TỔNG LIÊN ĐỒN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜG ĐẠI HỌC TƠN ĐỨC THẮNG
KHOA LUẬT
BÁO CÁO
MƠN: CƠNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: BÌNH LUẬN VỤ US DIPLOMATIC AND CONSULAR STAFF IN
TEHRAN CASE, ICJ REPORT 21, 1980
Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Phượng An.
Nhóm thực hiện: Nhóm 9.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày…. tháng …. năm 2022
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đề tài:
People's Mujahedin Khủng hoảng con tin Iran là một cuộc xung đột chính trị,
ngoại giao giữa Iran và Hoa Kỳ. 56 nhà ngoại giao và công dân Mỹ bị bắt làm con tin
444 ngày kể từ ngày 4 tháng 11 năm 1979 đến ngày 20 tháng 1 năm 1981 sau khi một
nhóm sinh viên Iran thuộc Muslim Student Followers of the Imam's Line, hỗ trợ Cách
mạng Hồi giáo, đã đánh chiếm Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tehran. Cuộc khủng hoảng này
giữ kỷ lục là cuộc khủng hoảng con tin dài nhất trong lịch sử. Cuộc khủng hoảng đã
được các phương tiện truyền thông phương Tây miêu tả như là một "sự vướng mắc"
của "sự trả thù và hiểu lầm lẫn nhau". Trong khuôn khổ môn Cơng pháp quốc tế
nhóm chúng em xin được phép khái quát sự kiện lịch sử nổi tiếng này nhằm rút ra
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thời đại ngày nay.
2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu:
-
Mục đích nghiên cứu: Khái quát giúp mọi người hiểu rõ cũng như có cái
nhìn đa phương về sự kiện lịch sử này và giúp rút kinh nghiệm đối với Việt Nam.
-
Đối tượng nghiên cứu: Toàn cảnh vụ việc cũng như các góc nhìn, quan
điểm của các bên
3. Phạm vi nghiên cứu:
-
Báo cáo chỉ tập trung nghiên cứu các lập luận, quan điểm của các bên
trong sự việc và phán quyết của Tịa án Cơng lý Quốc tế ICJ.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Báo cáo sử dụng và kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương
pháp logic lịch sử phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp nghiên cứu
văn bản.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................
MỤC LỤC............................................................................................................
NỘI DUNG:.........................................................................................................
PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC.................................................
1.Tóm tắt sự kiện:............................................
2.Lập luận của các bên:...................................
3.Lập luận và phán quyết của cơ quan tài phán
3.1. Quan điểm và lập luận của cơ quan tài
3.2. Phán quyết của cơ quan tài phán:.........
PHẦN 2: QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM............................................................
1.Các kết luận của nhóm:................................
2.Cơ sở pháp lý:...............................................
3.Cơ sở lý luận:................................................
KẾT LUẬN:.......................................................................................................
NỘI DUNG:
PHẦN 1: TĨM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC.
1.
Tóm tắt sự kiện:
Sáng 4/11/1979, hàng trăm sinh viên Hồi giáo xông vào đại sứ quán Mỹ ở
trung tâm thủ đô Tehran, Iran, trèo qua tường bao và hàng rào bảo vệ. Tự nhận
mình là tín đồ của giáo sĩ bất đồng chính kiến Ayatollah Khomeini, nhóm sinh
viên u cầu dẫn độ nhà vua bị lật đổ Mohammad Reza Pahlavi từ Mỹ trở về Iran.
Các sinh viên này giận dữ vì Washington cho phép vua Pahlavi đến Mỹ để điều trị
y tế.
"Mang theo gậy gộc, các sinh viên chiếm được văn phòng đại sứ sau ba
tiếng, dù thủy quân lục chiến Mỹ đã ra sức chống trả bằng lựu đạn hơi cay trước
khi bị bắt làm con tin", phóng viên AFP tại hiện trường lúc bấy giờ đưa tin.
