ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA NHNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2011
Giáo viên hướng dẫn : T.S. Hồ Hữu Tiến
Sinh viên thực hiện : Tán Anh Kha
Lớp : 35K15.2
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 1
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng Đề án này là do chính em thực hiện trên cơ sở tham
khảo một số giáo trình, tạp chí và một vài đề án, luận án khác.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.
OMO : Open Market Operations-Thị trường mở.
NHNN : Ngân hàng nhà nước.
CSTT : Chính sách tiền tệ.
NHTW : Ngân hàng trung ương.
DTBB : Dự trữ bắt buộc.
GTCG : Giấy tờ có giá.
TCTD : Tổ chức tín dụng.
TVC : Lãi suất tái cấp vốn
NHTM : Ngân hàng thương mại
CD : Chứng Chỉ tiền gửi.
BOJ : Ngân hàng Nhật Bản.
Fed : Cục dự trữ liên bang
BOT : Ngân hàng Thái Lan.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 3
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng 16
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất 16
CHƯƠNG 2
Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm 44
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng
đầu năm 2011 49
Bảng 2.3. Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở 51
Bảng 2.4. Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm 52
Biểu đồ 2.1. Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5
đến hết 1/7 /2011 50
Biểu đồ 2.2. Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở 51
Biểu đồ 2.3. Bơm ròng trên thị trường mở năm 2011 theo tháng 53
Biểu đồ 2.4. Số dư trên thị trường mở năm 2011 và đầu năm 2012 54
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT. 2
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU 3
MỤC LỤC 4
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I. 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG 10
1.1. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - MỘT CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 10
1.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ 10
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ 10
1.1.2.1. Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng) 11
1.1.2.2. Mục tiêu điều hành 11
1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian 11
1.1.2.2.2 Mục tiêu hoạt động 11
1.1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ 12
1.1.3.1. Dự trữ bắt buộc 12
1.1.3.2. Chính sách chiết khấu 12
1.1.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở 13
1.1.3.4. Lãi suất 13
1.1.3.5. Hạn mức tín dụng 14
1.1.3.6. Tỷ giá hối đoái 14
1.2. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 14
1.2.1. Khái niệm 14
1.2.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở 15
1.2.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng 15
1.2.2.2. Về mặt giá - Tác động qua lãi suất 16
1.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM 17
1.2.3.1. Ưu điểm 17
1.2.3.2. Nhược điểm 18
1.2.4. Vai trò và sự cần thiết của nghiệp vụ thị trường mở 18
1.2.4.1. Đối với ngân hàng trung ương 18
1.2.4.2. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương 19
1.2.4.3. Đối với nền kinh tế 20
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 5
1.2.5. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở 20
1.2.5.1. Ngân hàng trung ương 21
1.2.5.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương 21
1.2.5.2.1. Các ngân hàng thương mại 21
1.2.5.2.2. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng 21
1.2.5.2.3. Các nhà giao dịch sơ cấp 21
1.2.6. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở 22
1.2.6.1. Tín phiếu kho bạc 22
1.2.6.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương 22
1.2.6.3. Trái phiếu Chính phủ 23
1.2.6.4. Trái phiếu Chính quyền địa phương 23
1.2.6.5. Chứng chỉ tiền gửi 23
1.2.7. Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở 23
1.2.7.1. Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở 23
1.2.7.1.1. Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) 23
1.2.7.1.2. Giao dịch mua bán có kỳ hạn 24
1.2.7.2. Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở 24
1.2.7.2.1. Đấu thầu khối lượng 24
1.2.7.2.2. Đấu thầu lãi suất 25
1.2.8. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự vận hành nghiệp vụ thị trường mở của Ngân
hàng trung ương 26
1.2.8.1. Nhân tố chủ quan 26
1.2.8.1.1. Dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng 26
1.2.8.1.2. Các quy định về nghiệp vụ thị trường mở 26
1.2.8.2. Các nhân tố khách quan 27
1.2.8.2.1. Trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia 27
