NGÔ BẢO QUỲNH TRÂM
MSSV: 1853801013184
LỚP : HS43B
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN HỌC : LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TÊN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU VÀ TRÌNH BÀY MỘT SỐ VỤ VIỆC VỀ ĐIỀU TRA VÀ
ÁP THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM.
Tóm tắt
Xu thế tồn cầu hóa ngày càng diễn ra sâu sắc, cùng với sự phát triển không
ngừng của khoa học hiện đại, công nghệ tiên tiến đã tạo ra những thách thức lớn đối
với các nước cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường toàn cầu. Trở
thành mối quan tâm hàng đầu trong mối quan hệ kinh tế hội nhập và là mối lo ngại sự
phát triển thị trường mua bán của các Quốc gia. Để giải quyết các vấn đề trên, 164
nước trên thế giới đã tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (tiếng anh: World
Trade Organization, viết tắt WTO) nhằm giảm thiểu, loại bỏ các rào cản thương mại
để tiến đến tự do thương mại. Tổ chức này thành lập có các chức năng như giải quyết
các tranh chấp về thương mại, quản lý việc thực hiện các hiệp định của WTO, giám sát
các chính sách thương mại, đàm phán về thương mại, trợ giúp cho các nước đang phát
triển, hợp tác với các tổ chức quốc tế khác. Trong đó, giải quyết tranh chấp thương
mại là một trong những hoạt động cốt lõi của WTO, tranh chấp phát sinh khi một quốc
gia thành viên cho rằng quốc gia thành viên khác đang vi phạm một thỏa thuận hoặc
cam kết mà quốc gia đó đã thực hiện trong WTO. Kể từ năm 1995, đã có 607 vụ tranh
chấp được đưa ra WTO và hơn 350 phán quyết đã được ban hành 1. Từ khi gia nhập
đến thời điểm hiện tại, thị trường Việt Nam đã có những mặt tích cực do tự do hóa
thương mại đem lại, bên cạnh đó cũng có những mặt tiêu cực gây khó khăn về việc
cạnh tranh thị trường hàng hóa, điển hình là nước ta đã có hơn 100 vụ kiện về việc
điều tra và áp thuế chống bán phá giá liên quan đến các doanh nghiệp Việt Nam.
Để bảo hộ và phát triển nền sản xuất trong nước, bài tiểu luận này em xin trình
bày một số vụ việc về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá
giá của nước ngồi đối với Việt Nam. Từ đó, đưa ra những đề xuất, giải pháp để chủ
động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: bán phá giá, điều tra và áp thuế chống bán phá giá, doanh nghiệp
Việt Nam, WTO, ADA.
Nội dung bài viết
1World Trade Organization, Dispute settlement: />
1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP
THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1 Khái quát về bán phá giá và chống bán phá giá
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về bán phá giá
Khái niệm: Theo Điều VI GATT 1994 & Hiệp định ADA quy định rằng
“một sản phẩm bị coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu của sản phẩm đó thấp hơn
giá có thể so sánh được (giá trị thông thường) của sản phẩm tương tự được tiêu
dung tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thơng thường.2
Đặc điểm:
-
Trong quy định trên, có hai yếu tố quan trọng để xác định được việc phá
giá đó là giá xuất khẩu – giá bán tại thị trường nước nhập khẩu của sản phẩm
tương tự, và giá trị thông thường – giá bán tại nước xuất khẩu được xác định
theo những tiêu chí đánh giá nhất định của các nước.
