Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Chỉ đạo của đảng để thống nhất nước nhà về mặt nhà nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (159.01 KB, 25 trang )

Đề tài 1: Thống nhất đất nước về mặt Nhà nước: vì sao Đảng chủ trương thống nhất
nước nhà về mặt Nhà nước? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất nước nhà về mặt Nhà
nước? Kết quả, ý nghĩa?
● Phải thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước vì:
-

Sau chiến thắng 1975, Tổ quốc Việt Nam được thống nhất về mặt lãnh thổ, song ở mỗi
miền vẫn tồn tại hình thức tổ chức nhà nước khác nhau. Điều này trái với nguyện vọng
của nhân dân cả nước là được sum họp trong một đại gia đình, mong muốn có một
chính phủ thống nhất, một cơ quan đại diện chung cho nhân dân cả nước.

-

Thống nhất đất nước là một nguyện vọng chính đáng, một điều kiện thống nhất đất
nước về toàn diện, mới mở ra khả năng to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng
như mở rộng quan hệ quốc tế của nước ta.
● Chỉ đạo, kết quả của Đảng về thống nhất Nhà nước:

-

Thực hiện chủ trương trên đây của Đảng, một hội nghị đại biểu của nhân dân hai miền
Nam – Bắc đã được triệu tập tại thành phố Sài Gòn (12/1975) để bàn về việc hiệp
thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Hội nghị đã tán thành chủ trương hoàn
thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước của Trung ương Đảng. Ngày 25/4/1976,
Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tiến hành trong cả nước.

-

Từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội khóa VI nước Việt Nam thống nhất họp kỳ
đầu tiên tại Hà Nội.
+ Lấy tên nước: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thủ đô là Hà Nội; Quốc huy


mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng;
Quốc ca là bài Tiến quân ca.
+ Thành phố Sài Gòn - Gia Định đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, bầu Ban dự thảo Hiến pháp.

-

Ngày 31/7/1977: Đại hội đại biểu các mặt trận ở hai miền Nam - Bắc họp tại TP. Hồ
Chí Minh quyết định thống nhất thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

-

Ngày 18/12/1980, Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Chính thức thống nhất cả nước.
● Ý nghĩa:

-

Đây là thắng lợi to lớn của ta vì từ nay đã thể chế hoá được sự thống nhất đất nước về
mặt lãnh thổ trước đó.

-

Tạo điều kiện để ta đi đến thống nhất đất nước tồn diện về chính trị. kinh tế, văn hoá,
giáo dục, y tế, văn học nghệ thuật và tư tưởng v.v...

1



-

Mở ra những khả năng to lớn cho nước ta trong việc phát triển kinh tế, củng cố quốc
phòng, bảo vệ Tổ quốc.

-

Mở rộng quan hệ đối ngoại, ngoại thương, giao lưu quốc tế, đồng thời nâng cao hơn
nữa uy thế của nước ta trên trường quốc tế, góp phần tích cực vào cơng việc củng cố
hịa bình, an ninh ở khu vực Đơng Nam Á nói riêng và trên thế giới nói chung.

Đề tài 2: Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được xác định ở thời kỳ trước Đổi
mới (được xác định tại Đại hội IV, V) – các bước đổi mới bộ phận/ cục bộ ở Việt
Nam (1979-1986)?
2.1. Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được xác định ở thời kỳ trước Đổi mới (được
xác định tại Đại hội IV, V)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng và đi lên CNXH, miền
Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đường lối cách mạng XHCN đã bước
đầu hình thành.
Đại hội III của Đảng (năm 1960) đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng: vạch ra
con đường tiến lên CNXH ở miền Bắc và con đường giải phóng miền Nam, thống nhất
nước nhà.
Đại hội đã xác định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
miền Bắc: Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống phấn đấu anh
dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước
XHCN anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững
chắc lên CNXH, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc
thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp
phần tăng cường sức mạnh khối XHCN, bảo vệ hịa bình ở Đơng Nam Á và thế giới…
Đến Đại hội IV của Đảng (năm 1976), với khí thế của người chiến thắng, Đảng ta

đã đề ra đường lối đẩy nhanh quá trình đi lên CNXH trên phạm vi cả nước.
Đại hội IV cũng xác định đường lối chung cách mạng XHCN ở nước ta là: nắm vững
chun chính vơ sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời
3 cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách
mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy
mạnh cơng nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên CNXH; xây
dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền
văn hóa mới, con người mới XHCN; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo
nàn lạc hậu…; xây dựng thành cơng Tổ quốc Việt Nam hịa bình, độc lập, thống nhất và
XHCN; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hịa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và CNXH.
Đại hội V đã bổ sung đường lối chung và đề ra những quan điểm mới, cụ thể:
-

Khẳng định nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH với
2


những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xh; đó là thời kỳ khó khăn, phức tạp và
lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường.
-

CMVN có hai nhiệm vụ chiến lược là: xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thời kỳ trước đổi mới, nhận thức của Đảng ta
về mục tiêu, bản chất của CNXH và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta là đúng đắn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Điều này phù hợp với chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2.2. Các bước đổi mới bộ phận/ cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)
Trước đổi mới, do áp lực gay gắt của tình hình trong nước và quốc tế buộc chúng

ta khơng cịn con đường nào khác phải tiến hành đổi mới. Hoạt động đầu tiên để tiến
hành đổi mới chính là đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế.
Thứ nhất, hội nghị Trung ương 6 khoá IV (tháng 8-1979) với chủ trương và quyết
tâm làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới ở nước ta.
-

Hội nghị đã tập trung vào những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém trong
quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa;

-

Điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế, phá bỏ rào cản, mở đường cho sản
xuất phát triển:

-

Ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần thu hoạch vượt mức khoán được bán
cho Nhà nước hoặc lưu thông tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng
đất hoang hố;

-

Đẩy mạnh chăn ni gia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, gia đình);

-

Sửa lại thuế lương thực, giá lương thực để khuyến khích sản xuất;

-


Sửa lại chế độ phân phối trong nội bộ hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo
định suất, định lượng để khuyến khích tính tích cực của người lao động,…

Thứ hai, hội nghị Trung ương 8 khoá V (tháng 6-1985) đánh dấu bước đột phá thứ
hai về đổi mới tư duy kinh tế với chủ trương:
-

Dứt khốt xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá;

-

Chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh. Điểm quan trọng là Hội nghị này đã
thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất hàng hoá.

