp thêm vào kết luận, chúng tơi làm nghiên
cứu so sánh kết quả sàng lọc phôi PGT-A
(phôi ngày 5) khi nuôi cấy trong môi trường
đơn bước (Global total)/mơi trường đa bước
(G1-PlusTM /G2-PlusTM) và trong nồng độ
oxy khí quyển/nồng độ oxy thấp.
209


HỘI NGHỊ KHOA HỌC HÌNH THÁI HỌC TỒN QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2022

II. THỰC NGHIỆM
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng
10/2019 đến tháng 2/2021, dựa trên các chu
kỳ IVF/tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
(ICSI) tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản, Bệnh

viện Đa khoa 16A Hà Đông. Nghiên cứu sử
dụng tủ ni cấy 3 khí K-system G-210 (Úc)
hoặc tủ ni cấy 2 khí Thermo Scientific
model 371 (Đan Mạch), môi trường nuôi cấy
sử dụng là môi trường đa bước G-1, G-2 plus
của hãng Vitrolife-Thụy Điển và môi trường
nuôi cấy đơn bước Life Global – Mỹ. Các
chu kỳ IVF/ICSI được thực hiện trong cùng
một phịng Lab với cùng quy trình lâm sàng,
quy trình phịng thí nghiệm và vật liệu tiếp
xúc. Khơng có sự thay đổi nhân viên phịng
thí nghiệm phơi học, thay đổi duy nhất là
thay đổi về môi trường ni cấy và nồng độ
oxy. Đã có sự chấp thuận của Hội đồng quản
trị Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện
16A Hà Đông, dữ liệu được thu thập từ hồ sơ
bệnh án của Trung tâm. Nghiên cứu lựa chọn
những bệnh nhân có ít nhất 4 nang thứ cấp
vào ngày 2 chu kỳ kinh, tuổi mẹ <37 tuổi và
chỉ số AMH >1,2 ng/ml. Tổng số chu kỳ
IVF/ICSI được đưa vào nghiên cứu là 341
chu kỳ với 3509 phôi.
Bệnh nhân sau khi được kích thích buồng
trứng có kiểm sốt 9-12 ngày, sau 36 giờ
tiêm rụng, bệnh nhân được hút nang qua
hướng dẫn siêu âm. Nang trứng được lấy ra
và chuyển vào phòng thụ tinh ống nghiệm
trong 2 phút, đặt trong tủ ấm 2-4 giờ để
chuẩn bị cho chu kỳ ICSI. Sau ICSI, tất cả
nỗn được đặt vào mơi trường rửa (có chứa

10% chất thay thế huyết thanh tổng hợp

210

trong 25 vi giọt) và được phân chia ngẫu
nhiên thành 4 nhóm:
Nhóm I: Phơi được ni cấy trong tủ 2
khí (20% O2, 6% CO2) với mơi trường ni
cấy đơn bước Lifeglobal.
Nhóm II: Phơi được ni cấy trong tủ 2
khí (20% O2, 6% CO2) với môi trường nuôi
cấy đa bước Vitrolife. Nuôi phôi ngày 1
trong môi trường G-1TMPLUS; Sang ngày 3
chuyển sang đĩa 4 giếng có chứa mơi trường
G-2TMPLUS.
Nhóm III: Phơi được ni cấy trong tủ 3
khí (5% O2, 6% CO2, 90% N2) với mơi
trường ni cấy đơn bước.
Nhóm IV: Phơi được ni cấy trong tủ 3
khí (5% O2, 6% CO2, 90% N2) với môi
trường nuôi cấy đa bước Vitrolife. Nuôi phôi
ngày 1 trong môi trường G-1TMPLUS; Sang
ngày 3 chuyển sang đĩa 4 giếng có chứa mơi
trường G-2TMPLUS
Tất cả các phơi đều trải qua phân loại chất
lượng tiêu chuẩn của ngày 3 và ngày 5 theo
phương pháp của đồng thuận Istanbul (Alpha
Scientists in Reproductive Medicine (2011)
[4]). Sau đó phơi được sinh thiết và mang
mẫu đi sàng lọc chẩn đoán tiền làm tổ, kết

quả PGT-A được so sánh giữa 4 nhóm mơi
trường ni cấy. So sánh các nhóm phát triển
phơi bằng phương pháp phân tích phương sai
một yếu tố để đánh giá ảnh hưởng của tác
nhân nghiên cứu lên đối tượng nghiên cứu.
Kiểm định được sử dụng là kiểm định

.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tổng số có 257 chu kỳ thụ tinh ống
nghiệm được thực hiện với ít nhất một trứng


TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 518 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

được thụ tinh. Trong đó, nhóm I có 338 phơi
tương đương với 72 chu kỳ, nhóm II có 228
phơi tương đương với 52 chu kỳ, nhóm III có
268 phơi tương đương với 58 chu kỳ, nhóm
IV có 328 phơi tương đương với 75 chu kỳ.