1.2.8.2.2. Hàng hoá thị trường mở do các ngân hàng nắm giữ 28
1.3. KHẢO CỨU SỰ VẬN HÀNH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA
MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT
NAM 28
1.3.1. Sự vận hành OMO của NHTW các nước phát triển 28
1.3.1.1. Ngân hàng Nhật Bản 28
1.3.1.2. Cục dự trữ liên bang Mỹ 29
1.3.2. Sự vận hành OMO của Ngân hàng Thái Lan 30
1.3.3. Sự vận hành OMO của Ngân hàng quốc gia Ba Lan 32
1.3.4. Một số kiến nghị đối với Việt Nam 33
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 6
CHƯƠNG II. 36
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 36
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP
VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36
2.1.1. Sự cần thiết ra đời nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước 36
2.1.1.1. Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thấp 36
2.1.1.2. Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán nợ 37
2.1.1.3. Xu thế hội nhập kinh tế 38
2.1.2. Quá trình hình thành và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nghiệp vụ thị
trường mở 38
2.1.2.1. Khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở 38
2.1.2.2. Quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của nghiệp vụ thị
trường mở 40
2.1.2.2.1. Quy chế về nghiệp vụ thị trường mở 40
2.1.2.2.2. Quy chế quản lý vốn khả dụng 42
2.1.3. Bộ máy tổ chức điều hành nghiệp vụ thị trường mở 42
2.1.3.1. Ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở 42
2.1.3.2. Các phòng, bộ phận liên quan 43
2.1.3.2.1. Bộ phận quản lý vốn khả dụng thuộc Vụ Chính sách tiền tệ 43
2.1.3.2.2. Phòng Nghiệp vụ thị trường tiền tệ thuộc Sở Giao dịch 43
2.1.3.2.3. Phòng Thị trường tiền tệ và bảo lãnh thuộc Vụ Tín dụng 43
2.1.3.2.4. Một số phòng ban khác 43
2.1.4. Các thành viên tham gia thị trường mở 43
2.1.4.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 44
2.1.4.2. Các đối tác của Ngân hàng nhà nước Việt Nam 44
2.1.5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở 45
2.1.6. Phương thức giao dịch trên thị trường mở 45
2.1.6.1. Phương thức mua bán 45
2.1.6.1.1. Giao dịch mua và bán hẳn: NHNN sẽ mua hoặc bán các GTCG với
toàn bộ thời hạn còn lại của chúng. Sau khi giao dịch, quyền sở hữu GTCG sẽ
được chuyển giao từ bên bán sang bên mua và không kèm thoả thuận mua bán lại
các GTCG. 46
2.1.6.1.2. Giao dịch bán và cam kết mua lại (giao dịch có kỳ hạn) được NHNN
thực hiện như sau: 46
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 7
2.1.6.2. Phương thức đấu thầu 46
2.1.6.2.1. Đấu thầu khối lượng 46
2.1.6.2.2. Đấu thầu lãi suất 46
2.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NĂM 2011. 47
2.2.1. Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 49
2.3.2. Đánh giá tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 55
2.3.2.1. Kết quả đạt được: 55
2.3.2.2. Một số hạn chế 56
2.3.2.3. Nguyên nhân 57
2.3.3. Một số đề xuất 58
DANH MụC TÀI LIệU THAM KHảO 62
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 63
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 64
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 8
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng
trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, chính sách tiền
tệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò vị trí của mình hay không lại phụ
thuộc vào quá trình sử dụng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của ngân
hàng trung ương. Để thực hiện vai trò và trách nhiệm đã được quy định tại Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng các
công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường
mở.
Sau một thời gian dài chuẩn bị về hàng lang pháp lý, trang thiết bị, nhân lực,
… nghiệp vụ thị trường mở đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức
khai trương vào ngày 12/7/2000. Trải qua hơn 11 năm hoạt động, nghiệp vụ thị
trường mở đã được thực hiện an toàn, góp phần quan trọng vào việc điều tiết và
kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, cũng như các
công cụ chính sách tiền tệ khác của Ngân hàng nhà nước, nghiệp vụ thị trường mở
đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh
số giao dịch nhỏ, hàng hoá giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lý
thông tin còn chưa hoàn thiện. Nhận thức được điều dó, em đã lựa chọn đề tài
“NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 - 2011” để làm đề tài nghiên cứu của Đề án.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ, công cụ chính sách
tiền tệ và nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng trung ương.