Thứ ba, tháng 8-1986, trong quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại
hội VI, Bộ Chính trị đã xem xét kỹ các vấn đề lớn, mang tính bao trùm trên lĩnh vực kinh
tế, từ đó, đưa ra Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế:
-

Trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng
đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ; công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc;
3


-

Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc
trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta;

-


Trong cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, nhưng đồng thời phải sử
dụng đúng quan hệ hàng hố – tiền tệ, dứt khốt xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao
cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá.

Đây là bước đột phá thứ ba về đổi mới tư duy kinh tế, có ý nghĩa lớn trong đổi
mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
=> Nhìn một cách khái quát, những đổi mới tư duy kinh tế trên đây là những nhận thức
về sự cần thiết phải giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, sự cần thiết phải tạo ra
động lực thiết thực cho người lao động – đó là quan tâm đến lợi ích kinh tế, lợi ích vật
chất thiết thân của người lao động,… Những tư duy đổi mới về kinh tế đó tuy mới mang
tính chất từng mặt, từng bộ phận, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng lại là những bước
chuẩn bị quan trọng, tạo tiền đề cho bước phát triển nhảy vọt ở Đại hội VI.
Đề tài 3: Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc
(1975-1979). Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm
1979.
3.1. Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc (19751979)
Việt Nam chưa kịp khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc kháng chiến chống Mỹ,
lại phải chịu thiệt hại rất lớn từ thảm họa diệt chủng và chính sách phản động của tập
đoàn Pol Pot – Ieng Sary. Quân và dân Việt Nam thực hiện quyền tự vệ chính đáng của
mình, chiến đấu chống qn xâm lược Khơ-me đỏ, bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng, đồng
thời đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận đoàn kết cứu nước Campuchia và nhân dân
Campuchia anh em, cứu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Song cuộc chiến chỉ thực sự diễn ra sau nhiều nỗ lực ngoại giao không thành của
Đảng và Nhà nước Việt Nam và sự kiềm chế đến mức cao nhất của quân dân địa phương
các tỉnh biên giới Tây Nam đã tới giới hạn.
-

Đêm 30/4/1977 quân Pol Pot đồng loạt tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới
tỉnh An Giang (14 xã); từ tháng 8/1977, chúng tấn công khu vực biên giới các tỉnh

Long An, Đồng Tháp;

-

Tháng 9/1977 chúng tấn công tuyến biên giới tỉnh Tây Ninh (3 huyện)… Chúng đòi
đất ở tất cả những nơi có cây thốt nốt và vu cáo Việt Nam muốn xoá đất nước
Campuchia để lập liên bang; chúng ra “Sách đen” kích động “hận thù dân tộc”, bôi
nhọ sự thật lịch sử và truyền thống láng giềng tốt đẹp Việt Nam – Campuchia

-

Chúng gây ra nhiều vụ đốt phá, cướp bóc, thảm sát dã man ở nhiều địa phương biên
giới Tây Nam (thảm sát Ba Chúc ở An Giang từ ngày 18/4 đến 30/4/1978 giết hại
3.157 người).
4


-

Chúng nhận viện trợ quân sự của nước lớn (Mỹ, Vương quốc Anh, Trung Quốc,…) để
xây dựng lực lượng quân đội có bộ binh, pháo binh, thiết giáp mạnh hịng đánh chiếm
lãnh thổ Việt Nam…

-

Quân và dân Việt Nam giúp đỡ và từng bước phối hợp với lực lượng bạn trong “Lực
lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia” (thành lập ngày 12/5/1978)
và Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia (ra đời ngày 2/12/1978).

-


Từ ngày 22/12/1978 đến ngày 7/1/1979, Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc
tổng cơng kích giải phóng Campuchia: tấn cơng chớp nhống và đánh bất ngờ vào thế
trận tấn cơng-phịng thủ của địch, đẩy lui toàn bộ các cánh quân Pol Pot xâm lấn về
bên kia biên giới, giải phóng tồn bộ các địa phương biên giới Tây Nam bị xâm chiếm;
đồng thời quân đội nhân dân Việt Nam cùng lực lượng cách mạng Campuchia tiến
công vào các sào huyệt địch, giải phóng thủ đơ Phnom Penh, giải phóng hàng triệu dân
Campuchia; đập tan bộ máy thống trị của chế độ “Campuchia Dân chủ” từ Trung ương
đến cơ sở.

-

Trong suốt giai đoạn 1979-1989, quân đội Việt Nam vẫn duy trì lực lượng ở
Campuchia để tiếp tục giúp nước bạn củng cố, bảo vệ chính quyền, tái thiết đất nước
cũng như truy quét tàn dư của chế độ Pol Pot vẫn đang nhăm nhe cơ hội trở lại.

=> Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Giữ vững biên cương
và chủ quyền quốc gia lãnh thổ, bảo vệ vững chắc đất đai và cuộc sống hịa bình cho
nhân dân vùng biên giới Tây Nam, lập lại sự ổn định và trật tự vùng biên giới; đồng thời
cũng cứu thoát nhân dân Campuchia khỏi thảm họa diệt chủng, giúp bạn gây dựng lại
lực lượng cách mạng, khép lại trang sử đen tối, đau thương của dân tộc Campuchia.
3.2. Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc năm 1979
● Nguyên nhân của cuộc chiến tranh việt trung năm 1979
-

Thứ nhất, xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc nước lớn của Trung Quốc, họ luôn muốn Việt
Nam suy yếu, làm đệm an tồn ở phía Nam Trung Quốc. Khi thấy bị ngăn cản, không
thực hiện được mục đích, Trung Quốc bằng các âm mưu, thủ đoạn, kể cả đẩy dân tộc
Campuchia vào họa diệt chủng, xâm lược Việt Nam để đạt được mục đích của mình.