-
Trường hợp “không trong điều kiện thương mại thơng thường” có nghĩa
là khơng tồn tại mức giá nội địa, mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy (khơng
được bán cho một người nhập khẩu độc lập). Thì áp dụng Điều VI:1 GATT, Điều
2.2 ADA được quy định “giá trị thơng thường sẽ được tính trên giá bán tại thị
trường nước thứ ba hoặc giá trị cấu thành hợp lý của hàng hóa.”3
-
Nếu như giá xuất khẩu nhỏ hơn giá thông thường của nước nhập khẩu
hoặc nước thứ ba sẽ xảy ra hiện tượng phá giá, làm mất cân đối thị trường trong
nước của các nước nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ có xu hướng dùng hàng có giá
2Điều
VI GATT 1994 & Hiệp định ADA
3 Điều VI:1 GATT, Điều 2.2 ADA
thành thấp hơn để tiết kiệm chi phí. Dẫn đến việc các mặt hàng tương tự sản xuất
trong nước phải giảm giá theo, mà theo chúng ta đã biết, tùy từng vùng lãnh thổ,
khu vực điều kiện về nhân lực, mức lương sẽ khác nhau, từ đó dẫn đến nhiều hệ
lụy, mất cân đối trong nền kinh tế thị trường của nước nhập khẩu.
=> Trong WTO, đây được xem là “hành vi cạnh tranh không lành mạnh”
của các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài đối với ngành sản xuất nội địa nước
nhập khẩu. Và các “vụ kiện chống bán phá giá” tiếp đó là các biện pháp chống
bán phá giá (kết quả của các vụ kiện) là một hình thức để hạn chế hành vi này.4
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về chống bán phá giá
Khái niệm: Chống bán phá giá là tổng hợp những biện pháp và cách thức
nhằm chống lại các hành vi bán phá giá vào thị trường của một nước hay vùng
lãnh thổ. Khi các hành vi bán phá giá thực hiện xảy ra thiệt hại cho các nước
nhập khẩu thì tất yếu sẽ có các biện pháp mà nước nhập khẩu đặt ra nhằm ngăn
cản sự vi phạm đó.
Đặc điểm:
-
Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá
giá: 1. Có bán phá giá cụ thể (xác định phá giá)
2.
Ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự trong nước nhập khẩu bị
thiệt hại một cách đáng kể hoặc bị đe dọa gây thiệt hại một các đáng kể (xác định
thiệt hại)
4 Phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam, Kiện chống bán phá giá các
hiệp định và nguyên tắc WTO [truy cập:
tr. 3]
3.
Thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu xảy ra hoặc bị
đe dọa xảy ra là do hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây ra (xác định mối quan
hệ nhân quả)
4.
Theo điều 5.8 ADA thì khối lượng hàng nhập khẩu phá giá đáng kể trên
3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu hoặc biên độ phá
giá đáng kể (de minimis) phải trên 2%.5
Theo quy định của ADA và quy định của pháp luật các nước thành viên
các biện pháp chống bán phá giá bao gồm: Thuế chống bán phá giá tạm thời;
thuế chống bán phá giá cuối cùng; cam kết về giá.
-
Thuế chống bán phá giá: là biện pháp chống bán phá giá được sử dụng
phổ biến nhất, được áp dụng cho từng nhà sản xuất riêng lẻ với sản phẩm bị điều
tra và bị kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại cho ngành sản
xuất nước đó. Về bản chất, đây là khoản thuế bổ sung (ngồi thuế nhập khẩu
thơng thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài nhập khẩu là đối tượng của quyết
định áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Với mức thuế áp dụng không cao hơn
biên độ phá giá của hàng hóa nhập khẩu 6. Các quốc gia thành viên WTO được
quyền tự do chọn chế định pháp luật khác nhau để điều chỉnh hành vi bán phá
giá và trợ cấp (chẳng hạn như Hoa Kỳ chọn luật thuế để điều chỉnh chống bán
bán phá giá và chống trợ cấp)7
5Điều 5.8 ADA
6 />
5_banphagia.pdf, tr. 5
7 Edwin Vermulst, Adopting and implementing anti-dumping laws: some
suggestions for developing countries, Journal of Word Trade, số 31(2), trang 9.