Trong các chu kỳ IVF, ở cả 4 nhóm
nghiên cứu, tuổi trung bình của bệnh nhân và
thời gian vơ sinh tại thời điểm chọc noãn, chỉ
như chỉ số nội tiết khơng có sự khác biệt
(bảng 1) (với giá trị

).


Bảng 1: Phân loại thơng tin cơ bản của bệnh nhân
Chỉ tiêu

Nhóm I

Nhóm II

Nhóm III

Nhóm IV

Thời gian vơ
4.13±0.55
3.66±0.50
4.12±0.56
4.28±0.49
0.9661
sinh/chu kỳ
Tuổi trung
31.27±0.88
31.45±1.01
30.94±1.01
31.20±0.92
0.1811
bình/chu kỳ
AMH (ng/mL)
3.63±0.44
3.99±0.73
3.88±0.64
3.52±0.56

0.527
Số nang thứ
10.87±0.84
11.56±1.10
11.49±1.07
10.32±0.85
1.5194
cấp AFC
Số nỗn trung bình sau chọc hút và số nỗn trưởng thành của mỗi bệnh nhân trong bốn
nhóm tương đương nhau. Tỷ lệ thụ tinh của các noãn trưởng thành cao, sự khác biệt về tỷ lệ
thụ tinh giữa các nhóm khơng có ý nghĩa thống kê. Tương tự, số lượng phơi trung bình của
hai nhóm tương đương nhau (bảng 2).
Bảng 2. Đặc điểm KTBT của các bệnh nhân hai nhóm
Đặc điểm

Nhóm I

Nhóm II

Nhóm III

Nhóm IV

Số nỗn/chu kỳ
11.17±1.02
12.51±1.55
12.20±1.19
11.55±1.10 0.9856
Số phôi ngày
9.80±0.99

11.11±1.50
10.68±1.14
9.80±0.98
1.2716
1/chu kỳ
Tỷ lệ thụ tinh
86.26±1.83
85.77±2.29
86.20±2.28
83.76±2.39 1.2228
(%)/chu kỳ
Kết quả từ bảng 3 cho thấy, sự khác biệt về số lượng phơi ngày 5 trung bình khi sàng lọc
đối với mỗi chu kỳ ở cả 4 nhóm nghiên cứu khơng có ý nghĩa thống kê, số lượng phơi sàng
lọc mỗi nhóm giao động khoảng 4 - 5 phơi mỗi chu kỳ. Sự khác biệt về số lượng phôi bất
thường trung bình đối với mỗi chu kỳ cũng như tỷ lệ phơi bất thường cho kết quả có ý nghĩa
thống kê
Bảng 3. Kết quả sàng lọc PGT phơi ngày 5
Đặc điểm

Nhóm I

Nhóm II

Nhóm III

Nhóm IV

Số lượng bệnh nhân
sàng lọc


72

52

58

75

211


HỘI NGHỊ KHOA HỌC HÌNH THÁI HỌC TỒN QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2022

Tổng số phôi sàng
338
228
268
328
lọc
Số phôi sàng
4.69±0.43
4.38±0.53
4.62±0.48
4.37±0.44
0.3615
lọc/chu kỳ
Số phôi bất thường
138
108
90

120
Số lượng phôi bất
1.92±0.23
2.08±0.28
1.55±0.22
1.60±0.22
3.0017
thường/chu kỳ
Tỷ lệ phôi bất
39.74±3.43 46.02±5.31
30.74±3.50
34.97±3.82
6.7682
thường (%)
Tỷ lệ phơi bất thường cao nhất ở nhóm nuôi cấy phôi bằng nồng độ oxy cao 20% với mơi
trường đa bước, ở mức 46.02±5.31%, thấp nhất ở nhóm oxy thấp 5%, đơn bước ở mức
30.74±3.50%.