- Phân tích, đánh giá hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam từ năm 2007 đến nay.
- Một vài Đề xuất góp phần hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2007 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề án, các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng
là phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 9
pháp phân tích, tổng hợp, thống kê Ngoài ra, trong Đề án còn sử dụng một số
biểu, bảng để minh hoạ.
5. Kết cấu của đề án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, đề án bao
gồm 2 chương:
Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng
trung ương
Chương 2. Thực trạng sử dụng nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam giai đoạn 2007 đến năm 2011.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Hồ Hữu Tiến và các thầy cô khác trong
khoa TC-NH, Trường ĐHKT Đà Nẵng đã hướng dẫn tận tình và luôn em trong
suốt thời gian làm Đề án.
SVTH
Tán Anh Kha
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 10
CHƯƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - MỘT CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Tại bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế thị trường, để đạt được các mục
tiêu phát triển kinh tế vĩ mô đều phải sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô như
chính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại và chính
sách tiền tệ (CSTT). Thông qua việc điều hành các chính sách này để tác động đến
các mục tiêu như tăng trưởng, lạm phát, việc làm … Vì vậy, CSTT đóng vai trò là
một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô
của Nhà nước.
1.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ
CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các công
cụ của mình để điều tiết và kiểm soát các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm
đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và
duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý.
Theo nghĩa rộng, CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ
trong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thực
hiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền
quốc gia. Theo nghĩa hẹp, CSTT là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiền
cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số
lạm phát nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh
tế vĩ mô.
NHTW có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quan
đến CSTT vì mọi hoạt động của NHTW và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng đến
hệ thống điều kiện tiền tệ của nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ tiêu như khối
lượng tiền, tín dụng, lãi suất, tỷ giá … Vì thế công tác xây dựng và điều hành CSTT
là trọng tâm hoạt động của một NHTW.
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu của
CSTT trong từng thời kỳ bao gồm các mục tiêu tổng quát và hệ thống mục tiêu điều
hành.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 11
1.1.2.1. Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng)
Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước. Sự điều chỉnh lượng tiền cung
ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng
trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước
còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế phát triển đặc
thù quốc gia. Tuy nhiên do tính chất mâu thuẫn giữa các mục tiêu nên NHTW
không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng thời gian nhất định.
Điều này buộc NHTW phải có sự lựa chọn và ưu tiên cho những mục tiêu quan
trọng trong từng thời kỳ mặc dù mục tiêu ổn định giá cả luôn là mục tiêu dài hạn
của NHTW.
1.1.2.2. Mục tiêu điều hành
Các mục tiêu chính sách trên chỉ là mục tiêu cuối cùng mà các CSTT nhắm
tới. Đây là các mục tiêu mang tính định tính nên để tạo điều kiện thuận lợi trong quá
trình điều hành CSTT, các NHTW đều xây dựng hệ thống mục tiêu điều hành mang
tính định lượng cụ thể hơn.
Mục tiêu điều hành là các biến số tiền tệ có tác động mạnh theo một chiều
nhất định đến mục tiêu cuối cùng (mục tiêu chính sách) của CSTT. Căn cứ vào sự
phát triển và diễn biến của thị trường tiền tệ, NHTW các nước đều lựa chọn các
mục tiêu điều hành của CSTT. Mục tiêu điều hành của CSTT bao gồm mục tiêu
trung gian và mục tiêu hoạt động.
1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian
NHTW không thể sử dụng các công cụ CSTT tác động trực tiếp và ngay lập
tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Ảnh hướng của CSTT chỉ xuất hiện
sau một thời gian nhất định. Để khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả các nước
thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng.
Tiêu chuẩn của chỉ tiêu trung gian: (1) Có thể đo lường được một cách chính
xác và nhanh chóng, bởi vì các chỉ tiêu này chỉ có ích khi nó phản ánh được tình
trạng của CSTT nhanh hơn mục tiêu cuối cùng; (2) Có thể kiểm soát được để có thể
điều chỉnh mục tiêu đó cho phù hợp với định hướng của CSTT; (3) Có mối liên hệ
chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng.