Hơn 60 người Mỹ bị bắt làm con tin, tay bị trói chặt và mắt bị bịt kín. Một
số người nhanh chóng được thả tự do nhưng vẫn còn 52 người bị bắt. Những sinh
viên Hồi giáo dựng một giá treo cổ phía trước đại sứ quán, ở phía cuối sợi dây
treo một tấm biển ghi dịng chữ: "Vì đức vua". Bên cạnh giá treo cổ, cờ Mỹ bị đốt
trước nắm đấm đang giơ cao của hàng trăm người đang tụ tập để thể hiện sự ủng
hộ đối với những người chiếm đóng đại sứ quán. Cờ Mỹ được thay thế bằng một
áp-phích màu xanh lá cây ghi dòng chữ "Allahu Akbar" (Thánh Allah vĩ đại). Một
chiếc loa phóng thanh liên tục phát ra các câu khẩu hiệu chống Mỹ bên cạnh
những lời răn dạy trong kinh Koran cùng các bài hát cách mạng. Phía trước đại sứ
quán, cảnh sát và binh sĩ Vệ binh Cách mạng Iran được triển khai. Những sinh
viên nam để râu rậm mang theo gậy gộc cùng các sinh viên nữ mặc áo choàng
cầm tranh chân dung của vua Khomeini thay phiên nhau đi vòng quanh những khu
vườn trong khuôn viên đại sứ quán.
"Bánh mỳ và bánh sandwich được chuyển tới cho họ qua hàng rào", một
nhân chứng kể lại.
Cuộc tấn công tự phát nhằm vào đại sứ quán Mỹ được châm ngòi bởi tâm lý
nhiệt thành hưởng ứng một phong trào cách mạng Hồi giáo. Những lãnh đạo tơn
giáo cứng rắn khơng đồng tình với thủ tướng lâm thời Iran theo chủ trương ơn hịa
Mehdi Bazargan, người được cho là sẽ đàm phán với Mỹ. Bazargan từ chức vào
ngày 6/11 và một Hội đồng Cách mạng với các giáo sĩ chiếm đa số đứng lên tiếp
quản chính phủ. Iran từ chối bán dầu cho Mỹ. Đáp lại, Washington bàn hành lệnh
cấm vận đối với hàng tiêu dùng nhập khẩu vào Iran đồng thời đóng băng tài sản
tài chính của nước này.
Vụ việc sau đó được đưa ra Tịa án Cơng lý Quốc tế và Tịa án đã đưa ra
phán quyết rắng Iran vi phạm các nghĩa vụ mà nước này có đối với Hoa Kỳ theo
các cơng ước có hiệu lực giữa hai nước và các quy tắc của luật pháp quốc tế
chung, việc vi phạm các nghĩa vụ này có liên quan đến trách nhiệm của Iran và
Chính phủ Iran bắt buộc phải đảm bảo việc thả con tin ngay lập tức, khôi phục lại
cơ sở của Đại sứ quán, và thực hiện việc sửa chữa tổn thất đã gây ra cho Chính
phủ Hoa Kỳ, tuy nhiên về phía Iran đã phớt lờ.
Mãi đến khi có sự hỗ trợ của các trung gian người Algeria, Hoa Kỳ và Iran
đã bắt đầu đạt được các cuộc đàm phán thành công. Vào ngày diễn ra lễ nhậm
chức của Reagan, Mỹ đã giải phóng gần 8 tỷ USD tài sản bị đóng băng của Iran.
Ngày Ronald Reagan nhậm chức 20/1/1981, các con tin được trả tự do sau 444
ngày. Ngày hôm sau, cựu Tổng thống Jimmy Carter đã bay sang Tây Đức để chào
đón những người Mỹ trên đường trở về nhà.
2.
Lập luận của các bên:
1.1. Lập luận của Hoa Kỳ:
Chính phủ Hoa Kỳ tun bố đã tìm thấy trách nhiệm của Iran ở Công ước
Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961 và Điều 1 của Nghị định thư không bắt
buộc liên quan đến việc giải quyết bắt buộc các tranh chấp; Công ước Viên về
Quan hệ Lãnh sự năm 1963 và Điều 1 của Nghị định thư tùy chọn liên quan đến
việc giải quyết tranh chấp một cách bắt buộc; Điều XXI, khoản 2, của Hiệp ước
Thân thiện, Quan hệ Kinh tế và Quyền Lãnh sự năm 1955 giữa Hoa Kỳ Amcrica
và Iran; và Điều 13, khoản 1, Công ước năm 1973 về Ngăn ngừa và Trừng phạt
Tội phạm đối với Những Người được Bảo vệ Quốc tế, bao gồm cả các Đại lý
Ngoại giao.