-
Biện pháp cam kết: Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không
cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá, nếu như nhà xuất
khẩu tự nguyện cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trường
đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục
được thiệt hại. Mức tăng giá không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơn
biên độ phá giá nếu như đã đủ khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trong
nước.8
1.2 Khát quát về điều tra và thủ tục điều tra chống bán phá giá
1.2.1 Khái niệm về điều tra chống bán phá giá
Điều tra chống bán phá giá là hoạt động của cơ quan chống bán phá giá và
các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu. Điều tra chống bán phá giá chỉ
có thể được bắt đầu khi có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong
nước hoặc của người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước hoặc khi chính
phủ của nước nhập khẩu quyết định bắt đầu điều tra hoặc theo yêu cầu của một
quốc gia thứ ba.9
Điều tra chống bán phá giá còn là một giai đoạn mà chính phủ nước nhập
khẩu tiến hành xác minh yêu cầu đơn khởi kiện của ngành sản xuất trong nước
hoặc của người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước hoặc khi chính phủ
của nước nhập khẩu quyết định bắt đầu điều tra hoặc theo yêu cầu của một quốc
gia thứ ba.
1.2.2 Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá
8Điều
8.1 ADA
9 Điều 5.1 ADA
Cơ sở tiến hành thủ tục điều tra: Cơ quan chống bán phá giá tự quyết định
điều tra hoặc khi có đơn khiếu kiện của ngành sản xuất trong nước sản xuất sản
phẩm tương tự với sản phẩm bị điều tra bán phá giá.10
Tính hợp pháp của đơn khởi kiện:
Đơn yêu cầu sẽ được coi là được yêu cầu bởi ngành sản xuất trong nước
hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này được ủng hộ
bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương
tự được làm bởi các nhà sản xuất đã bầy tỏ ý kiến tán thành hoặc phản đối
đơn yêu cầu đó. Tuy nhiên, điều tra sẽ không được bắt đầu nếu như các nhà
sản xuất bầy tỏ ý tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sản
phẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra.11
Ngoài ra đơn kiện phải đảm bảo đầy đủ về thông tin, chứng cứ như thông
tin liên quan đến chủ thể nộp đơn, mơ tả chính xác về hàng hóa bán phá giá,
bằng chứng về sự tồn tại của việc bán phá giá, bằng chứng về thiệt hại và mối
quan hệ nhân quả xảy ra.
Các bước tiến hành một vụ kiện và áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Một vụ kiện chống bán phá giá thực chất là tổng hợp các bước điều tra xác
minh các yêu cầu trong đơn kiện để kết luận có đủ điều kiện áp dụng các biện
pháp chống bán phá giá đối với hàng hố bị kiện hay khơng.
Tóm tắt các bước cơ bản của “vụ kiện chống bán phá giá” như sau:
Trường Đại học Luật TP. HCM, Giáo trình Luật thương mại quốc
tế, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 360-361.
11
Hiệp định ADA điều 5.4
10
-
Bước 1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện (kèm theo
chứng cứ ban đầu);
-
Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra (hoặc
từ chối đơn kiện, không điều tra);
-
Bước 3: Điều tra sơ bộ về việc bán phá giá và về thiệt hại (qua bảng câu hỏi
gửi cho các bên liên quan, thu thập, xác minh thông tin, thông tin do các bên tự
cung cấp);
-
Bước 4: Kết luận sơ bộ (có thể kèm theo quyết định áp dụng biện pháp tạm
thời như buộc đặt cọc, ký quỹ...);
-
Bước 5: Tiếp tục điều tra về việc bán phá giá và về thiệt hại (có thể bao gồm
điều tra thực địa tại nước xuất khẩu);
-
Bước 6: Kết luận cuối cùng;
-
Bước 7: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu kết luận cuối
cùng khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại ;
-
Bước 8: Rà soát lại biện pháp chống bán phá giá (hàng năm cơ quan điều tra
có thể sẽ điều tra lại biên phá giá thực tế của từng nhà xuất khẩu và điều chỉnh
mức thuế)
-
Bước 9: Rà soát hồng hơn (5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế chống
bán phá giá hoặc rà soát lại, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra lại để xem xét
chấm dứt việc áp thuế hay tiếp tục áp thuế thêm 5 năm nữa)12
Tr. 15-16 (truy cập ngày 12/01/2022)
12
2 THỰC TRẠNG CAC VỤ KIỆN DIỀU TRA VA AP THUẾ CHỐNG BAN
PHA GIA LIEN QUAN DẾN CAC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 Vụ kiện của Malaysia điều tra chống bán phá giá đối với thép mạ (tơn
mạ) có xuất xứ từ Việt Nam13[13.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế
Malaysia (MITI) thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với một
số mặt hàng thép mạ (tơn mạ) có xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Hàng hóa bị điều tra: thép cán dẹt không hợp kim, được phủ hoặc mạ
nhôm hoặc kẽm (the flat rolled product of non-alloy steel plated or coated with
aluminium and zinc). Cịn có tên gọi khác là thép mạ hoặc tôn mạ.