-

Thứ hai, sự kiện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Khmer
Đỏ (do Trung Quốc ủng hộ), Trung Quốc vu cáo Việt Nam “xâm lược Campuchia”,
ngả về phía Liên Xơ và thực hiện các mục tiêu chiến lược bành trướng ảnh hưởng của
Liên Xô khắp Đông Dương.

-

Thứ ba, lấy cớ Việt Nam xử lý vấn nạn Hoa kiều lũng đoạn nền kinh tế, trục xuất
người Hoa về nước, nhưng thực chất Trung Quốc đã sử dụng vấn đề Hoa kiều để ép
Việt Nam theo các chính sách của mình và đã kích động người Hoa về nước nhằm tạo
cớ.
Trước năm 1975, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu Hoa Kiều sinh sống, trong đó 15%
5


sống ở miền Bắc và 85% sống ở miền Nam; vì vậy, chỉ tính riêng năm 1977 đã có 70.000
Hoa kiều từ Việt Nam quay về Trung Quốc. Cho đến thời điểm xảy ra cuộc chiến
(2/1979) đã có chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương bằng đường biển hoặc đường bộ qua
Cửa khẩu Hữu Nghị. Vấn đề Hoa kiều là một thử thách đối với chủ quyền và an ninh
quốc gia.
Cuộc chiến tranh diễn ra trong vòng 1 tháng nhưng đã gây thiệt hại nặng nề về
người và của cho cả hai nước, gây hậu quả lâu dài cho mối quan hệ hữu nghị giữa Việt
Nam và Trung Hoa
● Diễn biến cuộc chiến tranh biên năm 1979
-

Rạng sáng ngày 17/2/1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc với 9 quân đoàn chủ lực, 5
sư đoàn bộ binh độc lập và các trung đoàn địa phương, tổng cộng gồm 32 sư đoàn bộ

binh và bộ binh cơ giới, 2.558 khẩu pháo mặt đất, 550 xe tăng, 676 máy bay các loại, 2
sư đoàn phịng khơng trong đó có nhiều dàn phóng hỏa tiễn… đã bất ngờ mở cuộc tấn
cơng xâm lược trên tồn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam từ Phong Thổ (Lai Châu)
đến Móng Cái (Quảng Ninh) dài hơn 1000km, thuộc địa bàn 6 tỉnh biên giới phía Bắc
Việt Nam gồm: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên
Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai, Yên Bái), Lai Châu (nay là Điện Biên và Lai
Châu)…

-

Quân Trung Quốc đã bắn phá, tiêu hủy tất cả các cơ sở, kho tàng, nhà ở của ta ở các thị
xã, thị trấn và các làng bản, bắn giết vô cùng tàn bạo nhân dân ta, quân Trung Quốc
tiến sâu vào địa bàn các tỉnh Lạng Sơn, Lai Châu từ 10 -15 km, tiến sâu vào đất Cao
Bằng gần 50 km.

-

Trước sự tấn công bất ngờ của quan Trung Quốc, quân đội và nhân dân Việt Nam, trực
tiếp là các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an, dân quân ở 6 tỉnh biên
giới phía Bắc và tiếp đó là quân chủ lực được tăng cường, đã dũng cảm kiên cường
chiến đấu đánh bại quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên
giới thiêng liêng của Tổ quốc.

-

Ngày 18/3/1979, quân Trung Quốc bị thiệt hại nặng nề đã buộc phải rút quân về nước.
Tuy nhiên, tại một số điểm thuộc một số tỉnh ở khu vực biên giới, chiến tranh vẫn còn
tiếp diễn, đặc biệt ở mặt trận Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang, những trận đánh đẫm máu
để giành giật từng điểm cao với những hy sinh vô cùng lớn vẫn chưa chấm dứt, mà
phải đến tháng 9/1989 chiến tranh mới thật sự kết thúc.

● Bài học lịch sử của chiến tranh biên giới năm 1979

-

Một là, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tình hình, dự đốn chính xác
âm mưu và hành động của các bên liên quan, nhất là động thái các nước lớn, trên cơ sở
đó có sự chuẩn bị tồn diện, khơng để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

-

Hai là, giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính

6


trị, quân sự với đấu ngoại giao để vừa phát huy sức mạnh tổng hợp trong nước, vừa
nêu cao tính chính nghĩa của cách mạng nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế,
khơng để các thế lực thù địch xun tạc hịng tìm cách cơ lập.
-

Ba là, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, trên cơ sở đó phát huy sức mạnh chiến
tranh nhân dân địa phương, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ (bộ đội
chủ lực quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích) kết hợp với sức
mạnh hậu phương cả nước tạo thành những “trường thành thép” sẵn sàng đánh trả có
hiệu quả mọi cuộc tiến cơng từ bên ngồi ngay thời gian đầu.

-

Bốn là, vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam “lấy nhỏ thắng
lớn, lấy ít địch nhiều” với nghệ thuật quân sự hiện đại (phương thức tác chiến chính

quy), đồng thời biết khai thác, phát huy tư tưởng nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung
tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của cha ông thuở trước kết hợp với chủ nghĩa anh
hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Đề tài 4: Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới? Nội dung cơ bản của Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)?
4.1. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986)
-

Từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã
họp tại Thủ đơ Hà Nội. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu, thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng
viên tiêu biểu cho trí tuệ của tồn Đảng. Đây là Đại hội “kế thừa và quyết tâm đổi mới,
đoàn kết tiến lên của Đảng.”

-

Với thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI
của Đảng đã đánh giá thỏa đáng, đúng mức cục diện cách mạng nước ta trong thời
gian 5 năm (1981-1985) về cả hai mặt thành tích, thắng lợi và yếu kém, sai lầm cùng
những nguyên nhân của nó.