Sau đó, Hoa Kỳ đã bỏ qua một chuỗi các sự kiện bắt đầu vào ngày 4 tháng
11 năm 1979 trong và xung quanh Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tehran, liên quan nhân
viên ngoại giao và lãnh sự Hoa Kỳ.
Trên cơ sở những cáo buộc này, Hoa Kỳ đã đưa ra một số yêu cầu pháp lý và
yêu cầu Tòa án xét xử và tuyên bố rằng Chính phủ Iran, khi dung túng, khuyến
khích và khơng ngăn chặn và trừng phạt hành vi được mơ tả trong Đơn, thì đã vi
phạm các nghĩa vụ pháp lý quốc tế của mình đến Hoa Kỳ theo quy định của một
số hiệp ước và cơng ước quốc tế; Bên này cho rằng Chính phủ Iran có nghĩa vụ cụ
thể là bắt buộc phải trả tự do cho tất cả các công dân Hoa Kỳ hiện đang bị giam
giữ và đảm bảo rằng họ được phép rời khỏi Iran một cách an tồn; rằng Chính phủ
Iran phải bồi thường cho những vi phạm không đáng có đối với các nghĩa vụ pháp
lý quốc tế của Iran; và rằng Chính phủ Iran nên đệ trình các cơ quan có thẩm
quyền của mình nhằm mục đích truy tố những người chịu trách nhiệm về những
tội ác đã gây ra đối với cơ sở và nhân viên của Ernbassy và Lãnh sự quán Hoa Kỳ.
1.2.
Lập luận của Iran:
Iran cho rằng những cáo buộc và báo cáo của Hoa Kỳ với Tòa án bị giới hạn
trong những chủ đề về 'con tin của Đại sứ quán Mỹ tại Tehran’. Tuy nhiên, Chính
phủ Iran cho rằng vụ việc này chỉ là "khía cạnh bên lề và thứ yếu của một vấn đề
tổng thể". Theo ông, vụ việc này chỉ là phần nhỏ trong "liên quan đến hơn 25 năm
liên tục can thiệp của Hoa Kỳ vào công việc nội bộ của Iran, sự bóc lột vơ liêm sỉ
đối với đất nước Iran, và nhiều tội ác đã gây ra đối với người dân Iran, trái ngược
với và trong xung đột với mọi chuẩn mực quốc tế và nhân đạo”. Ngoài ra Iran còn
đưa ra nhiều vụ việc khác đặc biệt cuộc đảo chính năm 1953 do CIA
khuấy động và tiến hành, lật đổ chính phủ quốc gia hợp pháp của Tiến sĩ
Mossadegh, sự phục hồi của Shah và lý lịch của ơng được kiểm sốt dưới lợi ích
của người Mỹ, các lập luận của Iran cho thấy họ chỉ muốn phản khán và đề nghị
ICJ không nên can thiệp vì ICJ vẫn chưa nhận thức được đầy đủ về vấn đề.
3.
Lập luận và phán quyết của cơ quan tài phán:
3.1. Quan điểm và lập luận của cơ quan tài phán:
Theo yêu cầu của Hoa Kỳ về việc chỉ định các biện pháp tạm thời, Tòa án
cho rằng khơng có điều kiện tiên quyết cơ bản nào cho quan hệ giữa các Quốc gia
ngoài quyền bất khả xâm phạm của các đặc phái viên ngoại giao và đại sứ quán,
và nó chỉ ra các biện pháp tạm thời để đảm bảo khôi phục ngay lập tức cho Hoa
Kỳ trong khuôn viên Đại sứ quán và việc thả con tin. Trong quyết định về giá trị
của vụ việc, tại thời điểm mà tình hình bị khiếu nại vẫn còn kéo dài, Tòa án, trong
Phán quyết ngày 24 tháng 5 năm 1980, nhận thấy rằng Iran đã vi phạm và vẫn
đang vi phạm các nghĩa vụ mà nước này phải gánh chịu đối với Hoa Kỳ theo các
công ước có hiệu lực giữa hai nước và các quy tắc của luật pháp quốc tế chung,
rằng việc vi phạm các nghĩa vụ này sẽ quy trách nhiệm của mình và Chính phủ
Iran có nghĩa vụ đảm bảo việc thả con tin ngay lập tức, khôi phục lại cơ sở của
Đại sứ quán và thực hiện việc sửa chữa. vì thương tích gây ra cho Chính phủ Hoa
Kỳ. Tịa tái khẳng định tầm quan trọng cơ bản của các nguyên tắc luật quốc tế điều
chỉnh quan hệ ngoại giao và lãnh sự. Nó chỉ ra rằng, trong khi trong các sự kiện
ngày 4 tháng 11 năm 1979, hành động của các chiến binh không thể được quy trực
tiếp cho Nhà nước Iran - vì thiếu thơng tin đầy đủ - nhưng Nhà nước đã khơng làm
gì để ngăn chặn cuộc tấn cơng, hãy ngăn chặn nó trước khi nó đạt được hoàn thành
hoặc buộc các chiến binh phải rút khỏi cơ sở và thả các con tin.