Cả tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên,
nhưng NHTW không thể chọn cả hai chỉ tiêu trên làm mục tiêu trung gian mà chỉ có
thể chọn một trong hai chỉ tiêu đó. Bởi lẽ, nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượng
tiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại.
1.1.2.2.2 Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 12
công cụ CSTT đồng thời có mối quan hệ chi phối tới các mục tiêu trung gian. Việc
lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thích hợp làm mục tiêu hoạt động có ý nghĩa quan trọng
quyết định hiệu quả tác động của CSTT. Hệ thống chỉ tiêu này vừa đóng vai trò
phản ánh tình trạng CSTT đồng thời phản ánh dấu hiệu về định hướng CSTT của
NHTW.
Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu làm mục tiêu hoạt động cũng tương tự như
tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian, bao gồm: (1) Phải đo lường được nhằm
tránh những suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) Phải có
mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT; (3) Phải có mối quan
hệ chặt chẽ và ổn định với mụcc tiêu trung gian được lựa chọn. Căn cứ vào tiêu
chuẩn trên, các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTW
bao gồm: lãi suất liên ngân hàng và dự trữ ngân hàng.
1.1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
Để thực hiện CSTT theo các mục tiêu đã xác định trong từng thời kỳ, NHTW sử
dụng một số công cụ CSTT nhằm tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi
suất (chi phí) vay vốn. Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi
NHTW nhằm tác động trực tiếp tới các mục tiêu hoạt động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp tới mục tiêu trung gian, từ đó đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT.
1.1.3.1. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một
tài khoản tiền gửi tại NHTW trong một thời kỳ nhất định. DTBB được tính trên cơ
sở tỷ lệ DTBB do NHTW quy định đối với từng loại tiền gửi cấu thành nên nguồn
vốn hoạt động của một ngân hàng. Tỷ lệ DTBB do NHTW quy định và được xác
định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại
NHTM. Tỷ lệ DTBB được áp dụng có phân biệt đối với các loại tiền gửi có thời
hạn khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM.
DTBB tác động tới cung ứng tiền tệ bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung
ứng tiền tệ. Tỷ lệ DTBB tăng lên sẽ làm giảm số tiền gửi được nâng đỡ bởi một
mức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung ứng tiền. Mặt khác,
tỷ lệ DTBB giảm xuống sẽ dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ do việc
tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần. Việc quy định tỷ lệ DTBB do NHTW quyết định
tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế.
1.1.3.2. Chính sách chiết khấu
Chiết khấu là một trong những hình thức cho vay của NHTW đối với các NHTM.
Khi cấp một khoản tín dụng cho NHTM, một mặt NHTW đã làm tăng lượng tiền cung
ứng, mặt khác tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 13
thanh toán của họ.
Chính sách chiết khấu bao gồm các quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiết
khấu và điều kiện cho vay của NHTW đối với các ngân hàng. NHTW cho vay ngắn hạn
trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá của ngân hàng. NHTW kiểm soát công cụ này
chủ yếu bằng cách tác động tới giá cả khoản vay thông qua lãi suất chiết khấu căn cứ vào
mục tiêu của CSTT là thắt chặt hay nới lỏng, từ đó tác động tới lượng tiền trong lưu
thông.
Sự thay đổi về lãi suất chiết khấu được xem là một dấu hiệu thông báo của NHTW
trong định hướng thực hiện CSTT. Các tuyên bố của NHTW về chiều hướng biến động
lãi suất chiết khấu (tăng lên hoặc giảm xuống) có tác dụng hướng dẫn hành vi của thị
trường theo định hướng CSTT.
1.1.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động NHTW mua, bán GTCG như
tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi trên thị
trường tiền tệ, nhằm làm thay đổi cơ số tiền tệ mà đặc biệt là tiền dự trữ trong hệ
thống ngân hàng, qua đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng. Do vậy, thị trường
này có khả năng tiếp nhận được một lượng rất lớn nghiệp vụ của NHTW mà không
làm cho giá cả biến động mạnh.