-

Từ thực tiễn cách mạng của nhân dân ta, Đại hội đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm
quan trọng là:
+ Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm
gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
+ Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều
kiện bảo đảm cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.

+ Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện
mới.
+ Phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh
đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

7


-

Từ sự phân tích tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế, Đại hội khẳng định: Cách
mạng nước ta phải tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là: xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

-

Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu
tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội,
tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh cơng nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.

-

Về công tác tổ chức, xây dựng Đảng, Đại hội nhấn mạnh: Đảng phải đổi mới về nhiều
mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán
bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và phương pháp công tác. Đại hội đã quyết định bổ
sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới.

-


Thắng lợi quan trọng của Đại hội VI của Đảng là đã hoạch định được đường lối đổi
mới đất nước một cách toàn diện, sâu sắc và triệt để. Đường lối cách mạng do Đại hội
VI vạch ra đã thể hiện sự phát triển của tư duy, lý luận, khả năng tổng kết và tổ chức
thực tiễn của Đảng, mở ra thời kỳ đổi mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

-

Đại hội VI của Đảng đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 173
đồng chí (124 Uỷ viên chính thức, 49 Uỷ viên dự khuyết). Bầu đồng chí Nguyễn Văn
Linh làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bầu Bộ Chính trị, gồm 14
đồng chí (13 Uỷ viên chính thức, một Uỷ viên dự khuyết); bầu Ban Bí thư gồm 13
đồng chí; bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương gồm 7 đồng chí.

=> Đại hội VI là sự kiện đánh dấu mốc Đảng Cộng sản VN chính thức bắt đầu đề ra và
lãnh đạo thực hiện đường lối Đổi mới toàn diện đất nước.
4.2. Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới ?
-

Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng
cái mới tốt hơn. Không phải chỉ ở hiện tại mà trong q trình cách mạng, chúng ta
ln thực hiện sự đổi mới. Cơng cuộc đổi mới phải mang tính tồn diện, tổng thể, sâu
sắc, liên tục và được chuẩn bị có bài bản. Đổi mới là công việc của chúng ta, theo cách
thức và bước đi của ta. Đổi mới là cơng cuộc sáng tạo mang tính tất yếu. Cơng cuộc đó
phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng phải cân nhắc từng đường
đi nước bước cụ thể, chắc chắn.

-

Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang cịn tác

dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định
biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi
mới đồng bộ, hài hịa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

8


-

Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn
định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường mà chúng ta đã chọn. Đổi mới
là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị
trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều
hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi
mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đơi với thực hiện cơng bằng
xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở
cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Tồn bộ công cuộc hội nhập, mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng
và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất tiến bộ, phù
hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là
để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng
được xác lập rõ ràng hơn.

-

Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, thế giới đã diễn ra những
biến đổi to lớn, sâu sắc. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã
hội trầm trọng. Các nước tư bản chủ nghĩa, do điều chỉnh, thích ứng và sử dụng những

thành quả của cuộc cách mạng khoa học-cơng nghệ hiện đại nên đã vượt qua được
những khó khăn, kinh tế có bước tăng trưởng đáng kể. Để thốt khỏi tình trạng khủng
hoảng, cải tổ, cải cách và đổi mới đã trở thành xu thế khách quan ở nhiều nước xã hội
chủ nghĩa.

-

Ở Việt Nam, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bên cạnh thuận lợi và
những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước, chúng ta cũng
đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi,
nóng vội muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn, việc bố trí
sai cơ cấu kinh tế, cộng với những khuyết điểm của mơ hình kế hoạch hóa tập trung
quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ, làm cho tình hình kinh tế-xã hội rơi vào trì trệ,
khủng hoảng. Nước ta lại bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận; chiến tranh biên
giới Tây Nam và biên giới phía Bắc gây ra,…

-

Để đưa nước ta thốt khỏi tình trạng đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải đổi mới
mạnh mẽ, cơ bản cách nghĩ, cách làm. Cuối những năm 70, ở một số địa phương bước
đầu có những tìm tịi, thử nghiệm cách làm ăn mới, đưa ra những lời giải đáp cho
những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

-

Qua những thành công bước đầu đạt được trong q trình tìm tịi, thử nghiệm đó,
Đảng và nhân dân ta càng nhận thấy sự cần thiết đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy,
đổi mới cách làm nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách có hiệu quả hơn.

-


Đại hội VI (1986) của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết
định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đề ra đường lối đổi
mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ, phương thức
9


lãnh đạo và phong cách của Đảng; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị và các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội. Đầu tiên:
1. Tại sao phải đổi mới tư duy ?
-

Bởi tư duy là trình độ cao của nhận thức (là toàn bộ những hiện thực khách quan phản
ánh vào đầu óc con người mà nhận thức và so sánh tập hợp được sự vật hiện tượng)
đổi mới phơng pháp tư duy dẫn tới hành động nhận thức cao – lí luận cao.

-

Từ quan điểm của CN Mác - Lênin về vai trị của lí luận và tư duy lí luận “ khơng có
tư duy con người thì khơng có lao động cách mạng” chỉ có lực lượng cách mạng mới
có phong trào cách mạng , phải có lực lượng tiên phong mới đảm đương được nhiệm
vụ tiên phong.

-

Lực lượng cách mạng khoa học phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan thì thúc đẩy
sự phát triển của lực lượng và ngược lại. Mà Đảng ta lãnh đạo cách mạng bằng đường
lối tư duy. Nếu đường lối đúng XH sẽ phát triển, còn đường lối sai sẽ kìm hãm sự phát
triển.


-

Nhận thức chưa đúng quy luật kinh tế khách quan: quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.

-

Quy luật phổ biến trong thời kì quá độ : trong thời kì q độ phải sản xuất hàng hố do
đó có nhiều thành phần kinh tế dẫn đến có bóc lột ( thuê CN) trong thời kỳ này đổi
mới tư duy là đổi mới về nhận thức. Song đổi mới khơng có nghĩa là phủ nhận tất cả
những thành tựu đã đạt được mà là bổ xung phát triển những thành tựu ấy. đổi mới tư
duy kinh tế là trọng tâm.