Tòa án lưu ý rằng, sau ngày 4 tháng 11 năm 1979, một số cơ quan của Nhà
nước Iran đã tán thành các hành vi bị khiếu nại và quyết định tiếp tục các hành vi
đó, để những hành vi đó được chuyển thành hành vi của Nhà nước Iran. Tòa án đã
đưa ra phán quyết, bất chấp sự vắng mặt của Chính phủ Iran và sau khi bác bỏ
các lý do mà Iran đưa ra trong hai thông báo gửi tới Tòa án để ủng hộ khẳng định
rằng Tịa án khơng thể và khơng nên giải quyết vụ việc.
3.2. Phán quyết của cơ quan tài phán:
Trong Phán quyết của mình về vụ việc liên quan đến Nhân viên Ngoại giao và
Lãnh sự của Hoa Kỳ tại Tehran, Tòa án đã quyết định :
1. Iran đã vi phạm và vẫn đang vi phạm các mối liên hệ giữa nước này với
Hoa Kỳ
2. Những vi phạm này có liên quan đến trách nhiệm của Iran
3. Chính phủ Iran phải trả tự do ngay lập tức cho những người Hoa Kỳ bị
bắt làm con tin và đặt các cơ sở của họ vào tay của quyền lực bảo vệ
4. không một thành viên nào của nhân viên ngoại giao hoặc lãnh sự Hoa
Kỳ có thể bị giữ lại Iran để chịu bất kỳ hình thức tố tụng tư pháp nào hoặc
tham gia vào họ với tư cách là nhân chứng
5. Iran có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đã gây ra cho Hoa Kỳ
6. Hình thức và số lượng của việc bồi thường đó, khơng đạt được thỏa
thuận giữa các bên, sẽ do Tịa án giải quyết
Hoa Kỳ đã đệ trình một cơng văn lên tịa án vào ngày 18,19,20 tháng 3 năm 1980.
Tịa án đã mở một phiên tịa cơng khai và tuyên bố Chính phủ Iran đã vi phạm các
nghĩa vụ hợp pháp quốc tế đối với Hoa Kỳ. Iran đã khơng tham gia vào phiên tịa
và Bộ trường bộ ngoại giao Iran đã gửi hai bức thư khẳng định không công nhận
vụ việc. Việc Iran vắng mặt trong q trình tố tụng có hiệu lực Điều 53 của Quy
chế, theo đó Tịa án được u cầu, trước khi có lợi cho Người nộp đơn, phải tự
thỏa mãn rằng các cáo buộc thực tế mà khiếu nại dựa trên đó là có cơ sở. Thơng
tin này, Tịa lưu ý, hồn tồn phù hợp với các sự kiện chính và tất cả đã được
thông báo cho Iran mà không đưa ra bất kỳ sự phủ nhận nào. Theo đó, Tịa án hài
lòng rằng các cáo buộc về thực tế mà Hoa Kỳ dựa trên tun bố của mình là có cơ
sở. Tổng thư ký Liên hợp quốc, với sự đồng ý của cả hai nước, một Ủy ban được
giao nhiệm vụ thực hiện một sứ mệnh tìm hiểu thực tế tại Iran, nghe
những lời than phiền của Iran và tạo điều kiện cho giải pháp cho cuộc khủng
hoảng giữa hai nước.