OMO là công cụ CSTT quan trọng của NHTW. Nghiệp vụ này là yếu tố quyết
định quan trọng nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ và đó cũng là nguồn
gốc chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ.
OMO là một trong những cửa ngõ quan trọng để NHTW phát hành tiền vào
lưu thông hoặc rút bớt tiền trong lưu thông về thông qua mua hay bán các các loại
GTCG. Qua nghiệp vụ mua bán này NHTW làm tăng hay giảm dự trữ của các
NHTM, tác động đến khả năng tín dụng của các ngân hàng này và từ đó làm tăng
hay giảm lượng tiền cung ứng.
1.1.3.4. Lãi suất
Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong điều khiển mức
cung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm khối
lượng tiền tệ trong lưu thông. Sự biến động của lãi suất có thể kích thích hoặc kìm hãm
sản xuất. Do vậy, lãi suất là một công cụ quan trọng của NHTW trong thực hiện CSTT.
Thông qua chính sách chiết khấu đối với các ngân hàng, NHTW thực hiện quản lý
gián tiếp lãi suất cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế. Khi muốn điều chỉnh lãi
suất của các ngân hàng, NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ đó tác động đến lãi
suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động,
cho vay của các ngân hàng. Ngoài ra, NHTW có thể quản lý trực tiếp lãi suất của các
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 14
TCTD đối với nền kinh tế thông qua quy định các mức lãi suất cụ thể về cho vay và huy
động. Tuy nhiên hình thức quản lý trực tiếp lãi suất này chỉ phù hợp tại các nước có hệ
thống tài chính tiền tệ chưa phát triển, và xu hướng chung là giảm dần sự quản lý trực
tiếp này.
1.1.3.5. Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW để
khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng cho
nền kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đề
ra. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọng
khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Mức dư nợ quy định cho từng ngân hàng căn cứ vào
đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, trong định hướng cơ cấu kinh tế và trong giới hạn
tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian xác định.
Hạn mức tín dụng được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống
chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Do vậy cơ chế tác động của nó mang tính
áp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng.
1.1.3.6. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại tệ,
hay có thể nói là giá cả của đồng tiền này đo bằng một đồng tiền khác. Tỷ giá vừa
phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại tệ. Đến
lượt mình, tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, có tác
động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Chính sách tỷ giá tác động nhạy bén và mạnh mẽ đến sản xuất, xuất nhập khẩu hàng
hoá, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, vốn đầu tư và dự trữ của
quốc gia.
Về thực chất thì tỷ giá không phải là công cụ CSTT bởi lẽ tỷ giá không làm
tăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông, mà chỉ góp phần thay đổi cơ cấu khối
lượng tiền. Tuy nhiên tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế
đang phát triển, có mức độ đôla hoá cao, thì tỷ giá được xem là một công cụ bổ trợ
quan trọng cho điều hành CSTT.
1.2. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG
ƯƠNG
1.2.1. Khái niệm
Theo cách hiểu chung nhất thì khái niệm “Nghiệp vụ thị trường mở” là hoạt
động mua bán các GTCG của NHTW với các đối tác được lựa chọn để qua đó tác
động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác này, vì thế có thể ảnh
hưởng tới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế thông qua những ảnh hưởng về mặt
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 15
lượng và giá cả. Thuật ngữ "Thị trường mở" ở đây được hiểu là một thị trường có
tính chất mở, nghĩa là đa dạng về các đối tác tham gia thị trường và đa dạng về các
loại giao dịch trên thị trường.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) được Ngân hàng Anh áp dụng đầu tiên từ
năm 1914 trong nỗ lực tìm kiếm công cụ có hiệu quả hơn để điều chỉnh lãi suất thị
trường theo hướng mong muốn.
OMO là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được các
nước trên thế giới sử dụng. Mặc dù OMO được sử dụng phổ biến nhưng việc đưa ra
một khái niệm chung là không thống nhất. Sự không thống nhất này thể hiện ở sự
khác nhau về hàng hoá giao dịch, các đối tác tham gia thị trường và các loại giao
dịch trên thị trường.