=> Bởi kinh tế là nền tảng, là cơ sở tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia . Nếu đổi
mới về tư duy kinh tế sẽ tạo ra khả năng phát triển đất nước . Vật chất quyết định mọi vấn
đề khác trên cơ sở đó sẽ có những cái khác. Thực tế đất nước ta giai đoạn đó chỉ có thể
phát triển kinh tế thì mới có thể tạo ra những bước đi vững chắc.
Thực tiễn hiện nay cho ta thấy, đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận
thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, từng bước hình thành những
quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
2. Nguyên nhân đổi mới
a. Chủ quan
-

Sau 10 năm thực hiện kế hoạch 5 năm ( 1976-1985), cách mạng XHCN ở nước ta đạt
nhiều thành tựu và ưu điểm đáng kể, song cũng gặp khơng ít khó khăn, khiến đất nước
lâm vào tình trạng khủng hoảng, trước hết về kinh tế- xã hội.

-


Nguyên nhân cơ bản: do ta mắc phải “Sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương,
chính sách, sai lầm về chỉ đạo chiến lược sách lược và tổ chức thực hiện”.

10


-

Để khắc phục sai lầm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, Đảng và nhà nước ta phải
tiến hành đổi mới.

b. Khách quan
-

Những thay đổi của tình hình thế giới và quan hệ giữa các nước do tác động của cách
mạng KHKT.

-

Cuộc khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của Liên Xơ và các nước XHCN khác.

=> Địi hỏi Đảng và nhà nước phải đổi mới.
3. Nội dung đổi mới
-

Đề ra lần đầu tiên tại đại hội lần thứ VI ( 12.1986), được điều chỉnh, bổ sung và phát
triển tại đại hội VII (1991), VIII ( 1996), IX (2001)

-


Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu của CNXH, mà làm cho những mục tiêu ấy
được thực hiện có hiệu quả bằng những quan điểm đúng đắn về CNXH, những hình
thức, bước đi và biện pháp thích hợp.

-

Đổi mới phải tồn diện và đồng bộ, từ kinh tế và chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn
hóa. Đổi mới kinh tế và chính trị gắn bó mật thiết, nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế.

• Về kinh tế
– Xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường.
– Xây dựng nền kinh tế quốc dân với cơ cấu nhiều ngành, nghề, nhiều quy mơ, trình độ
cơng nghệ.
– Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại.
• Về chính trị
– Xây dựng nhà nước XHCN, Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
– Xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
– Thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hịa bình, hữu nghị hợp
tác.
Cuối cùng Đại hội VI đã khẳng định đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết
của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Đại hội VI đã đem lại luồng
sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Cơng cuộc
đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất
nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải
thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa
được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, an ninh quốc phòng được
củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.


11


Hiện tại đã chứng minh cho ta thấy, chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu
thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế
giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi
đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách
sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn
như hơm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp
đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước,
làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc
mới cho đất nước, tiếp sức đơi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường
hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta
không quên rằng đất nước mình vẫn cịn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững
chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng
cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó cịn có
phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta khơng chỉ có thuận lợi và thời cơ mà
cịn có những khó khăn và nguy cơ khơng thể xem thường. Càng như vậy, càng phải tiếp
tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền
vững.
Rõ ràng là công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to
lớn qua 36 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong
phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực khơng bao giờ cạn. Hành trình đổi
mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu
tố: thiên thời, địa lợi, nhân hịa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên
khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đề tài 5: Công cuộc Đổi mới toàn diện ở Việt Nam từ Đại hội VI (12-1986) đến Đại
hội XIII (1-2021): chủ trương (qua Cương lĩnh 1991; Cương lĩnh bổ sung 2011) và

thành tựu trên các mặt: kinh tế - chính trị; văn hố – xã hội; giáo dục – đào tạo;
quốc phòng – an ninh; quan hệ đối ngoại – hội nhập quốc tế…
5.1. Công cuộc Đổi mới toàn diện ở Việt Nam từ Đại hội VI (12-1986) đến Đại hội
XIII (1-2021): chủ trương (qua Cương lĩnh 1991; Cương lĩnh bổ sung 2011)
a. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện
● Nội dung trọng tâm, nổi bật của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986)
-

Đổi mới kinh tế: Mục tiêu là ổn định kinh tế - xã hội. Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích
lũy.

-

Thực hiện cho được 3 chương trình mục tiêu về: lương thực thực phẩm, hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu.

12


-

Năm phương hướng lớn phát triển kinh tế là:
+ Bố trí lại cơ cấu sản xuất;
+ Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;
+ Sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế;
+ Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật;
+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

-


Đổi mới trên các lĩnh vực khác
+ Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, thực hiện "dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”
+ Đổi mới các chính sách xã hội

-

Bốn nhóm chính sách xã hơi là: Kế hoạch hố dân số và giải quyết việc làm cho người
lao đông. Thực hiện cơng bằng xã hội, bảo đảm an tồn xã hội, khôi phục ̣ trật tự, kỷ
cương trong mọi lĩnh vực xã hội. Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hóa, bảo
vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân. Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội.

-

Đổi mới quốc phòng, an ninh và quan hệ đối ngoại: Đề cao cảnh giác, tăng cường khả
năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại
nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc.