Iran đã vi phạm điều 22,24,25,26,27,29 Công ước viên 1961 về quan hệ ngoại
giao, Điều 5 và 36 Công ước viên 1963 về quan hệ lãnh sự, Điều 111 Cơng ước
viên 1955.
Tịa nhất trí đưa ra Lệnh chỉ ra các biện pháp tạm thời có hiệu lực trong khi chờ
Tịa án quyết định về tài chính trong vụ việc liên quan đến Nhân viên Ngoại giao
và Lãnh đạo Hoa Kỳ tại Tehran:
1. Chính phủ Cộng hịa Hồi giáo Iran cần ngay lập tức đảm bảo rằng quyền
sở hữu của Đại sứ quán, Thủ tướng và Lãnh sự quán Hoa Kỳ được khôi
phục về quyền sở hữu của các cơ quan tự quyền Hoa Kỳ dưới sự kiểm soát
độc quyền của họ, và phải đảm bảo quyền bất khả xâm phạm và sự bảo vệ
hiệu quả như đã cung cấp vì các hiệp ước có hiệu lực giữa hai Quốc gia và
luật pháp quốc tế chung
2. Chính phủ Cộng hịa Hồi giáo I-ran cần đảm bảo trả tự do ngay lập tức,
khơng có bất kỳ ngoại lệ nào, tất cả những người có quốc tịch Hoa Kỳ đang
hoặc đã được giữ tại Đại sứ quán Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hoặc trong Bộ
Ngoại giao ở Tehfiin, hoặc đã bị bắt làm con tin ở nơi khác và được bảo vệ
đầy đủ cho tất cả những người đó, phù hợp với các hiệp ước có hiệu lực
giữa hai Quốc gia và với luật pháp quốc tế chung
3. Kể từ thời điểm đó, Chính phủ Cộng hòa Hồi giáo Iran phải dành cho tất
cả các nhân viên ngoại giao và lãnh sự của Hoa Kỳ những đặc quyền và
quyền lợi bảo vệ đầy đủ mà họ được hưởng theo các hiệp ước có hiệu lực
giữa hai Hoa Kỳ và theo luật quốc tế chung, bao gồm quyền miễn trừ khỏi
bất kỳ quyền tài phán hình sự nào và quyền tự do và cơ sở vật chất để rời
khỏi lãnh thổ Iran
4. Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ Cộng hịa Hồi giáo
Iran không nên thực hiện bất kỳ hành động nào và cần đảm bảo rằng khơng
có
hành động nào có thể làm trầm trọng thêm căng thẳng giữa hai nước hoặc
khiến tranh chấp hiện có khó giải quyết hơn.
PHẦN 2: QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM.
1. Các kết luận của nhóm:
Theo pháp luật quốc tế Iran đã vi phạm nghiêm trọng các quyền và nghĩa vụ
quốc tế, cụ thể là trong mối quan hệ đối với lãnh sự qn nước ngồi trên lãnh thổ
của họ. Iran có lý của họ nhưng dù bất kì lý do gì thì việc xâm phạm bất hợp pháp
cơng dân nước ngồi cũng như lãnh sự quán cũng đã vi phạm các điều ước và
cơng ước quốc tế mà họ có tham gia.
2. Cơ sở pháp lý:
Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961;
Điều 1 của Nghị định thư không bắt buộc liên quan đến việc giải quyết bắt
buộc các tranh chấp;
Công ước Viên về Quan hệ Lãnh sự năm 1963;
Điều 1 của Nghị định thư tùy chọn liên quan đến việc giải quyết tranh chấp
một cách bắt buộc;
Điều XXI, khoản 2, của Hiệp ước Thân thiện, Quan hệ Kinh tế và Quyền
Lãnh sự năm 1955 giữa Hoa Kỳ Amcrica và Iran;
Điều 13, khoản 1, Công ước năm 1973 về Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội
phạm đối với Những Người được Bảo vệ Quốc tế, bao gồm cả các Đại lý
Ngoại giao.
3. Cơ sở lý luận:
3.1.