Bảng 1: Bối cảnh của vụ kiện
Các bên
Nguyên đơn
M
Bị đơn
V
T
H
: Hội đồng tư vấn về Phòng vệ thương mại – VCCI, “Thống kê các vụ
điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường nước
ngoài” [xem tại: />
bien-phap-cbpg-voi-hang-hoa-vn-cap-nhat-6t.2021.pdf] Vụ số 92 (truy cập
ngày 12/01/2022)
01/4/2017:
7210.61.31,
7210.61.39,
7210.61.90,
7210.61.11,
7210.61.12,
7210.61.19,
Diễn biến
-
Cuộc điều tra được tiến hành dựa trên đơn kiện của NS BLUESCOPE
MALAYSIA SDN BHD, công ty nội địa của Malaysia sản xuất các sản phẩm
tương tự. Nguyên đơn này cho rằng, hàng hóa nhập khẩu cụ thể là thép mạ nhơm
kẽm có nguồn gốc hoặc xuất khẩu từ các nước bị cáo buộc đang nhập khẩu vào
Malaysia với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa, gây ra thiệt hại đáng kể
cho ngành sản xuất trong nước và ảnh hương đến giá cả thị trường của họ.
-
Từ 01/8/2016 đến 31/7/2019 MITI thu thập số liệu để tính tốn biên độ
phá giá của Việt Nam, thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước của
Malaysia và mối quan hệ nhân quả14
Trung tâm WTO Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2020),
Thép mạ - Malaysia điều tra chống bán phá giá,
[ malaysia-dieu-tra-chong-ban-pha-gian22096.html], (truy cập ngày 12/1/2022).
14
-
Các doanh nghiệp Việt Nam được nêu trong Hồ sơ yêu cầu bao gồm:
Hoa Sen, Nam Kim, Tôn Đông Á, Tân Phương Khanh, Tôn Phương Nam,
Maruichi Sun Steel.
-
Vào tháng 8/2020 MITI cũng đã ban hành kết luận sơ bộ đối với vụ việc
điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép mạ nhơm và kẽm có
xuất xứ từ Việt Nam. Cơ quan này áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời,
nhằm ngăn chặn thiệt hại của ngành sản xuất trong nước trong vòng 120 ngày,
bắt đầu từ ngày 14/8/2020 với mức thuế sơ bộ được áp dụng đối với Việt Nam từ
3,94% - 37,14%.
-
Khi đi đến kết luận cuối cùng, theo MITI có sự tồn tại của hành vi bán
phá giá, tạo ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất thép mạ trong nước của
Malaysia, và đã xác định được biên độ phá giá của Việt Nam từ 1,56% đến
37.14%.
Theo danh sách công bố, các doanh nghiệp Viêt Nam bị áp thuế chống bán
phá giá chính thức với mức thuế:
“Tập Đồn Hoa Sen: 16.55%
Cơng ty Maruichi Sun Steel: 4.53%
Cơng ty tơn Hịa Phát: 3.06%
Cơng ty cổ phần Nam Kim: 5.04%
Công ty cổ phần thương mại và sản xuất tôn Tân Phước Khanh: 4.22%
Công ty cổ phần Tôn Đông Á: 15.87%
Công ty cổ phần thép Tây Nam: 5.48%
Các doanh nghiệp còn lại: từ 3,06% đến 37,14%
Riêng đối với cơng ty Tơn Phương Nam được xác định có biên độ phá giá
1.56%, biên độ phá giá này được xem là không đáng kể (dưới 2%) nên không áp
dụng biện pháp áp thuế chống bán phá giá.”15
Kết luận: Ngành xuất khẩu thép là ngành kinh tế chủ lực của nước ta, theo
Hiệp hội Thép Việt Nam, trong giai đoạn 5 năm trở lại đây, xuất khẩu thép của
Việt Nam đã tăng trung bình hơn 20% mỗi năm và xuất khẩu thành phẩm tăng
12% mỗi năm. Hiện nay, thép Việt Nam không chỉ xuất khẩu qua các nước Đông
Nam á, mà còn xuất khẩu qua các thị trường lớn mạnh như Châu Âu, Châu
Mỹ… Cùng với sự phát triển nhanh chóng trong kim ngạch xuất khẩu thép của
nước ta, thì tất yếu sẽ kéo theo sự chú ý của các quốc gia liên tiếp áp dụng các
biện pháp phòng vệ thương mại. Nếu như nước ta bị áp thuế quá cao thì sẽ hạn
chế khả năng xuất khẩu của các sản phẩm thép, điển hình là thép mạ hợp kim
nhơm, kẽm. Vì vậy cần có những giải pháp thiết thực để đối mặt với thách thức
và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
2.2 Vụ kiện của Malaysia điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm
Polyethylene Terephthlate có xuất xứ từ Việt Nam16
Bộ Cơng nghiệp và Thương mại quốc tế Malaysia (MITI) (2020), Kết
luận cuối cùng của thép mạ hợp kim nhôm kẽm [truy cập:
tr. 6
16
Hội đồng tư vấn về Phòng vệ thương mại – VCCI, “Thống kê các vụ
điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường nước
ngoài” [xem tại: Vụ số 105 (truy cập
ngày 12/01/2022)
15
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Bộ Thương mại và công nghiệp Malaysia
(MITI) đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm
Polyethylene Terephthalate (được gọi là PET, PETE hoặc PETP hoặc PET-P) có
xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.
Mặt hàng bị điều tra: Polyethylene Terephthalate, có độ nhớt từ 0.7
decilit/gram (dl/g) trở lên, được phân loại theo mã HS và AHTN: 3907.61.00.00,
3907.69.10.00, 3907.69.90.00
Bảng 2: Bối cảnh của vụ kiện
Các bên
Nguyên đơn
M
Bị đơn
V
Q
N
Q
Diễn biến:
Bên đệ đơn là cơng ty Recron Sdn. Bhd có trụ sở tại thành phố Kuala
Lumpur, Malaysia. Phía cơng ty cho rằng việc nhập khẩu Polyethylene
Terephthalate, có độ nhớt từ 0.7 decilit/gram (dl/g) trở lên từ nước Việt Nam đã
gây ra tình trạng phá giá thành chung trong khu vực Malaysia, gây ra nhiều tổn
thất về mặt kinh tế và đe dọa đến các sản phẩm tương tự tại đất nước.
-
Kết luận sơ bộ: Ngày 28/12/2020, MITI đã ra thông báo kết luận sơ bộ
trong vụ việc, quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nhằm ngăn
chặn sự thiệt hại của ngành sản xuất trong nước trong vòng 120 ngày, kể từ ngày
26/12/2020. Mức thuế tạm thời được áp dụng từ 0% đến 57,75% cho các doanh
nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc.
-
Kết luận cuối cùng: Sau khi điều tra, Chính phủ Malaysia nhận thấy hàng
hóa nhập khẩu từ các doanh nghiệp của nước Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia,
Hàn Quốc, cụ thể là Polyethylene Terephthalate, có độ nhớt từ 0.7 decilit/gram
(dl/g) trở lên không gây thiệt hại đáng kể làm ảnh hưởng đến ngành sản xuất các
mặt hàng tương tự trong nước. Vì vậy, chính phủ ra quyết định:
“a) Chấm dứt cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến nhập khẩu hàng
hóa của đối tượng là Polyethylene Terephthalate có nguồn gốc hoặc xuất xứ từ
Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc.
b)
Chấm dứt điều tra đồng thời chấm dứt mọi biện pháp áp dụng thuế chống bán
phá giá tạm thời liên quan đến nhập khẩu hàng hóa của đối tượng là
Polyethylene Terephthalate có nguồn gốc hoặc xuất xứ từ Việt Nam, Trung
Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, giải chấp các khoản ký quỹ đã nộp17.
3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA
ĐIỀU TRA, ÁP THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM.
3.1 Giải pháp
Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Malaysia (MITI) (2020), Kết
luận cuối cùng trong vụ việc điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm
polyethylene terephthalate, Tr. 4-5 [truy cập:
(truy cập ngày 12/01/2022)”.
17
Đằng sau các biện pháp chống bán phá giá là việc bảo vệ ngành sản xuất
nội địa nước nhập khẩu trước sự gia tăng của hàng nhập khẩu giá rẻ. Với năng
lực xuất khẩu ngày càng tăng và lợi thế cạnh tranh chủ yếu về giá nên nhiều loại
hàng hóa Việt Nam đang phải đối mặt ngày càng nhiều hơn với nguy cơ kiện
chống bán phá giá ở các thị trường. Để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp
xuất khẩu của Việt Nam, tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng
mạnh mẽ, đồng thời để phòng tránh nguy cơ bị kiện hoặc để đối phó với các vụ
kiện chống bán phá giá, cần phải thực hiện các giải pháp sau:
3.1.1 Chủ động phòng chống các vụ kiện bán phá giá của nước ngồi
-
Chính phủ tích cực triển khai đàm phán song phương,đa phương để tranh
thủ nhiều nước thừa nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường, do đó
khơng áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với Việt Nam.
-
Cần nhận biết sự tồn tại của nguy cơ bị kiện tại các thị trường xuất khẩu
và cơ chế vận hành của chúng,dự báo danh mục các ngành hàng và các mặt hàng
Việt Nam có khả năng bị kiện phá giá trên cơ sở rà sốt theo tình hình sản
xuất,xuất khẩu từng ngành hàng của Việt Nam và cơ chế chống bán phá giá của
từng quốc gia để từ đó có sự phịng tránh cần thiết.
-
Cần tính đến khả năng bị kiện khi xây dựng chiến lược xuất khẩu để có
kế hoạch chủ động phịng ngừa và xử lý khi khơng phịng ngừa được, xây dựng
chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và đa phương hoá thị trường xuất khẩu của các
doanh nghiệp để phân tán rủi ro, tránh tập trung xuất khẩu với khối lượng lớn
vào một nước vì điều này có thể tạo ra cơ sở cho các nước khởi kiện bán phá giá.
Các doanh nghiệp cần chú trọng đến các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật
Bản... và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Úc,... hay thị trường Trung
Đông, Nam Phi,...
-
Tăng cường áp dụng các biện pháp cạnh tranh phi giá để nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu thay cho cạnh tranh bằng giá thấp. Điều này
đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh
các dịch vụ hậu mãi, tiếp thị quảng cáo, áp dụng các điều kiện mua bán có lợi
cho khách hàng để thu hút khách hàng,...
-
Doanh nghiệp cần liên tục cập nhật và nâng cấp phần mềm kế toán để
đảm bảo chế độ ghi chép kế toán rõ ràng, tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán quốc tế
để các số liệu của doanh nghiệp được cơ quan điều tra chấp nhận sử dụng khi
tính tốn biên phá giá. Đồng thời, các doanh nghiệp cần lưu giữ tất cả các số
liệu, tài liệu có thể làm bằng chứng chứng minh khơng bán phá giá.
-
Doanh nghiệp cũng cần tăng cường việc đào tạo nhân sự và triển khai
các quy trình kiểm sốt nội bộ một cách định kỳ. Một hệ thống kiểm soát nội bộ,
báo cáo hiệu quả sẽ giúp cho quá trình đối chiếu số liệu và cung cấp tài liệu,
chứng cứ cần thiết được chính xác và nhanh chóng.
-
Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về thị trường xuất khẩu,về luật thương
mại quốc tế,luật chống bán phá giá của các nước… và phổ biến, hướng dẫn cho
các doanh nghiệp các thông tin cần thiết nhằm tránh những sơ hở dẫn đến các vụ
kiện.
3.1.2 Các giải pháp đối phó với vụ kiện chống bán phá giá đã xảy ra
Về phía chính phủ
-
Chủ động trong quá trình giải quyết các tranh chấp. Khi một mặt hàng
xuất khẩu nào đó của Việt Nam bị nước nhập khẩu kiện bán phá giá, thì Chính
phủ cần tích cực vận động quốc gia đó giải quyết tranh chấp thông qua thương
lượng, vận động ngoại giao, tác động ở cấp cao để phía nguyên đơn rút đơn khởi
kiện.
-
Tập hợp luật, các văn bản dưới luật của nước khởi kiện, nắm được các
thủ tục, đặc biệt là thời hạn và yêu cầu có liên quan đến vụ việc, nắm được các
số liệu thống kê chi tiết về tình hình xuất khẩu mặt hàng bị khởi kiện, về thị phần
và các công ty Việt Nam bị khởi kiện.
-
Bên cạnh đó, cần tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong vụ kiện, thành
lập quỹ trợ giúp theo đuổi các vụ kiện để hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
kháng kiện.
-
Cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết về các thủ tục
kháng kiện, giới thiệu các luật sư giỏi ở nước sở tại có khả năng giúp cho doanh
nghiệp thắng kiện,…
-
Tập hợp thêm các thông tin liên quan để thực hiện các “chiến dịch tuyên
truyền” trên các loại hình thơng tin cả trong và ngồi nước liên quan đến vụ kiện.
-
Tham dự các phiên giải trình ở nước ngồi có liên quan đến phần giải
trình của CHính phủ, tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm sau từng vụ kiện, phổ
biến thông tin nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp,...
3.2.2. Về phía các hiệp hội ngành hàng
-
Thiết lập cơ chế phối hợp trong tham gia kháng kiện và hưởng lợi khi kháng
kiện thành công để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia kháng kiện.
-
Cần phát huy vai trò là tổ chức tập hợp và tăng cường sự hợp tác giữa các
doanh nghiệp trong ngành nhằm nâng cao năng lực kháng kiện của các doanh
nghiệp.
-
Thông qua hiệp hội quy định hành vi bảo vệ lẫn nhau, phối hợp giá cả trên thị
trường, tránh tình trạng cạnh tranh khơng lành mạnh có thể tạo ra cớ gây ra các
vụ kiện của nước ngoài.
-
Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thông tin về giá cả, định hướng phát
triển thị trường, những quy định pháp lý của nước sở tại về chống bán phá giá…
để các doanh nghiệp kháng kiện có hiệu quả giảm bớt tổn thất do thiếu thơng tin.
Về phía các doanh nghiệp
-
Cần chủ động theo đuổi các vụ kiện khi bị nước ngoài kiện bán phá giá.
-
Đối với những cuộc điều tra tại các thị trường quan trọng mang tính
“sống cịn” đối với doanh nghiệp cần thiết phải có sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và
pháp lý từ các chuyên gia số liệu và luật sư có kinh nghiệm, uy tín tại nước sở tại
vì họ am hiểu hệ thống pháp luật nước sở tại và có nhiều kênh thơng tin tại chỗ
mà việc báo cáo số liệu cho cơ quan điều tra không chỉ địi hỏi tính chính xác mà
cịn phải được xuất trình theo cách có lợi nhất cho tính tốn biên độ của doanh
nghiệp. Đồng thời, cần sử dụng các chuyên gia tư vấn và luật sư trong nước có
kinh nghiệm, hiểu biết về luật và thực tiễn điều tra chống bán phá giá rất quan
trọng vì sẽ giúp xử lý các vấn đề đựac thù của doanh nghiệp và hệ thông kế toán
Việt Nam, giải thích, chứng minh, thuyết phục và hỗ trợ luật sư nước ngoài khi
làm việc với cơ quan điều tra.
-
Phối hợp, liên kết với các doanh nghiệp có cùng mặt hàng xuất khẩu để
có chương trình, kế hoạch đối phó chung đối với các vụ kiện. Ngồi ra, cần phối
hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để được hướng dẫn và có các thơng tin cần
thiết.
-
Hồn thiện hệ thống sổ sách chứng từ kế toán phù hợp với các quy định
của luật pháp và chuẩn mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh
doanh nhằm chuẩn bị sẵn sàng các chứng cứ, các lập luận chứng minh không bán
phá giá của doanh nghiệp, tổ chức nhân sự, dự trù kinh phí, xây dựng các
phương án bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp…
-
Tạo ra những mối liên kết với các tổ chức lobby để vận động hành lang
nhằm lôi kéo những đối tượng có cùng quyền lợi ở nước khởi kiện ủng hộ mình.
Như vận động các Nghị sỹ Hoa Kỳ có thiện cảm với Việt Nam viết thư lên Tổng
thống Hoa Kỳ yêu cầu đình chỉ vụ kiện, vận động Hiệp hội các nhà tiêu dùng tại
nước nhập khẩu lên tiếng bênh vực, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở nước
nhập khẩu,...
-
Tự yêu cầu được tham gia, hợp tác với cơ quan điều tra và chủ động thực
hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình điều tra để được tính biên độ
phá giá riêng phản ánh đúng hơn thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
mình.
-
Nếu doanh nghiệp thực sự có hành vi bán phá giá, gây thiệt hại cho các
doanh nghiệp cùng ngành hàng của nước nhập khẩu thì doanh nghiệp cần chủ
động thương lượng với chính phủ của nước khởi kiện thực hiện cam kết giá. Khi
cam kết giá này được chấp thuận thì quá trình điều tra sẽ chấm dứt. Điều này
giúp cho vụ kiện được giải quyết nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn so với việc
phải hồn tất cuộc điều tra của cơ quan điều tra về bán phá giá. Hơn nữa các nhà
sản xuất, xuất khẩu ở nước bị kiện sẽ được hưởng phần lớn chênh lệch trước và
sau cam kết tăng giá bán thay cho việc nộp thuế chống bán phá giá cho nước
nhập khẩu.
Kết luận
Trong thời gian gần đây với mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm ngày
càng tăng và việc một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam đã bước đầu có được chỗ
đứng vững chắc tại các thị trường lớn đã dẫn đến khả năng các vụ kiện chống
bán phá giá ngày càng gia tăng. Điều này về lâu dài sẽ kìm hãm tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, để giảm thiểu tối đa những tác động tiêu
cực do các vụ kiện bán phá giá gây ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần có các
biện pháp khơng chỉ ứng phó có hiệu quả mà phải chủ động ngăn ngừa những
nguy cơ xảy ra các vụ kiện chống bán phá giá. Đó là phải đồng thời thực hiện
các biện pháp mang tính chính sách để hạn chế, nhận biết và ứng phó nguy cơ
một cách kịp thời và các biện pháp kỹ thuật có liên quan để tính tốn và chứng
minh biên độ phá giá thấp nhất có thể.
Bên cạnh đó, để xây dựng được cơng cụ bảo hộ hợp pháp cho sản xuất
trong nước, vừa bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng với các nhà sản xuất của nước
ngồi thì Việt Nam cần phải nhanh chóng áp dụng thuế chống bán phá giá phù
hợp với quy định của WTO. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần sớm xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thuế chống bán phá giá trên cơ sở các
quy định của Hiệp định về Chống bán phá giá của WTO, tham khảo luật và thực
tiễn áp dụng của các nước thành viên WTO. Không chỉ thế, phải xây dựng bộ
máy thực thi có hiệu quả và phải làm tốt công tác tuyên truyền cho các doanh
nghiệp trong nước để năng cao nhận thức về biện pháp chống bán phá giá.
Danh mục tài liệu tham khảo:
Văn bản pháp luật quốc tế:
HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VI CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ
QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) - ADA
1.