Hình 1. Biểu đồ Histogram về phân bố tỷ lệ phôi bất thường
ở 4 nhóm nghiên cứu (bước dao động 10% trục X).
Từ kết quả hình vẽ, đối với nhóm I và
nhóm II cùng được nuôi cấy trong nồng độ
oxy cao, tỷ lệ phôi bất thường chiếm cao
nhất ở 40-50%. Đối với nhóm III và nhóm
IV khi được ni cấy trog điều kiện nồng độ
oxy thấp, tỷ lệ phôi bất thường chiếm cao

212

nhất ở mốc 30-40%.

Sử dụng so sánh F-kiểm định để phân tích
và so sánh sự khác biệt kết quả về bất thường
phôi giữa các cặp nhóm nghiên cứu nghiên
cứu khi ni cấy trong cùng điều kiện (hoặc
cùng môi trường, hoặc cùng nồng độ oxy):


TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 518 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

Bảng 4. So Sánh sự bất phường nhiễm sắc thể giữa các cặp nhóm nghiên cứu

Đặc điểm

Phôi cùng được nuôi trong điều kiện oxy
cao (Nhóm I, nhóm II)
Phơi cùng được ni trong điều kiện oxy
thấp (Nhóm III, nhóm IV)
Phơi cùng được ni trong mơi trường
đơn bước (Nhóm I, nhóm III)
Phơi cùng được ni trong mơi trường đa
bước (Nhóm II, nhóm IV)
Khi so sánh kết quả sàng lọc phơi bất
thường giữa 2 nhóm được ni dưỡng (bảng
4):
- Trong cùng điều kiện về nồng độ oxy
(khác nhau về loại môi trường nuôi cấy), kết
quả cho thấy số lượng trung bình cũng như
tỷ lệ về phơi bất thường mỗi chu kỳ có sự
khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với
.

- Trong cùng một loại môi trường nuôi
dưỡng (khác nhau về nồng độ oxy), kết quả
khi so sánh về số lượng phôi bất thường/chu
kỳ cho thấy:
+) Khi nuôi cấy trong cùng môi trường
đơn bước, mặc dù
(bảng 4) nhưng sự khác biệt về số lượng phôi
bất thường/chu kỳ đã bắt đầu có sự khác
nhau (1.92±0.23 so với 1.55±0.22 phôi bất
thường/chu kỳ) (bảng 3).
+) Khi nuôi cấy trong cùng môi trường đa
bước, sự khác biệt về số lượng phôi bất
thường/chu kỳ cho kết quả có ý nghĩa thống
kê với
(bảng 4). Cụ
thể, ở nhóm 5% là 1.60±0.22 phơi/chu kỳ

Đối với số
phôi sàng
lọc/chu kỳ

Đối với số
phôi bất
thường/chu
kỳ

Đối với tỷ lệ
phôi bất
thường/chu
kỳ


0.5897

0.5462

3.0477

0.4051

0.0682

1.7939

0.0367

3.6064

9.3676

0.0008

5.2066

8.5239

trong khi ở nhóm oxy 20% là 2.08±0.28
phơi/chu kỳ (bảng 3).
- Trong cùng một loại môi trường nuôi
dưỡng (khác nhau về nồng độ oxy), kết quả
khi so sánh tỷ lệ phôi bất thường ở 2 cặp

nhóm, sự khác biệt cho ý nghĩa thống kê với
(bảng 4). Đối chiếu
với bảng 3, cho thấy khi nuôi cấy phôi trong
điều kiện oxy thấp 5% cho kết quả tốt hơn,
thể hiện ở số lượng phôi bất thường cũng
như tỷ lệ phôi bất thường thấp hơn hẳn so
với nhóm cịn lại.
Thành phần của 2 loại mơi trường nuôi
cấy là khác nhau, đặc biệt là nguồn bổ sung
protein, tồn tại các hợp chất chung giữa hai
loại môi trường nhưng nồng độ khác nhau
[5] [6]. Bên cạnh đó, mặc dù cả hai loại môi
trường đểu được bổ sung albumin huyết
thanh của con người nhưng tinh chế theo
cách khác nhau, làm ảnh hưởng đến sự tác
động của môi trường nuôi cấy đến phôi
người. Trong khi môi trường đơn bước cung
cấp tất cả các dưỡng chất trong 1 công thức
duy nhất, môi trường đa bước hướng tới việc
bắt chước các điều kiện sinh lý mà giao tử và
213


HỘI NGHỊ KHOA HỌC HÌNH THÁI HỌC TỒN QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2022

phôi được tiếp xúc khi di chuyển từ ống dẫn
trứng vào tử cung mẹ. Bên cạnh đó, trên thực
tế trong điều kiện cơ thể, nỗn và phơi ở giai
đoạn phân chia sớm được phát triển trong vòi
tử cung ở nồng độ oxy 2 – 5 %. Như vậy

việc hạ thấp nồng độ oxy trong điều kiện
nuôi cấy phơi xuống dưới 5% có thể thích
hợp cho sự thụ tinh và sự phát triển của phôi
ở giai đoạn phôi phân chia sớm.
Trong nghiên cứu này, số lượng bệnh
nhân, tuổi, chỉ số nội tiết AMH là tương tự
nhau ở cả 2 nhóm; vì vậy, có thể so sánh
khách quan giữa 4 nhóm với điều kiện ni
cấy khác nhau (về nồng độ oxy và mơi
trường ni dưỡng). Phân tích sự phát triển
của phôi nang: Tỷ lệ phôi cao hơn và chất
lượng hình thái phơi tốt hơn đã được quan
sát trên phơi ngày 5 với những phôi được
nuôi cấy trong môi trường đơn bước, kết quả
tương tự với nghiên cứu của Cimandomo
et.al [8]. Kết quả sàng lọc phơi PGT-A
khơng có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ phôi
bất thường khi so sánh giữa các nhóm phơi
được ni cấy ở hai loại môi trường khác
nhau (đơn bước và đa bước), dữ liệu này
tương quan với kết quả nghiên cứu thử
nghiệm SuMMIT [3] – chứng minh rằng tỷ
lệ bất thường của phôi nang không bị ảnh
hưởng bởi loại môi trường nuôi cấy. Tuy
nhiên, nồng độ oxy thấp cho kết quả phôi bất
thường nhiễm sắc thể ít hơn nhóm cịn lại.
Kết quả này có thể được giải thích do nồng
độ oxy cao tạo ra nhiều gốc oxy tự do (trong
điều kiện bình thường có khoảng 1 – 4%
phân tử oxy chuyển thành gốc tự do). Các

gốc tự do này là nhân tố khử phản ứng cực
mạnh và gây độc cho sinh hoá tế bào, bao
gồm cả bộ gen di truyền. Các ADN ty thể rất
mẫn cảm với những thay đổi dưới tác động
của những chất oxy hóa này, bởi chúng
khơng có protein histon bảo vệ và khơng có
214

hệ thống sửa chữa sai sót. Điều này dễ dẫn
đến hậu quả là làm gia tăng tỷ lệ đột biến,
gây ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của
ARN cũng như q trình sao mã của chính
bản thân ADN ty thể. ADN đột biến sẽ tổng
hợp nên các protein bất thường, bản thân các
protein này cũng có thể là đích tấn cơng của
các gốc tự do, gây ra những thay đổi về mặt
cấu trúc và mất chức năng [9].
V. KẾT LUẬN
Nuôi cấy phôi trong môi trường nồng độ
oxy thấp giúp phơi phát triển ít bất thường
nhiễm sắc thể hơn so với khi ni cấy ở nồng
độ khí quyển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Fischer B, Bavister BD, "Oxygen tension in
the oviduct and uterus of rhesus monkeys,
hamsters and rabbits," J Reprod Fertil , vol.
99, No.2, 1993, pp. 673–679.
2. Desai N, Flyckt R, Austin CM., "Can culture
medium affect morphokinetics, embryo
dysmorphisms and euploidy rate?," Fertil

Steril. vol 108, No.3, 2017, e.160
3. />482.
4. Werner MD, Hong KH, Franasiak JM,
Forman EJ, Reda CV, Molinaro TA, et al.,
"Sequential versus Monophasic Media Impact
Trial (SuMMIT): a paired randomized
controlled trial comparing a sequential media
system to a monophasic medium.," Fertil
Steril, vol 105, No.5, 2016, pp.1215–21.
/>5. ALPHA Scientists in Reproductive
Medicin, "The Istanbul consensus workshop
on embryo assessment: proceedings of an
expert meeting," Human Reproduction,
Vol.26,
No.6,
2011,
pp.1270-1283,
/>


×