Quan điểm của các học giả:
Ayatollah Khomeini - một học giả tôn giáo người Iran cho rằng nguồn gốc
của sự việc do nhóm sinh viên Iran thực hiện vì khi có tin tức về sự xuất hiện của
cựu Quốc vương Shah của Iran tại Hoa Kỳ. Thực tế đó là chất xúc tác cuối cùng
của sự phẫn nộ ở Iran và trong số người dân Iran chống lại Shah trước đây vì
những hành vi sai trái bị cáo buộc của ơng, và cũng chống lại Chính phủ Hoa Kỳ
đang bị cáo buộc công khai là đã phục hồi ngai vàng của ơng, vì đã ủng hộ ơng ta
trong nhiều năm và dự định tiếp tục làm như vậy. Nhưng cho dù sự thật liên quan
đến những vấn đề đó là gì, họ cũng khó có thể được coi là đã đưa ra lời biện minh
cho cuộc tấn công vào Đại sứ quán Hoa Kỳ và cơ quan ngoại giao của nó. Bất kể
sự giảm nhẹ trách nhiệm gắn liền với hành vi của các nhà chức trách Iran có thể
được tìm thấy trong hành vi vi phạm mà họ cảm thấy vì việc nhận Shah vào Hoa
Kỳ, cảm giác xúc phạm đó khơng thể ảnh hưởng đến tính chất bắt buộc của các
nghĩa vụ pháp lý đương nhiệm của Chính phủ Iran khơng bị thay đổi bởi tình
trạng căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ từ chối hoặc
thất bại trong việc dẫn độ Shah sang Iran có thể được coi là sửa đổi nghĩa vụ của
chính quyền Iran, ngoại trừ bất kỳ khó khăn pháp lý nào, trong luật nội bộ hoặc
quốc tế, có thể có trong việc gia nhập như vậy để yêu cầu dẫn độ.
Nolte và Randelzhofer đưa ra lập luận rằng các cuộc tấn công nhằm vào các
cơ quan đại diện ngoại giao không đe dọa sự tồn tại hoặc an ninh của quốc gia sở
tại, và do đó các quốc gia không được dựa vào quyền tự vệ trong những trường
hợp như vậy. Tuy nhiên, có một số người cũng coi các cuộc tấn công chống lại các
vị trí mang tính biểu tượng là hành động xâm lược.
3.2.
Quan điểm của Hoa Kỳ:
Chính phủ Hoa Kỳ, khi đệ trình tranh chấp lên Tịa án, tun bố như sau:
Chính phủ Iran không chỉ đã thất bại trong việc ngăn chặn các sự kiện được
mơ tả ở trên, mà cịn có bằng chứng rõ ràng về sự đồng lõa và chấp thuận các sự
kiện đó.
Căn cứ vào Điều 29 của Cơng ước Viên về Quan hệ Ngoại giao, Chính phủ
Iran có nghĩa vụ pháp lý quốc tế đối với Hoa Kỳ để đảm bảo rằng nhân viên của
các cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ có quyền bất khả xâm phạm khỏi "bất kỳ hình
thức bắt giữ hoặc giam giữ nào" và mọi cơ quan ngoại giao sẽ được đối xử "với sự
tôn trọng thích hợp" và được bảo vệ khỏi "bất kỳ tấn công con người, quyền tự do
hoặc phẩm giá của họ". Chính phủ Iran đã và đang vi phạm các nghĩa vụ nêu trên.
Chính phủ Iran hoặc những người hành động với sự hỗ trợ và chấp thuận,
đang giữ công dân Hoa Kỳ làm con tin và đang đe dọa mạng sống của những con
tin này để ép buộc Hoa Kỳ thực hiện các hành động mà Hoa Kỳ khơng có nghĩa
vụ pháp lý quốc tế phải thực hiện.
Người Iran cho rằng quyết định của Hoa Kỳ cho phép ông Shah tị nạn tại đó
là đồng lõa trong những hành động tàn bạo trước đó. Cịn Hoa Kỳ lại coi vụ bắt
cóc là một sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế với các
quyền bất khả xâm phạm dành cho các quan chức ngoại giao.
Tổng thống Carter cho rằng sứ mệnh giải cứu Móng vuốt Đại bàng' đã trở
thành một điều cần thiết và nghĩa vụ. Ơng nhấn mạnh rằng đó hồn tồn là một sứ
mệnh nhân đạo nhằm bảo vệ cuộc sống của người Mỹ, bảo vệ lợi ích quốc gia của
Mỹ và giảm căng thẳng và nhấn mạnh rằng việc này không nhằm vào Iran.
