Công trình nghiên cứu KHOA HC TRNG I HC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
MỘT SỐ RỐI LOẠN TÂM THẦN, VẬN ĐỘNG Ở BỆNH NHÂN
ĐỘT QUỴ NÃO CẤP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP
Vũ Mạnh Tân*, Nguyễn Mai Anh*
TÓM TẮT
49
Mục tiêu: nhận xét các rối loạn tâm thần, vận
động và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đột
quỵ não cấp. Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: nghiên cứu mô tả trên 143 bệnh
nhân đột quỵ não cấp điều trị nội trú tại khoa
Thần kinh - Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ
01/2020 đến 04/2020. Kết quả nghiên cứu:
37,07% bệnh nhân đột quỵ não giảm thích thú,
hài lịng với cơng việc; 54,24% chán nản, trầm
cảm hay tuyệt vọng. Khơng có mối liên quan
giữa hình thái đột quỵ não với nguy cơ giảm
thích thú hài lịng với cơng việc (OR=0,87;
95%CI 0,59 - 2,59; p=0,78) cũng như với nguy
cơ chán nản, trầm cảm, tuyệt vọng (OR=1,47;
95%CI 0,50 - 4,29; p=0,59). 70,63% bệnh nhân
có sự suy giảm hoạt động thể lực tính theo thời
gian vận động trong tuần; 80,42% bệnh nhân có
sự suy giảm hoạt động thể lực theo WHODAS
2.0. Khơng có mối liên quan giữa hình thái đột
quỵ não với nguy cơ gây suy giảm hoạt động thể
lực (OR=1,17; 95%CI 0,35 - 3,88; p=0,54), cũng
như với nguy cơ ảnh hưởng chất lượng cuộc sống
(OR=0,57; 95%CI 0,06 - 5,23; p=0,49). Kết
luận: ở bệnh nhân đột quỵ não cấp, các rối loạn
về tâm thần, vận động thường gặp là: giảm thích
thú, hài lịng với công việc; chán nản, trầm cảm,
tuyệt vọng; giảm hoạt động thể lực theo thời gian
*Trường Đại học Y Dược Hải Phịng
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Mạnh Tân
Email:
Ngày nhận bài: 16.2.2022
Ngày phản biện khoa học: 19.3.2022
Ngày duyệt bài: 22.6.2022
336
vận động trong tuần và theo WHODAS 2.0;
khơng có mối liên quan giữa hình thái đột quỵ
não với các nguy cơ về rối loạn tâm thần, vận
động.
Từ khóa: đột quỵ não cấp, liên quan, hình
thái đột quỵ, rối loạn tâm thần và vận động
SUMMARY
MENTAL AND MOTOR DISORDERS
IN PATIENTS WITH A CUTE
CEREBRAL STROKE AT VIET TIEP
FRIENDSHIP HOSPITAL
Objectives: to describe some mental and
motor disorders in patients with a acute cerebral
stroke. Subjects and research methods: a
descriptive study on 143 acute cerebral stroke
patients under treatment at the Department of
Neurology - Viet Tiep Hospital from January
2020 to April 2020. Results: The rate of
decreased interest and satisfaction in working
was 37.07%; the rate of suffer depressed,
depressed or hopeless was 54.24% There was no
association between stroke morphology and the
risk of decreased job satisfaction (OR=0.87;
95%CI 0.59 - 2.59; p=0.78) as well as the risk of
discouraged, depression, despair (OR=1.47;
95%CI 0.50 - 4.29; p=0.59). 70.63% of patients
have a decrease in amount of physical activity
according to the exercise time of the week;
80.42% of patients had a decline in physical
activity according to WHODAS 2.0. There was
no relation between stroke morphology and the
risk of impaired physical activity (OR=1.17;
95%CI 0.35 - 3.88; p=0.54), and the risk of
decrease quality of life (OR=1.76; 95%CI 0.19-
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 515 - THÁNG 6 - SỐ ĐẶC BIỆT - PHẦN II - 2022
16.13; p=0.61). Conclusions: in patients with a
acute cerebral stroke, common mental and motor
disorders were: decreased interest and
satisfaction in working; discouraged, depressed,
hopeless; reduced physical activity level when
monitoring activities during a week and by
WHODAS 2.0; There was no relation between
stroke morphology and the risk of mental and
motor disorders.