-

Đảng đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới đội ngũ cán bộ; phong cách làm việc, mở rộng
dân chủ, chất lượng đảng viên.
● Chỉ đạo của Đảng thực hiện đường lối đổi mới 1986-1991

-

Đổi mới kinh tế:
+ Luật Đầu tư nước ngồi (1-1988) được Quốc hội khóa VIII thơng qua.
+ Nghị quyết 10 Bộ Chính trị (4-1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
+ Hội nghị Trung ương 2 (4-1987) về phân phối lưu thông, thực hiện bốn giảm

+ Cơng nhận nhiều thành phần kinh tế.
+ Xóa bỏ chế độ tem phiếu, bao cấp

-

Đổi mới hệ thống chính trị:
+ Đổi mới không thay đổi mục tiêu XHCN
+ Đổi mới các tổ chức trong hệ thống chính trị
+ Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng

-

Đổi mới về quốc phòng, an ninh và đối ngoại
+ 5-1988, rút 5 vạn quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia (sớm 1 năm).
13


+ Chủ trương: bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam Hoa Kỳ;
từng bước xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á, thiết lập
quan hệ ngoại giao Việt Nam và các nước Châu Âu.
b. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991
-

Nội dung Cương lĩnh năm 1991:
+ Cương lĩnh năm 1991 đã tổng kết hơn 60 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam;
chỉ ra những thành công, khuyết điểm, sai lầm và nêu ra năm bài học lớn:
➢ Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH.
➢ Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
➢ Khơng ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết

➢ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
➢ Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách
mạng Việt Nam.
+ Về mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng có 6 đặc trưng cơ bản là:
➢ Do nhân dân lao động làm chủ.
➢ Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và chế độ cơng hữu
về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
➢ Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
➢ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện cá nhân.
➢ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đồn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
➢ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
+ Cương lĩnh nêu ra 7 phương hướng lớn xây dựng chủ nghĩa xã hội là:
➢ Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
➢ Phát triển lực lượng sản xuất, cơng nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại
gắn liền với phát triển một nền nơng nghiệp tồn diện là nhiệm vụ trung tâm.
➢ Thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa
dạng về hình thức sở hữu;
➢ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

14


➢ Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm cho
thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo
trong đời sống tinh thần xã hội.
➢ Thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc.
➢ Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Cương lĩnh chỉ rõ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài,
trải qua nhiều chặng đường với những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội,
quốc phịng-an ninh, đối ngoại.
+ Cương lĩnh nêu rõ quan điểm về xây dựng hệ thống chính trị:
➢ Xây dựng Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;
➢ Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.
➢ Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận và là tổ chức lãnh đạo hệ thống đó.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
-

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000:
+ Mục tiêu tổng quát đến năm 2000: ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tếxã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển. GDP năm 2000
tăng gấp đôi so với năm 1990.
+ Quan điểm chỉ đạo của Chiến lược là: Xây dựng CNXH ở nước ta là quá trình thực
hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ,
nhân ái, có văn hố, có kỷ cương, xố bỏ áp bức, bất cơng, tạo điều kiện cho mọi
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Mục tiêu và động lực chính của sự
phát triển là vì con người, do con người. Mọi người được tự do kinh doanh theo
pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp.

-

Đại hội VII đã tổng kết bài học bước đầu qua 5 năm đổi mới (1986 - 1991):
+ Một là, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới
+ Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và
cách làm phù hợp.
+ Ba là, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đơi với tăng cường vai trị
quản lý của Nhà nước.

+ Bốn là, tiếp tục phát huy sâu rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
+ Năm là, trong quá trình đổi mới phải quan tâm dự báo tình hình, kết hợp phát hiện
và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh trên tinh thần kiên định thực
hiện đường lối đổi mới.
15


-

Lần đầu tiên Đảng giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động.
● Chỉ đạo của Đảng thực hiện đường lối đổi mới toàn diện (1991-1996)
Tập trung vào 4 lĩnh vực chính:

-

Đổi mới kinh tế là nhiệm vụ (trọng tâm)

-

Đổi mới về chính trị, xây dựng Đảng là then chốt

-

Đổi mới phát triển văn hóa, xã hội, con người

-

Tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại

● Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng

-

Chỉ rõ những thách thức lớn (Bốn nguy cơ của cách mạng) và những cơ hội lớn

-

Lần đầu tiên Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng khẳng định xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

-

Hội nghị Trung ương 8 (1 - 1995) ra Nghị quyết về Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính.
● 5 quyết sách của Hội nghị Trung ương 4 (1-1993)

-

Đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo

-

Một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ

-

Những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

-


Về chính sách dân số và kế hoạch hố gia đình

-

Về cơng tác thanh niên trong thời kỳ mới

c. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và bước đầu thực hiện cơng cuộc đẩy mạnh
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2001)
-

Thời gian, địa điểm: ĐH VIII họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996 tại Hà Nôị

-

Nội dung: ̣ ĐH thơng qua báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương đã bổ sung
đặc trưng tổng quát về mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam là: Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh và nổi bật những vấn đề trọng tâm sau:
+ Tổng kết 10 năm đổi mới (1986-1996) đất nước thu được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa rất quan trọng. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội cho phép
chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
+ ĐH nêu ra 6 bài học qua 10 năm đổi mới:
➢ Một là, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

16


➢ Hai là, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; lấy
đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
➢ Ba là, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế

thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
➢ Bốn là, mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân phát huy sức mạnh
của cả dân tộc.
➢ Năm là, mở rộng hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh
thời đại.
➢ Sáu là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ
then chốt.
+ ĐH đã nêu lên quan điểm về CNH trong thời kỳ mới gồm:
➢ Giữ vững độc lập, tự chủ, đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế, đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Kết hợp nội lực với ngoại lực.
➢ CNH, HĐH là sự nghiệp của ̣ toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trị chủ đạo.
➢ Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững.
➢ Khoa học và công nghệ là động lực của CNH, HĐH..
➢ Lấy hiệu quả kinh tế làm chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa
chọn dự án đầu tư và công nghệ.
➢ Kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh.
+ Xây dựng Đảng ngang tầm địi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại
hoá đất nước. Đảng phải tiếp tục đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa sức chiến
đấu và năng lực lãnh đạo của mình.
● Thực hiên nghị quyết ĐH VIII
-

Hội nghị Trung ương 2 (12/1996) ban hành Nghị quyết coi giáo dục, đào tạo, khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu

-

Hội nghị Trung ương 3 (6/1997) thông qua Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của

nhân dân

-

Hội nghị 6 (2/1999) đưa ra Nghị quyết về xây dựng Đảng, đấu tranh đẩy lùi 4 nguy cơ

-

Hội nghị 7 (8/1999) xác định một số vấn đề tổ chức trong hệ thống chính trị.

d. Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX, tiếp tục đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước 2001-2006.