3.3.
Quan điểm của Iran:
Chính phủ Iran cho rằng Tịa án khơng thể và khơng nên nhận thức về tình
hình hiện tại vì một lý do khác, cụ thể là vụ việc được đệ trình lên Tịa án bởi Hoa
Kỳ, bị giới hạn trong những câu hỏi về 'con tin của Đại sứ qn Mỹ tại Tehran’.
Sau đó, Chính phủ Iran tiếp tục giải thích lý do tại sao điều này ngăn khơng cho
Tịa án nhận thức được tình hình. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Iran gọi vụ việc này
chỉ là "khía cạnh bên lề và thứ yếu của một vấn đề tổng thể". Theo ông, vấn đề
này "liên quan đến hơn 25 năm liên tục can thiệp của Hoa Kỳ vào cơng việc nội
bộ của Iran, sự bóc lột vơ liêm sỉ đối với đất nước của chúng tôi, và nhiều tội ác
đã gây ra đối với người dân Iran, trái ngược với và trong xung đột với mọi chuẩn
mực quốc tế và nhân đạo”. Tất cả các tội ác do Chính phủ Mỹ gây ra ở Iran, đặc
biệt cuộc đảo chính năm 1953 do CIA khuấy động và tiến hành, lật
đổ chính phủ quốc gia hợp pháp của Tiến sĩ Mossadegh, sự phục hồi của Shah và
lý lịch của ông được kiểm sốt dưới lợi ích của người Mỹ, tất cả các vấn đề xã
hội, kinh tế, văn hóa và hậu quả chính trị của những can thiệp trực tiếp vào nội bộ
của Iran, cũng như các vi phạm nghiêm trọng, rõ ràng và liên tục của tất cả các
chuẩn mực quốc tế do Hoa Kỳ cam kết tại Iran.
Chính phủ Iran đã khơng xuất hiện trước Tịa án, khơng cung cấp cho Tịa án
bất kỳ thơng tin nào khác liên quan đến các hoạt động tội phạm bị cáo buộc của
Hoa Kỳ ở Iran, hoặc giải thích dựa trên cơ sở pháp lý nào. Qua sự lựa chọn nó,
Chính phủ Iran đã bỏ qua những cơ hội được đề nghị theo Quy chế và Quy tắc của
Tòa án để cung cấp bằng chứng và lập luận trong ủng hộ tranh chấp.
3.4.
Quan điểm của nhóm:
Quyết định ngày 22-10-1979 của Tổng thống Jimmy Carter - cho phép
Quốc vương Iran bị phế truất, ơng Shah Mohammed Reza Pahlavi tị nạn chính trị
và chữa bệnh tại Mỹ, là giọt nước tràn ly, khiến Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bị tấn
công ngày 4-11-1979. Cuộc khủng hoảng con tin Iran đã chấm dứt hơn 40 năm
trước, nhưng đến ngày hôm nay, quan hệ Mỹ-Iran vẫn trong vịng xốy thù địch.
Đại sứ qn là một biểu tượng thiêng liêng của mọi quốc gia. Nhưng hàng
trăm sinh viên Iran bất chấp và dùng tới cả hành vi hèn hạ là bắt làm con tin hơn
60 nhân viên ngoại giao và công dân Mỹ.
Mỹ đã can thiệp vào nội bộ của Iran trước, sau đó bị nhóm sinh viên Iran
cứng rắn trả đũa. Sự can thiệp của Mỹ vào nội bộ nước Cộng hòa Hồi giáo là vì
Carter coi mối quan hệ của Hoa Kỳ với Shah là một mối quan hệ lâu đời, thành
công và cần thiết. Do Iran ở gần biên giới Liên Xô, vị thế là một nguồn cung cấp
dầu mỏ an toàn và sức mạnh quân sự ngày càng tăng trong khu vực, nên Carter
sẵn sàng nhắm mắt làm ngơ trước những hành vi vi phạm nhân quyền khét tiếng
của Shah.
Những người biểu tình tấn cơng vào khn viên Đại sứ qn nhưng khơng
có bất kỳ lực lượng an ninh nào của Iran can thiệp hoặc được cử đến để viện trợ,
bất chấp những lời kêu cứu liên tục từ Đại sứ quán tới chính quyền Iran. Chính
phủ của lran đã khoan dung, khuyến khích và khơng ngăn chặn hay trừng phạt
những hành vi được mô tả trên. Iran đã vi phạm các nghĩa vụ pháp lý quốc gia
đối với Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ đã tiến hành hành động quân sự và cố gắng biện minh cho hoạt động
này là hoạt động tự vệ để đối phó với một cuộc tấn cơng vũ trang của Iran. Tuy
nhiên, hành động quân sự ‘Móng vuốt Đại bàng’ không phù hợp với quan niệm cổ
điển về tự vệ. Các quốc gia xã hội chủ nghĩa và Hồi giáo lên án vụ tấn công và coi
đây là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, trong khi các quốc gia phương Tây và
các đồng minh khác của Hoa Kỳ nói chung bày tỏ sự đồn kết và hiểu biết. Do
việc đánh giá cơ sở pháp lý bị bỏ sót trong những phản ứng này, nên khơng có
thẩm quyền nào có quan điểm vững chắc về khả năng hoặc khơng thể thực hiện
quyền tự vệ có thể được phân biệt từ hậu quả của cuộc khủng hoảng con tin.
3.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Đảng và Nhà nước cần xem xét lại các mối quan hệ và có những phương
pháp ngoại giao đúng đắn, phù hợp. Ngoại giao, thương lượng và thỏa hiệp dựa
trên sự thấu hiểu về đối phương vẫn là lựa chọn đúng đắn nhất.
Quan hệ giữa các nước có những bất đồng là điều không thể tránh khỏi.
Song quan trọng nhất là mỗi bên liên quan cũng như cộng đồng thế giới nên cùng
nỗ lực hết mức để cứu vãn tình thế. Điều đó trước hết là vì lợi ích của những
người dân. Đối thoại thay vì đối đầu. Đổ vỡ thì bên nào cũng bị tổn thương.
Tuân thủ nguyên tắc “Quyền dân tộc tự quyết” trong pháp luật quốc tế
Không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế như các nguyên tắc
không sử dụng vũ lực và không can thiệp cơng việc nội bộ, thì sẽ nhận được sự
tơn trọng từ quốc gia khác.
KẾT LUẬN:
Cuộc khủng hoảng con tin Iran được coi là một phần quan trọng trong lịch
sử quan hệ ngoại giao Iran-Hoa Kỳ. Trong vụ việc, trong khi Mỹ có thái độ cứng
rắn khi liên tục trừng phạt và có các biện pháp giải cứu con tin nhưng ở phia
ngược lại Iran cũng có động thái khơng hề mềm dẻo và phớt lờ các phán quyết của
ICJ. Mỗi bên đều có lý do nhưng người chịu tổn thương lớn nhất chính là các con
tin vơ tội. Các nhà phân tích chính trị xem vụ việc như một nhân tố chính trong sự
sụp đổ của tổng thống Jimmy Carter và sự thất bại của ông trong cuộc bầu cử tổng
thống năm 1980. Tại Iran, cuộc khủng hoảng đã củng cố uy tín của Ayatollah
Ruhollah Khomeini và sức mạnh chính trị của các lãnh đạo tơn giáo chống lại mọi
bình thường hóa quan hệ với phương Tây. Cuộc khủng hoảng cũng dẫn đến những
trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ đối với Iran, làm yếu thêm mối quan hệ giữa hai
nước. Đối với Việt Nam, chúng ta cần nghiên cứu và rút kinh nghiệm nhằm nâng
cao hiệu quả ngoại giao cũng như tránh các trường hợp tương tự trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
1.
Mark Edmond Clark (2016), “An Analysis of the Role of the
Iranian Diaspora in the Financial Support System of the MujahedineKhalq”, trong David Gold (biên tập), Terrornomics, Routledge, tr. 66–
67
2.
James Buchan (2013). Days of God: The Revolution in Iran and
Its Consequences. Simon and Schuster. tr. 257
3.
International court of justice, “Judgment of 24 May 1980”
4.
Köhler, Michael; ‘Two Nations, a Treaty, and the World Court -
An Analysis of United States-Iranian Relations under the Treaty of
Amity before the International Court of Justice’; Wisconsin
International Law Journal, 18 (Winter 2000), p. 287