Keywords: acute cerebral stroke, mental and
motor disorders, relation, stroke morphology
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não cấp là một trong những bệnh
lý mạch máu não thường gặp trên lâm sàng,
có tỷ lệ tử vong cao. Theo Tổ chức Đột quỵ
não Thế giới (World Stroke Organization/
WSO), mỗi năm có khoảng 16 triệu trường
hợp đột quỵ não và 6 triệu trường hợp tử
vong. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO, 2015) đột quỵ là nguyên nhân
chính gây tử vong ở Việt Nam (21,7%).
Những người bệnh sống sót sau đột quỵ
não thường để lại di chứng giảm hoặc mất
khả năng vận động, là nguyên nhân thứ hai
của gánh nặng bệnh tật (được đo bằng năm
sống với khuyết tật DALYs) sau bệnh tim mạch vành vào năm 2016 [2]. Ở Việt Nam,
theo thống kê của bộ môn Thần kinh - trường
đại học Y Hà Nội, tỷ lệ mắc đột quỵ não là
11,592/100000 dân. Trong đó di chứng về
vận động chiếm 2,96%, di chứng vừa và nhẹ
chiếm 62,41%.
Bên cạnh những di chứng thực thể về thần
kinh thì các rối loạn tâm thần cũng hay gặp.
Tỉ lệ suy giảm nhận thức mạch máu chung
(Vascular cognitive impairment VCI) là
66%. Tỉ lệ suy giảm nhận thức mạch máu
khơng sa sút trí tuệ (vascular cognitive
impairment – non dementia VCI-ND) là
24,3%. Tuy nhiên, Ở nước ta trước kia, sự
ảnh hưởng về tâm thần chưa được quan tâm
đúng mức. Trong cộng đồng, đa số người
dân cho rằng các vấn đề tâm thần và nhận
thức là bệnh của tuổi già, dù việc phát hiện
sớm các rối loạn tâm thần có ý nghĩa quan
trọng trong điều trị để cải thiện tiên lượng và
hồi phục cho bệnh nhân đột quỵ não. Do vậy
đề tài “Một số rối loạn tâm thần, vận động ở
bệnh nhân đột quỵ não cấp tại Bệnh viện
Hữu nghị Việt Tiệp” được tiến hành với mục
tiêu:
Nhận xét các rối loạn về tâm thần, vận
động và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân
đột quỵ não cấp tại Khoa Thần kinh - Bệnh
viện Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/2020 đến
4/2020..
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm
nghiên cứu
Gồm 143 bệnh nhân đột quỵ não cấp điều
trị nội trú tại khoa Thần kinh - Bệnh viện
Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/2020 đến 04/2020.
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định Đột
quỵ não cấp theo định nghĩa của Hội tim
mạch Hoa Kỳ/Hội đột quỵ Hoa Kỳ [5]
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân có bệnh lý tâm thần kinh
trước đó
- Bệnh nhân có bệnh lý có di chứng giới
hạn vận động khác
- Bệnh nhân khơng nói hoặc khơng nghe
được
- Bệnh nhân khơng có khả năng hoặc
khơng muốn hợp tác
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả một loạt ca bệnh.
2.2.2. Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu:
Cỡ mẫu toàn bộ, chọn mẫu theo phương
337
Công trình nghiên cứu KHOA HC TRNG I HC Y DƯỢC HẢI PHỊNG
pháp thuận tiện, khơng xác suất.
2.2.3. Các chỉ số/ biến số nghiên cứu và
phương pháp đánh giá
+ Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: tính theo số năm. Phân chia tuổi
bệnh nhân thành các nhóm tuổi: <40; 40-59;
60-69; 70-79; ≥80
- Giới: nam và nữ.
- Chiều cao, cân nặng.
- Chỉ số khối cơ thể (BMI) = cân nặng
(kg) / (chiều cao (m))2
- Huyết áp đo 3 lần khác nhau (mmHg).
Phân mức độ huyết áp theo Hội tim mạch
Việt Nam 2018
+ Các chỉ số về rối loạn tâm thần, vận
động sau đột quỵ
- Hoạt động thể lực: Đánh giá dựa trên
khoảng thời gian bệnh nhân có thể sinh hoạt
như ngồi đọc sách, xem phim, tăng độ nặng
như đi bộ, đi xe đạp và mang vác vật nặng,
lao động nặng (bốc vác, leo trèo, tập tạ, chạy
xa…)
- Sức khỏe tâm thần trong 2 tuần qua (sự
giảm thích thú hoặc trầm cảm). Dựa trên chủ
quan của bệnh nhân có giảm hay khơng sự
thích thú hài lịng với cơng việc, trầm cảm,
chán nản hay tuyệt vọng
- Mức độ tàn tật WHODAS II
- Đánh giá chất lượng cuộc sống 5Q-5D5L [1]
- Đánh giá chất lượng cuộc sống SF-36
[6]
2.2.5. Xử lý số liệu
- Các số liệu thu thập trong nghiên cứu
được xử lí theo thuật toán thống kê y học
bằng phần mềm Microsoft EXCEL 2010 và
SPSS 22.0.
- Tính giá trị
± SD với các biến
liên tục. Tính giá trị phần trăm với các biến
logical. Dùng test t - student để so sánh hai
giá trị trung bình. Dùng Test khi bình
phương để so sánh giá trị phần trăm, tìm mối
liên quan giữa 2 biến định tính.
- Tính chỉ số OR (odds ratio) để đánh giá
liên quan giữa các yếu tố với nguy cơ ảnh
hưởng tâm thần, vận động.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm rối loạn tâm thần vận động của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm (n=143)
Kết quả
Tuổi (X ±SD)
63,42± 12,11
< 40
2 (1,40%)
40-49
6 (4,20%)
50-59
23 (16,08%)
Lứa tuổi (n,%)
60-69
46 (32,17%)
70-79
37 (25,57%)
≥80
30 (20,98%)
Nam
59 (41,26%)
Giới tính (n,%)
Nữ
84 (58,74%)
Chiều cao (Χ±SD) (m)
159,74 ± 8,37
Cân nặng (Χ±SD) (kg)
55,37 ± 7,85
BMI (Χ±SD)
21,66 ± 2,26
Nhận xét: Bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm đa số, nữ nhiều hơn nam
338
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 515 - THÁNG 6 - SỐ ĐẶC BIỆT - PHẦN II - 2022
Bảng 3.2. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo mức độ ảnh hưởng sức khỏe tâm
thần ở bệnh nhân đột quỵ não cấp
Thơng số
n
%
Khơng giảm thích thú, hài lịng với cơng việc
90
62,93
Giảm thích thú, hài lịng vài ngày với cơng việc
40
27,97
Thường xun giảm thích thú hài lịng với cơng việc
11
7,69
Hầu như ln giảm thích thú, hài lịng với cơng việc
2
1,41
Khơng chán nản, trầm cảm hay tuyệt vọng
64
44,76
Vài ngày có chán nản, trầm cảm hay tuyệt vọng
59
41,26
Thường xuyên chán nản, trầm cảm hay tuyệt vọng
16
11,19
Hầu như luôn chán nản, trầm cảm, tuyệt vọng
4
2,79
Nhận xét: Đa số bệnh nhân khơng giảm thích thú, hài lịng với cơng việc
3.2. Một số yếu tố liên quan tới rối loạn tâm thần, vận động của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3. Liên quan giữa hình thái đột quỵ và giảm thích thú, hài lịng với cơng việc
Giảm thích
Khơng giảm thích
Hình thái đột
thú, hài lịng
thú, hài lịng với
OR
95%CI
p
quỵ
với cơng việc
cơng việc
Nhồi máu não
47
81
0,87
0,59 - 2,59 0,78
Xuất huyết não
6
9
Tổng
53
90
Nhận xét: Khơng có mối liên quan giữa hình thái đột quỵ với giảm thích thú, hài lịng với
cơng việc
Bảng 3.4. Liên quan giữa hình thái đột quỵ với chán nản, trầm cảm, tuyệt vọng
Chán nản,
Khơng chán nản,
Hình thái
trầm cảm,
trầm cảm, tuyệt
OR
95%CI
p
đột quỵ
tuyệt vọng
vọng
Nhồi máu não
72
56
1,47 0,50 – 4,29 0,59
Xuất huyết não
7
8
Tổng
79
64
Nhận xét: Khơng có mối liên quan giữa hình thái đột quỵ não với chán nản, trầm cảm,
tuyệt vọng
Bảng 3.5. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo mức độ ảnh hưởng hoạt động thể lực
theo thời gian vận động trong tuần
Mức độ ảnh hưởng
n
%
Chưa có sự suy giảm hoạt động thể lực
42
29,37
Có sự suy giảm hoạt động thể lực
101
70,63
Tổng
143
100
339
Công trình nghiên cứu KHOA HC TRNG I HC Y DƯỢC HẢI PHỊNG
Nhận xét: Đa số bệnh nhân có sự suy giảm hoạt động thể lực theo thời gian vận động
trong tuần
Bảng 3.6. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo mức độ ảnh hưởng hoạt động thể lực
theo Thang đánh giá WHODAS 2.0
Mức độ ảnh hưởng
n
%
Chưa có sự suy giảm hoạt động thể lực
28
19,58
Có sự suy giảm hoạt động thể lực
115
80,42
Tổng
143
100
Nhận xét: Đa số bệnh nhân có sự suy giảm hoạt động thể lực theo Thang đánh giá
WHODAS 2.0
Bảng 3.7. Liên quan giữa hình thái đột quỵ với rối loạn vận động
Hình thái
Suy giảm hoạt
Chưa suy giảm hoạt
OR
95%CI
p
đột quỵ
động thể lực
động thể lực
Nhồi máu não
38
90
0,5
1,17 0,35 - 3,88
4
Xuất huyết não
4
11
Nhận xét: Khơng có mối liên quan giữa hình thái đột quỵ não với rối loạn vận động
Bảng 3.8. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo mức độ ảnh hưởng chất lượng cuộc
sống
Mức độ ảnh hưởng
n
%
Suy giảm chất lượng cuộc sống
137
95,80
Không ảnh hưởng chất lượng cuộc sống
6
4,20
Tổng
143
100
Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân đột quỵ não cấp có suy giảm chất lượng cuộc sống
Bảng 3.9. Liên quan giữa hình thái đột quỵ với ảnh hưởng chất lượng cuộc sống
Ảnh hưởng
Chưa ảnh hưởng
Hình thái
chất lượng
chất lượng cuộc
OR
95%CI
p
đột quỵ
cuộc sống
sống
Nhồi máu não
5
123
0,57
0,06 - 5,23
0,49
Xuất huyết não
1
14
Tổng
6
137
Nhận xét: Khơng có mối liên quan giữa hình thái đột quỵ não với ảnh hưởng chất lượng
cuộc sống
IV. BÀN LUẬN
Kết quả từ bảng 3.1 cho thấy: Tuổi trung
bình của các đối tượng nghiên cứu là 63,42±
12,11, nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao
nhất. Kết quả nghiên cứu này tương tự
nghiên cứu của Margaret cho thấy 75% số
340
trường hợp ở nhóm tuổi trên 60 [3], có lẽ do
người cao tuổi, hay gặp nhiều bệnh nền, đặc
biệt các bệnh lý thúc đẩy sự hình thành và
tiến triển của mảng vữa xơ mạch não, dẫn
đến nguy cơ đột quỵ não cao hơn. Bệnh nhân
nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới với
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 515 - THÁNG 6 - SỐ ĐẶC BIỆT - PHẦN II - 2022
58,74% (n=84) ở nam và 41,26% (n=59) ở
nữ, tương tự với kết quả nghiên cứu của
Reeves M.J. và cộng sự [4], có thể lý giải là
do bệnh nhân nam giới thường có nhiều yếu
tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ hơn nữ giới như
tình trạng hút thuốc lá và uống rượu.
Qua nghiên cứu, đề tài cho thấy: Số bệnh
nhân đột quỵ não khơng giảm thích thú, hài
lịng với cơng việc chiếm 62,93%, số bệnh
nhân không chán nản, trầm cảm hay tuyệt
vọng chiếm 44,76%. Số bệnh nhân có giảm
thích thú, hài lịng với cơng việc chiếm
37,07%, trong đó, 28% số bệnh nhân giảm
thích thú, hài lịng với cơng việc trong vài
ngày, 7,69% bệnh nhân thường xun giảm
thích thú hài lịng với cơng việc, cịn 1,41%
số bệnh nhân hầu như ln giảm thích thú
hài lịng với cơng việc. Số bệnh nhân có chán
nản, trầm cảm hay tuyệt vọng chiếm 54,24%,
trong đó có 41,26% bệnh nhân vài ngày có
chán nản, trầm cảm, 11,19% bệnh nhân
thường xuyên chán nản, trầm cảm và 2,79%
bệnh nhân hầu như ln chán nản, trầm cảm
(Bảng 3.5). Giải thích kết quả này, chúng tôi
cho rằng số bệnh nhân đột quỵ não ở nhóm
già yếu khơng phải thực hiện cơng việc chính
để ni sống bản thân hay gia đình, khơng
chịu áp lực công việc nhiều, nên tỷ lệ số
bệnh nhân không giảm thích thú với cơng
việc chiếm tỷ lệ cao hơn. Những bệnh nhân
đột quỵ não thường đi kèm với các triệu
chứng ảnh hưởng đến khả năng vận động của
bệnh nhân làm bệnh nhân trở nên chán nản,
tuyệt vọng, nên tỷ lệ số bệnh nhân có tình
trạng chán nản, trầm cảm và tuyệt vọng
chiếm tỷ lệ cao hơn so với số bệnh nhân
khơng có chán nản.
Kết quả nghiên cứu ở Bảng 3.3 và Bảng
3.4 cho thấy: khơng có mối liên quan giữa
hình thái đột quỵ não với nguy cơ giảm thích
thú hài lịng với cơng việc (OR=0,87;
95%CI 0,59 - 2,59; p=0,78) đồng thời cũng
khơng có mối liên quan giữa hình thái đột
quỵ não với nguy cơ chán nản, trầm cảm,
tuyệt vọng (OR=1,47; 95%CI 0,50 - 4,29;
p=0,59). Điều này có thể lý giải do các hậu
quả của bệnh nhân đột quỵ não phụ thuộc
vào vùng não bị tổn thương và mức độ tổn
thương cũng như những rối loạn chức của
vùng não bị tổn thương chi phối hơn là
những cơ chế gây nên hình thái đột quỵ não.
Số bệnh nhân có sự suy giảm hoạt động
thể lực tính theo thời gian vận động trong
tuần (trung bình dưới 4 ngày/tuần) chiếm tỷ
lệ 70,63% cao hơn số bệnh nhân chưa có sự
suy giảm hoạt động thể lực 29,37%, phù hợp
với kết quả khi tính theo thang đánh giá
WHODAS 2.0 (dưới 32 điểm) số bệnh nhân
có sự suy giảm hoạt động thể lực chiếm
80,42% cao hơn số bệnh nhân chưa có sự suy
giảm hoạt động thể lực chiếm 19,58%. Điều
này có thể lý giải do bệnh nhân đột quỵ não
có biểu hiện triệu chứng yếu liệt hoặc các
chức năng vận động khác làm hạn chế khả
năng hoạt động thể lực của bệnh nhân, đồng
thời bệnh hay gặp ở nhóm bệnh nhân cao
tuổi, cũng là một yếu tố góp phần làm suy
giảm chức năng vận động của bệnh nhân.
Kết quả từ Bảng 3.7 cho thấy: khơng có
mối liên quan giữa hình thái đột quỵ não với
nguy cơ gây suy giảm hoạt động thể lực
(OR=1,17; 95%CI 0,35 - 3,88; p=0,54). Có
thể lý giải do bệnh nhân đột quỵ não có triệu
chứng phụ thuộc vào chức năng vùng bị tổn
thương, theo phân bố của mạch máu, không
phụ thuộc vào cơ chế bệnh sinh nên khơng
có mối liên quan với hình thái đột quỵ.
Số bệnh nhân đột quỵ não có suy giảm
chất lượng cuộc sống chiếm tỷ lệ 95,80%,
cao hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân khơng
có suy giảm chất lượng cuộc sống chiếm
4,20%. Điều này có thể giải thích do bệnh
341
Công trình nghiên cứu KHOA HC TRNG I HC Y DƯỢC HẢI PHỊNG
nhân đột quỵ não thường có triệu chứng và
để lại di chứng về vận động, giảm khả năng
vận động sinh hoạt bình thường và cả hoạt
động thể lực như: liệt nửa người hồn tồn
hoặc khơng hồn tồn, có thể liệt tứ chi, ảnh
hưởng cả các chức năng khác như nhìn, ăn,
nói, nuốt, nhận thức cơ thể, giảm cảm
giác,… gây nên sự suy giảm chất lượng cuộc
sống cho người bệnh.
Bảng 3.9 cho thấy: Khơng có mối liên
quan giữa hình thái đột quỵ não với nguy cơ
gây ảnh hưởng chất lượng cuộc sống
(OR=0,57; 95%CI 0,06 - 5,23; p=0,49). Có
thể lý giải do cả hai hình thái đều khơng có
sự khác biệt về hậu quả tâm thần và hoạt
động thể, dẫn đến chất lượng cuộc sống
chung khơng có sự khác biệt có ý nghĩa.
V. KẾT LUẬN
- 37,07% bệnh nhân đột quỵ não giảm
thích thú, hài lịng với cơng việc chiếm
37,07%; 54,24% chán nản, trầm cảm hay
tuyệt vọng. Khơng có mối liên quan giữa
hình thái đột quỵ não với nguy cơ giảm thích
thú hài lịng với cơng việc (OR=0,87; 95%CI
0,59 - 2,59; p=0,78) cũng như với nguy cơ
chán nản, trầm cảm, tuyệt vọng (OR=1,47;
95%CI 0,50 - 4,29; p=0,59).
- 70,63% bệnh nhân có sự suy giảm hoạt
động thể lực tính theo thời gian vận động
trong tuần; 80,42% bệnh nhân có sự suy
giảm hoạt động thể lực chiếm theo
WHODAS 2.0. Khơng có mối liên quan giữa
hình thái đột quỵ não với nguy cơ gây suy
giảm hoạt động thể lực (OR=1,17; 95%CI
0,35 - 3,88; p=0,54), cũng như với nguy cơ
342
ảnh hưởng chất lượng cuộc sống (OR=0,57;
95%CI 0,06 - 5,23; p=0,49)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Balestroni G. , Bertolotti G. (2012),
“EuroQol-5D (EQ-5D): an instrument for
measuring quality of life”, Monaldi Arch
Chest
Dis 2012
Sep;78(3):155-9.doi:
10.4081/monaldi.2012.121.
2. DALYs GBD, Collaborators H. (2017),
“Global, regional, and national disabilityadjusted life-years (DALYs) for 333 diseases
and injuries and healthy life expectancy
(HALE) for 195 countries and territories,
1990-2016: a systematic analysis for the
Global Burden of Disease Study 2016”.
Lancet 2017, 390(10100):1260-1344.
3. Margaret Kelly-Hayes (2010), “Influence of
Age and Health Behaviors on Stroke Risk:
Lessons from Longitudinal Studies”, Lancet.
2010 Oct; 58(Suppl 2): S325–S328.
4. Reeves M.J, Bushnell C.D. (2008), “Sex
differences in stroke: epidemiology, clinical
presentation, medical care, and outcomes”,
Lancet neurol 2008. 7(10):915-26.
5. Sacco RL, Kasner SE, Broderick JP, et al
(2013), “An updated defi nition of stroke for
the 21st century: a statement for healthcare
professionals from the American Heart
Association/American Stroke Association”,
Stroke 2013; 44: 2064–89.
6. Steward, A.L., Sherbourne, C., Hayes,
R.D., et al. (1992), “Summary and Discussion
of MOS Measures”, in A.L. Stewart & J.E.
Ware (eds.), Measuring Functioning and
Well-Being: The Medical Outcome Study
Approach (pp. 345-371). Durham, NC: Duke
University Press, 1992.