17


-

Thời gian, địa điểm: Đại hội IX của Đảng họp từ ngày 19 đến ngày 22-4- 2001 tại thủ
đô Hà Nội.
● Nội dung trọng tâm, nổi bật của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001)

-

Xác định con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa

-

Thời kỳ quá độ là thời kỳ khó khăn, phức tạp cho nên lâu dài và nhiều chặng đường,

nhiều hình thức

-

Quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp là quan hệ hợp tác và đấu tranh

-

Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh
giữa công nhân với nông dân trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hịa các lợi ích cá
nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh
tế, của toàn xã hội.

-

Coi kinh tế thị trường định hướng XHCN là mơ hình kinh tế tổng qt ở nước ta

-

Xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

-

Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hồ bình, độc
lập và phát triển.
● Chỉ đạo của Đảng thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của (2001-2006)

-


Đổi mới kinh tế
+ Hội nghị Trung ương 3 (9-2001) đã chỉ đạo sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
+ Hội nghị Trung ương 5 (3-2002): Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế
tập thể

-

Đổi mới về chính trị
+ Hội nghị Trung ương 5 (3-2002) đã đưa ra những nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư
tưởng, lý luận của Đảng trong tình hình mới
+ Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 23-CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo
dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới
+ Hội nghị Trung ương 7 (3-2003) đã ban hành ba Nghị quyết đặc biệt:
➢ Nghị quyết về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh”
➢ Nghị quyết về công tác dân tộc
➢ Nghị quyết về công tác tôn giáo
18


-

Đổi mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
+ Chỉ thị 36 BCT (3-2004) về Chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài
+ Hội nghị Trung ương 8 (7-2003) ra Nghị quyết Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới.

e, Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X của Đảng và quá trình thực hiện Nghị quyết Đại

hội (2006 - 2011)
-

Thời gian, địa điểm: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X họp từ ngày 18 đến
25/04/2006.
● Những nội dung mới của Đại hội X.

-

Xem xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt hàng đầu và cho phép đảng viên
làm kinh tế tư nhân.

-

Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, tìm sự đồng thuận cho tồn dân tộc.

-

Đẩy mạnh cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; chủ động,
tích cực hội nhập phát triển kinh tế, quốc tế.
● Quá trình chỉ đạo thực hiện

-

Hội nghị Trung ương 4 (2-2007) Ban hành chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 và
sắp xếp lại bộ máy và cơ quan Nhà nước sao cho tinh gọn hơn.

-


Hội nghị Trung ương 5 (7-2007) Ban hành Nghị quyết về công tác tư tưởng, lý luận,
báo chí trước yêu cầu mới.

-

Hội nghị Trung ương 6 (1-2008) ra Nghị quyết về xây dựng giai cấp công nhân trong
thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Chủ trương tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với cơng tác phịng chống tham nhũng, lãng phí.

-

Hội nghị Trung ương 7 (7-2008) đưa ra những quyết sách về chủ trương, nhiệm vụ,
giải pháp để giải quyết đồng bộ ba vấn đề : nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Ban
hành Nghị quyết chuyên đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết về xây
dựng đội ngũ trí thức.

-

Chỉ thị số 03 (11-2006) tổ chức cuộc Vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh đối với toàn đảng, toàn dân.
● Kết quả thực hiện

-

Những chủ trương trên đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế 5 năm (2005
- 2010).

19



-

Mở rộng quan hệ đối ngoại. Tuy nhiên văn hóa đối ngoại chưa đồng bộ cịn có những
mặt hạn chế.

f, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng bổ sung, phát triển cương lĩnh năm
1991.
-

Thời gian, địa điểm: Đại hội XI họp từ ngày 12 đến ngày 19/11/2011 tại Hà Nội
● Nội dung cơ bản của Đại hội XI

-

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ( Cương lĩnh năm
2011)

-

Quá trình Cách mạng và bài học kinh nghiệm
+ Có những diễn đạt mới về thắng lợi của Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
+ Bổ sung những ý nghĩa, thành quả của Cách mạng.
+ Đánh giá, tổng kết những khuyết điểm, nguyên nhân, thái độ của Đảng trước những
sai lầm.
+ Khẳng định 5 bài học kinh nghiệm lớn:
➢ Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
➢ Sự nghiệp Cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
➢ Khơng ngừng củng cố tăng cường đoàn kết toàn đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn

kết quốc tế.
➢ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
➢ Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của CM dân tộc
Việt Nam.

-

Quá độ lên CNXH ở nước ta
+ Đặc điểm và xu thế chung:
➢ Cách mạng KHCN, kinh tế tri thức và q trình tồn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ.
➢ Mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác
nhau vẫn tồn tại và phát triển.
➢ Hịa bình độc lập dân tộc dân chủ hợp tác và phát triển là xu thế lớn.
➢ Đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang,
xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích
quốc gia dân tộc.
➢ Các nước có chế độ chính trị và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa
hợp tác, vừa đấu tranh.
20


+

Đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa nhân dân ta xây dựng gồm 8 đặc trưng:
➢ Dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
➢ Do nhân dân làm chủ
➢ Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ
sản xuất tiến bộ, phù hợp.
➢ Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
➢ Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện phát triển toàn

diện
➢ Các cộng đồng dân tộc trong đất nước Việt Nam bình đẳng, đồn kết, tơn trọng,
giúp đỡ nhau cùng phát triển.
➢ Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân do ĐCS lãnh đạo.
➢ Có mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước trên thế giới.

=> So với cương lĩnh năm 1991 thì năm 2011 đã bổ sung thêm 2 đặc trưng
+ Cương lĩnh 2011 xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước
công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với 8 phương hướng:
➢ Đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên môi trường.
➢ Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
➢ Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người,
đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.
➢ Bảo đảm vững chắc an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
➢ Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hịa bình, hữu nghị, hợp tác và
phát triển; chủ động hội nhập quốc tế.
➢ Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện hiện đại hóa, đồn kết tồn
dân tộc. Tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất
➢ Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
➢ Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
-

Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại
+ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020
● Quan điểm phát triển
1. Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững.
21



2. Đổi mới đồng bộ
3. Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người
● Ba đột phá chiến lược
1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Phát triển nhanh nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao
3. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ.
-

Hệ thống chính trị và vai trị lãnh đạo của Đảng.
● Quá trình chỉ đạo thực hiện

-

Hội nghị Trung ương 4 (1-2012) Đảng với cuộc đấu tranh phòng và chống tham
nhũng, lãng phí.

-

Hội nghị Trung ương 5 (5 - 2012) Khẳng định đất đai là tài nguyên quốc gia quan
trọng của đất nước. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Giải
quyết một số vấn đề về chính sách xã hội 2012 - 2020.

-

Hội nghị Trung ương 6 (10 - 2012) Kết luận về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao
hiệu quả. Phát triển khoa học và công nghệ, tái lập ban kinh tế trung ương và ban nội
chính trung ương.


-

Hội nghị Trung ương 7 (5 -2013) Tăng cường sự đổi mới của Đảng với công tác dân
vận, sửa đổi Hiến pháp 1992.

-

Hội nghị Trung ương 8 (11 -2013) Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt
Nam.

g, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tiếp tục đẩy mạnh tồn diện, đồng bộ cơng
cuộc đổi mới, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.
● Nội dung Đại hội XII
-

Tổng kết 30 năm đổi mới (1986 - 2016)

-

Nêu mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 - 2021
+ Nhấn mạnh cần đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi
nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững
+ 6 nhiệm vụ trọng tâm.
➢ Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
➢ Xây dựng bộ máy chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả. Đẩy nhanh phòng
chống tham nhũng, quan liêu.
➢ Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất
lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế
22



➢ Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
➢ Thu hút và phát huy mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân.
➢ Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực.
-> Đổi mới mơ hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh CNH - HĐH đất
nước.
-

Rút ra một số bài học kinh nghiệm
+ Chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
+ Có những chủ trương, giải pháp, nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn đất nước.
+ Kiên trì thực hiện các mục tiêu lâu dài, nhiệm vụ cơ bản , giải quyết dứt điểm
những yếu kém, ách tắc, phát huy mọi nguồn lực trong và ngoài nước.
+ Chủ động tích cực hội nhập quốc tế.
● Quá trình chỉ đạo thực hiện

-

Chỉ thị 05 - CT/TW của Bộ chính trị (5 - 2016) Đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

-

Hội nghị Trung ương 4 (10 - 2016) Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

-


Hội nghị Trung ương 5 (5 - 2017) tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi
mới; Kinh tế tư nhân “ khỏe” sẽ kéo nền kinh tế “cất cánh”.

-

Hội nghị Trung ương 6 (10 - 2017) Ban hành Nghị quyết về tăng cường cơng tác bảo
vệ chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân trong tình hình mới và cơng tác dân số.

-

Hội nghị Trung ương 7 (5-2018) Cải cách chính sách tiền lương và thay đổi chính sách
bảo hiểm xã hội

-

Hội nghị Trung ương 8 (10 - 2018) Đề ra chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển
Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

h, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh tồn diện, đồng
bộ cơng cuộc đổi mới, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXi, nước ta trở thành nước phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
-

Thời gian, địa điểm: diễn ra từ ngày 25/1 đến 1/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội.
● Nội dung cơ bản đại hội XIII

-

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh


23


-

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đồn kết tồn
dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

-

Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới.

-

Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững mơi trường hịa bình, ổn định

-

Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.

5.2. Những thành tựu về các mặt trong công cuộc Đổi mới toàn diện ở Việt Nam:
● Về kinh tế - chính trị:
a) Kinh tế:
-

Năm 1986, Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng
là then chốt.

-


Năm 1996, chấm dứt khủng hoảng kinh tế xã hội.

-

Năm 2008, ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia thu nhập
trung bình.
-> Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
mang lại hiệu quả.

-

Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu
xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế

-

Trong nhiệm kì khóa XII, những năm 2016 - 2019 phát triển kinh tế có những thuận
lợi: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 vẫn đạt khoảng 6%/ năm;
quy mơ nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên; chất lượng tăng trưởng
được cải thiện, năng suất lao động tăng.
b) Chính trị:

-

Hệ thống chính trị không ngừng được xây dựng củng cố vững mạnh

-

Xây dựng Nhà nước pháp xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước

tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiểu quả hơn, bảo đảm thực hiện đồng
bộ, các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

-

Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, về tư tưởng,về đạo đức, về tổ chức và cán bộ

-

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm
quyền và sức chiến đấu của Đảng.
● Về văn hóa - xã hội:

-

Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn.

24


-

Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát
huy.

-

Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả
tích cực.


-

Q trình đổi mới từng bước hoàn thiện đồng bộ và thực hiện hiệu quả chính sách xã
hội, chính sách dân tộc, tơn giáo,…

-

Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều còn
dưới 3%, hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
● Về giáo dục - đào tạo:

-

Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tích cực được triển khai,
bước đầu có hiệu quả.

-

Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô.

-

Coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí.

-

Cơ chế tự chủ, cơ chế cung ứng dịch vụ cơng trong giáo dục và đào tạo được thể chế
hóa và đạt kết quả bước đầu.

-


Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo được mở rộng.

-

Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng.
● Về quốc phòng - an ninh:

-

Giữ vững tăng cường lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lí tập
trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang.

-

Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại.

-

Kết hợp có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
● Về quan hệ đối ngoại - hội nhập quốc tế:

-

Tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung khổ quan hệ ổn định và bền vững với
các đối tác.

-


Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương
khu vực và tồn cầu.

-

Xử lí đúng đắn, hiệu quả quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác
chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác khác.

25


×