Các GTCG được sử dụng trên thị trường mở là các GTCG ngắn hạn và dài hạn
như tín phiếu, trái phiếu chính phủ, tín phiếu NHTW, trái phiếu doanh nghiệp, trái
phiếu ngân hàng v.v Các chủ thể của thị trường mở là NHTW và các đối tác chủ
yếu là các ngân hàng, và có thể là các tổ chức tài chính, tín dụng phi ngân hàng.
Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán
nợ cả ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên khác với các khái niệm có phạm vi và loại
hình công cụ rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường
mở ở các nước khác nhau lại khác nhau về phạm vi, loại hình công cụ và thời hạn
của các công cụ giao dịch trên thị trường. Đối với một số nước, hàng hoá giao dịch
trên thị trường mở chỉ gồm các GTCG ngắn hạn và đối tác tham gia chỉ là các
TCTD. Khi đó, thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Đối với nước
khác như Mỹ, Đức thì các GTCG dài hạn cũng có thể giao dịch, khi đó thị trường
mở bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Điều đó có nghĩa là các giới
hạn, quy định khác nhau về hàng hoá và đối tác tham gia OMO với NHTW sẽ quyết
định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước.
1.2.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác
động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi
suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ
cả về mặt giá và mặt lượng.
1.2.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác
động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến
tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và
tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 16
gia OMO).
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân
hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra.
Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ
làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng. Kết quả là dự trữ của hệ
thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Sự
giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân
hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khi
NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân
hàng tăng lên. Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động
đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh
hưởng đến lượng tiền cung ứng.
1.2.2.2. Về mặt giá - Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián
tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu
vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền trung
ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắn
hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ
truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính. Tại
một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ
tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định.
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất
NHTW
bán
GTCG
Dự trữ
NH
giảm
Dự trữ mở
rộng cho
vay giảm
Khối
lượng TD
giảm
MS
giảm
Cung TPKB
tăng
NHTW bán
TPKB
Dự trữ NH
giảm
Đầu tư
giảm
Cung của quỹ
cho vay giảm
Lãi suất ngắn
hạn tăng
Lãi suất thị
trường tăng
Giá TPKB
giảm
LS thị trường
tăng
tăng
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 17
Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu
về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ
lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ
trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời
của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD
và sản lượng.
Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng.
Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi
suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường.
Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm
tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho
bạc. Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng
tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãi
suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi
suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ
giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và
góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
1.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM
1.2.3.1. Ưu điểm
Nghiệp vụ TTM có nhiều ưu điểm hơn so với các công cụ khác của CSTT:
- Nghiệp vụ TTM xảy ra theo sáng kiến của NHTW và vì vậy NHTW kiểm
soát quy mô của nó một cách hoàn toàn. Sự phát triển như vậy không thể đạt được
khi sử dụng các nghiệp vụ khác, ví dụ cho vay chiết khấu, trong đó NHTW có thể
khuyến khích hoặc cản trở các Ngân hàng vay chiết khấu thông qua việc thay đổi lãi
suất chiết khấu, nhưng không thể kiểm soát khối lượng cho vay chiết khấu.
- Nghiệp vụ TTM vừa linh hoạt, vừa chính xác. Nó có thể được sử dụng với
bất kì quy mô nào. Nếu NHTW muốn có sự thay đổi nhỏ trong dự trữ hoặc cơ sở
tiền tệ, nghiệp vụ TTM có thể giúp nó đạt được mục tiêu này thông qua bán hoặc
mua một lượng nhỏ chứng khoán. Ngược lại nếu nó muốn có sự thay đổi rất lớn
trong dự trữ hoặc thay đổi tiền tệ, thì công cụ nhiệp vụ TTM cũng mạnh đủ để làm
điều đó thông qua việc mua hoặc bán một lượng CK rất lớn.
- Nghiệp vụ TTM có thể dễ dàng đảo ngược. Nếu phạm phải một sai lầm nào
đó trong nghiệp vụ TTM, NHTW có thể sửa chữa ngay. Nếu NHTW cho rằng lãi
suất vốn liên bang quá thấp do đã mua quá nhiều trên TTM, nó có thể ngay lập tức
sửa đổi tình trạng này bằng cách thực thi việc bán trên TTM.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 18
- Nghiệp vụ TTM có thể được thực hiện một cách nhanh chóng. Nó không gắn
với bất kỳ độ trễ hành chính nào. Khi NHTW quyết định thay đổi cơ sở tiền tệ hoặc
dự trữ, nó chỉ cần ra lệnh cho các CK nhà buôn thực hiện và hoạt động giao dịch
ngay lập tức được thực hiện.
1.2.3.2. Nhược điểm
- Vì ảnh hưởng của nghiệp vụ TTM đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác động
ngược chiều nên dự trữ của Ngân Hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau các
hoạt động mua, bán CK của NHTW. Chẳng hạn, dòng tiền chảy ngược chiều của
vốn, do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi ngân sách ở
NHTW tăng lên, các hoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng lượng tiền
cung ứng sẽ bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ.
- Các NHTW không phải lúc nào cũng tăng, hay giảm lượng cung ứng tín
dụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của nghiệp vụ
TTM. Có nhiều yếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mục
tiêu mở rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tăng
lên
- Khi lãi suất thị trường giảm xuống như là kết quả tất yếu của sự tăng lên của
MB (lượng tiền cung ứng của NHNN tăng thêm hằng năm), không phải lúc nào
khối lượng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Điều này còn phụ thuộc vào khả năng
hấp thụ vốn của nề kinh tế, mức độ rủi ro và thiếu ổn định trong môi trường đầu tư.
- Như vậy khả năng phát huy hiệu quả tối đa của nghiệp vụ TTM nhiều khi
không phụ thuộc vào NHTW, mà nó còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô,
hành vi của công chúng và các quyết định của các NHTM.
1.2.4. Vai trò và sự cần thiết của nghiệp vụ thị trường mở
1.2.4.1. Đối với ngân hàng trung ương
Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực
thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị
trường. Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc
gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ.
Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu
hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất
đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW
hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT.
Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua
mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định
hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt. Đặc biệt khi thực
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 19
hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn
chế những biến động của lãi suất thị trường.
OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ động
khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do
các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thể
chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. OMO có
thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao
dịch. NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG
lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG.
OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ
trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác. Các giao dịch OMO có tính hai chiều, qua
đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi
công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặt khác, với công cụ OMO,
NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều
vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV. Qua việc tính toán và dự
báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được
khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông.
1.2.4.2. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa
dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh
hoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ
hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì
vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn
linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời
gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng tín dụng.
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán
GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường. Thông qua thị trường
mở, các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào
các GTCG để thu được lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp. Khi cần thiết, các
ngân hàng có thể bán lại các GTCG này trên thị trường mở để giải quyết khó khăn
về nguồn vốn. Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ
tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bên
cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch
trong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 20
đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự
trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng.
Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các
TCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền
thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định
để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG. OMO cũng thúc đẩy
các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường.
OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị
trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như
một hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB. Lãi
suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như
trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.
Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của
các ngân hàng.
1.2.4.3. Đối với nền kinh tế
Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và
NHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của
thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này. Điều này góp
phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho các trung
gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu
dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế.
Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị
trường nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự
hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng.
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào
nền kinh tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức
tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu
cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động
của NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam
á đều sử dụng OMO trong điều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế
vào khu vực và thế giới.
1.2.5. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 21
Thị trường mở là một thị trường có tính chất mở nên các thành viên thị trường
rất đa dạng với các mục đích khác nhau. Nhìn chung, mọi nhà đầu tư đều có thể là
đối tác giao dịch với NHTW trong các giao dịch OMO nếu thoả mãn những tiêu
chuẩn cụ thể của NHTW ở các nước. Các tiêu chuẩn này nhằm mục đích: (i) Các
đối tác phải đảm bảo độ tin cậy nhất định và (ii) Việc giao dịch với các đối tác phải
có hiệu quả xét trên khía cạnh can thiệp của NHTW. Thông thường, thành viên
OMO bao gồm:
1.2.5.1. Ngân hàng trung ương
NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở
theo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại
OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông qua việc mua
bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả
năng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất thị trường theo mục tiêu
CSTT. NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện
chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương
tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.
Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh
mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các
mục tiêu xác định của nó.
1.2.5.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương
1.2.5.2.1. Các ngân hàng thương mại
Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối tác
quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả. Các
NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năng
thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi.
Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan trọng
xét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có
mạng lưới hoạt động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn
cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là
người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ.
1.2.5.2.2. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham gia
OMO. Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm … coi thị
trường mở như là nơi kiếm thu nhập thông qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua
bán các GTCG.
1.2.5.2.3. Các nhà giao dịch sơ cấp
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 22
Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trung gian
trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác. Các nhà giao dịch
sơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính. Thực tế ở
nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiện
thông qua các nhà giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCG
với các nhà giao dịch sơ cấp. Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơ
cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn
sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín
phiếu kho bạc.
1.2.6. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở
Các loại GTCG được sử dụng trong các giao dịch OMO ở các nước có khác
nhau. Tại Anh, Mỹ, OMO được hiểu là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán Chính
phủ của NHTW nhưng chủng loại các GTCG của Chính phủ được sử dụng lại
phong phú hơn ở một số nước khác như Nhật Bản, úc, Pháp. Hơn nữa, tại một số
nước chỉ cho phép các GTCG ngắn hạn được sử dụng trong OMO, nhưng tại một số
nước khác thì các GTCG dài hạn cũng được sử dụng làm hàng hoá của OMO. Như
vậy, OMO không giới hạn cụ thể về chủng loại cũng như thời hạn các GTCG giao
dịch, nhưng bao gồm những loại chủ yếu sau:
1.2.6.1. Tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục
đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính. Thời hạn của tín
phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng. Đây là loại hàng hoá chủ yếu của OMO ở hầu
hết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii)
Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp của
NHTW với mức độ và quy mô khác nhau.
Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất định. Khi
NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực
hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và
được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa
phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để
thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường.
1.2.6.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương
Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công
cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có
một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT
và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 23
Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chi
phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi
nhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ
Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tín
phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trung
mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn. Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín
phiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các
GTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng
hoá này.
1.2.6.3. Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm
mục đích huy động vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn có thời hạn lên
đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong các
giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khối
lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tài
chính.
1.2.6.4. Trái phiếu Chính quyền địa phương
Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương
khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do
các chính quyền địa phương lớn phát hành. Sự can thiệp của NHTW thông qua việc
mua bán loại trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ.
1.2.6.5. Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi (CD) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính
phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với
một kỳ hạn và lãi suất nhất định. Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày đến 7 năm
nhưng thường là ngắn hạn. CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do
các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút
tiền gửi trước hạn.
1.2.7. Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
1.2.7.1. Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
Có 2 loại giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bán
hẳn) và giao dịch (mua bán) có kỳ hạn.
1.2.7.1.1. Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)
Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) là các giao dịch mua bán GTCG của
NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Theo phương
thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 24
NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch. Do vậy tác động của
giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn.
1.2.7.1.2. Giao dịch mua bán có kỳ hạn
Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm
thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược.
Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một
thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó. Repos đảo
ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ
bán lại vào một ngày xác định trong tương lai. Thông thường, Repos và Repos đảo
ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn
khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt. Giao dịch theo hợp đồng Repos thực
chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị
trường cao.
Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong OMO do các lý
do: (i) Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng
không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng, (ii) Chi phí giao dịch thấp hơn các giao
dịch mua bán hẳn, (iii) Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT
không hoàn hảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục, (iiii) Làm giảm bớt
thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết
định hàng ngày của NHTW.
1.2.7.2. Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở
Các giao dịch OMO thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu
là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất.
1.2.7.2.1. Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW công
bố trước. NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thức
đấu thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện. NHTW công bố điều kiện đặt thầu để
các thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuận mức lãi suất đã xác
định trước. Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giá trị đạt thầu và phân bổ cho
từng tổ chức tham gia đặt thầu.
Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: Trước hết toàn bộ số
lượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau. Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏ
hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộ các đơn dự thầu
đều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu. Nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơn