Tải bản đầy đủ (.pdf) (46 trang)

Giáo trình Khai thác cỏ và đồng cỏ (Nghề: Thú y - CĐ/TC) - Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (740.81 KB, 46 trang )

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐỒNG THÁP

GIÁO TRÌNH
MƠN HỌC: KHAI THÁC CỎ & ĐỒNG CỎ
NGÀNH, NGHỀ: THÚ Y
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP/CAO ĐẲNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số 257/QĐ-TCĐNĐT-ĐT ngày 13 tháng 07 năm 2017
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Nghề Đồng Tháp)

Đồng Tháp, năm 2017


Bài 1: ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA CÂY CỎ
1.1 GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP CỦA CỎ
 Khái niệm về đồng cỏ
- Liên Xô (cũ): thuật ngữ về đồng cỏ chỉ những vùng đất đai rộng lớn có ít rừng và
cũng khơng thích hơp cho trồng trọt, thực vật sinh trưởng ở đây là cỏ dùng trong chăn
nuôi.
- Anh, Mỹ: đồng cỏ chỉ những vùng đất đai rộng lớn khơng có rừng cây không trồng
các loại cây nông nghiệp và phần lớn là cỏ thích hợp cho kinh doanh ngành chăn ni.
- Theo GS.Trịnh Văn Thịnh (1974) đồng cỏ để chỉ những diện tích đồng cỏ có sự phát
triển của con người vào sự phát triển của cây cỏ để làm thức ăn cho gia súc (tạm thời hay
vĩnh viễn), còn những vùng đồng cỏ tự nhiên gọi là bãi chăn.
- Đồng cỏ tạm thời những vùng đồng cỏ có thời gian sử dụng ngắn thường từ 2 đến 3
năm sau đó chuyển sang trồng cây khác.
- Đồng cỏ vĩnh viễn là đồng cỏ có thời hạn sử dụng dài.
 Giá trị nông nghiệp của cỏ
Đồng cỏ là một cơ sở chủ yếu của ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc.
Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hoá năng lượng
chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người. Con người đã từ lâu biết khai thác đồng


cỏ, nhưng lúc đầu cịn hồn tồn dựa vào tự nhiên. Nhu cầu phát triển chăn ni ngày một
lớn, hình thức chăn thả tự nhiên như trước khơng thể đáp ứng được, do đó địi hỏi lồi
người phải đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ. Để gia tăng giá trị tổng sản lượng
việc trồng cỏ trong hệ thống luân canh hoặc xây dựng đồng cỏ nhân tạo là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng. Đồng cỏ chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp thể
hiện qua 4 vai trị lớn:
a. Vai trị của đồng cỏ trong chăn ni
Gia súc có khả năng biến đổi những thực liệu thơ thành một loại thực phẩm quí cho
con người: chất đạm. Gia súc nhai lại có khả năng cao hơn trong việc sử dụng những cây
cỏ để sản xuất nên những thực phẩm có giá trị. VD: sử dụng đồng cỏ để sản xuất thịt thì 1
ha sản xuất được 1 tấn thịt/năm, còn trồng hoa màu khác để cho thú ăn thì chỉ được 2001


300 kg/năm. Cỏ trồng ngoài làm thức ăn cho gia súc cịn có thể sử dụng nhiều mục đích
khác nhau.
b. Vai trị của đồng cỏ đối với sự phì nhiêu đất đai
* Sự phì nhiêu lí học:
Về phương diện hữu cơ: khi trồng cỏ sẽ tạo ra 1 lượng chất hữu cơ khá lớn trong
đất là rễ. Cỏ có tỉ lệ thân lá /rễ là 1/1. Ngoài ra sau khi cho gia súc ăn cỏ tại chỗ hay cắt về
chuồng, phân súc vật sẽ được trả lại cho đất. Như vậy tất cả các bộ phận của cỏ đều được
trả về đất.
Trồng cỏ làm cho số trùn đất tăng lên nhiều. Trùn trong đất ăn vi sinh vật, chất hữu
cơ bài tiết ra phân, khoáng chất, lượng trùn rất lớn nên rất xốp.
* Sự phì nhiêu hố học:
Về phương diện N: cây họ đậu nhờ hiện tượng cộng sinh với Rhizobium tổng hợp
được N từ khí trời cung cấp cho cây. Cây đồng cỏ nhờ sống lâu nên cây phát triển, cây
hấp thu được các dưỡng liệu bị trực di ở sâu đem lên lá, hoa gia súc ăn xong bài tiết ra trả
lại. Như vậy nếu trồng cỏ thì dưỡng liệu được mang sâu lên trong khi đó những loại hoa
màu khác thì khơng sử dụng được vì rễ cạn.
Ước tính mỗi ha đồng cỏ mang lại cho đất hàng năm khoảng 18 kg K, 25 kg N, 25

kg Ca và 20 kg Mg, nhiều chất vi lượng khác như Cu, Zn, Fe, Mn.
c. Chống xói mịn đất đai
Nước mưa và gió là 2 tác nhân gây ra sự xói mịn đất đai, chống xói mịn đất cần có
một lớp cỏ mọc ở đất mặt. Xói mịn dẫn đến đất đai nghèo dinh dưỡng thậm chí khơng thể
tiếp tục canh tác được.
* Chống xói mịn do nƣớc mƣa
Khi đất xốp làm cho nước thấm ở các kẽ hở, nếu khơng có những kẽ hở này nước sẽ
chảy tràn. Cỏ có rễ chùm nên làm cho đất dễ thấm nước và không bị cuốn đi. Mặt khác
giọt mưa rơi xuống sẽ làm vỡ các tụ đất, bịt các kẽ hở lại gây ra hiện tượng đóng váng trên
mặt làm nước chảy tràn. Để tránh ảnh hưởng của giọt mưa rơi xuống đất người ta có thể
trồng hoa màu nhưng khơng tốt bằng trồng cỏ vì hoa màu có khoảng cách thưa hơn. Nếu
đất không được bảo vệ, cơ cấu của đất sẽ bị huỷ hoại rất mau.
* Chống xói mịn do gió
Vận tốc gió lớn ở sát lớp đất mặt sẽ cuốn đất đi. Mặt khác gió cịn làm giảm đặc
tính lý học của đất vì kéo những hạt đất nhỏ làm bít khoảng trống giữa các tụ đất. Trồng
2


cỏ giữ đất là điều cần thiết trong điều kiện nhiệt đới ở nước ta. Nếu sử dụng tốt, đồng cỏ
cho 1 phương tiện che chở đất liên tục có thể sử dụng 5 -10 năm.
d. Trong công tác bảo vệ thực vật
Trồng cỏ là biện pháp bảo vệ mùa màng hữu hiệu và rẻ tiền để hạn chế ảnh hưởng
của côn trùng, bệnh và mầm bệnh. Trồng luân canh với cỏ mầm bệnh sẽ giảm đi rất nhiều
so với so với trồng liên tục 1 loại hoa màu nào đó trên 1 mảnh đất.
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CỎ
a. Khái niệm chung về sinh trƣởng và phát triển
+ Sinh trưởng và phát triển không phải một chức năng sinh lý riêng biệt mà là kết quả
hoạt động của nhiều chức năng trong quá trình sống của cây.
Sinh trưởng : Sự tạo mới các yếu tố cấu trúc của cây như thành phần mới của tế bào,
mơ và tồn cây kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của

chúng. Ví dụ: sự phân chia và già của tế bào,sự tăng kích thước của lá, hoa, quả, sự đẻ
nhánh…
Phát triển: làm thay đổi giai đoạn sinh trưởng này sang giai đoạn sinh trưởng khác.
Quá trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mơ và tồn cây để dẫn đến sự thay đổi về
hình thái và chức năng của chúng. Ví dụ: sự nảy mầm của hạt, sự ra hoa…
+ Giai đoạn sinh trưởng, phát triển dinh dưỡng (rễ, thân, cành, lá)
+ Giai đoạn sinh trưởng, phát triển sinh sản (cơ quan sinhsản,dự trữ)
* Mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển. Chỉ tiêu thể hiện: chiều cao cây, tốc độ
sinh trưởng, tốc độ đẻ nhánh, số nhánh/khóm, năng suất chất xanh, năng suất chất khô,
năng suất protein…
- Khi cây sinh trưởng nhanh thì quá trình phát triển nhanh: cây lớn nhanh và chóng ra
hoa kết quả.
- Cây sinh trưởng nhanh nhưng chậm phát triển: cây lớn nhanh chậm ra hoa kết quả.
- Cây sinh trưởng chậm nhưng phát triển nhanh: cây chậm lớn nhưng chóng ra hoa kết
quả.
* Theo L.V. Crơder and H.R. Chheda (1982) có 5 giai đoạn sinh trưởng được xác định
như sau:
1- Giai đoạn hình thành cây non: từ khi nẩy mầm cho đến khi ra chồi hay nhánh.
3


2- Giai đoạn thiết lập: giai đoạn chuyển tiếp từ khi hình thành mầm cho đến khi hình
thành lá và rễ thứ cấp.
3- Giai đoạn sinh trưởng thân lá.
4- Giai đoạn làm đòng: chuẩn bị ra hoa.
5- Giai đoạn ra hoa và kết hạt.
* Các yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng
- Khí hậu: Ánh sáng (cường độ ánh sáng), quang chu kì (độ dài ngày)
- Cây chịu bóng (Arachis pintoi,Panicum maximum ...), cây khơng chịu bóng
(Pennisetum purpureum)

- Thực vật chia làm 3 nhóm: cây C3, cây C4, cây CAM.
+ Nhiệt độ: Nhiệt đới (30-350C), ôn đới(15-200C), Biên độ nhiệt.
+ Lượng mưa: Nhu cầu nước của cỏ trồng gấp 6 lần cây lúa, 8 vùng sinh thái nông
nghiệp.
+Dinh dưỡng đất: Độ phì của đất (đất tốt- trồng cây lương thực, hoa màu, cây công
nghiệp; đất xấu, dốc, bạc màu- trồng cỏ)
+ Độ sâu của tầng đất canh tác
+ pH của đất, độ mặn của đất
* Các yếu tố ảnh hƣởng đến tái sinh trƣởng
- Tuổi thiết lập: thời gian từ khi gieo đến khi thu hoạch lứa đầu
- Tuổi thu hoạch: thời gian giữa các lần thu hoạch
- Độ cao thu hoạch: khoảng cách từ mặt đất đến điểm thu cắt
1.3 PHÂN LOẠI CỎ THEO HƢỚNG SỬ DỤNG
* Sự khác nhau giữa chăn thả và thu cắt
+ Chăn thả hay thu cắt là 2 hình thức khác nhau. Hai trường hợp này chịu ảnh
hưởng riêng biệt.
- Khi chăn thả cỏ bị gặm không đồng đều nhiều khi sát đất. Ngược lại khi cắt cỏ bị
cắt ở mặt phẳng song song với mặt đất nên thảm cỏ đều hơn.
- Gia súc gặm cỏ có sự chọn lọc những loại cỏ mà chúng yêu thích dù ở độ cao nào
chúng cũng gặm vì vậy những lại cỏ này bị ăn liên tục không đủ thời gian tái sinh. Những
4


cỏ xấu gia súc khơng ưa nên có chiều hướng lan và xâm lấn các loài cỏ bị gặm. Khi cắt
tất cả các loại cỏ trên độ cao thu hoạch đều bị cắt chỉ những lồi q thấp mới cịn lại.
- Do có sự chọn lọc khi gặm cỏ nên những loại cỏ và những phần cây cỏ mà gia súc
ăn có thành phần có giá trị dinh dưỡng cao hơn so với khi cắt.
- Khi chăn thả gia súc giẫm đạp lên cỏ và đất và bài tiết ra đồng cỏ. Lượng phân và
nước tiểu của gia súc thải ra trên đồng cỏ có giá trị làm phân bón cho cây cỏ. Khi thu
hoạch bằng máy, lượng phân trả lại đồng cỏ ít hơn và khơng có sự giẫm đạp liên tục từ sự

nén của máy hay người thu hoạch.
* Những nhân tố quyết định hƣớng sử dụng
+ Khả năng tái sinh
- Các tế bào sinh trưởng tập trung phần lớn ở các gốc, lá nơi khi thu hoạch ít bị ảnh
hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu lạnh và chịu hạn cao.
- Có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.
- Có hệ thống rễ phát triển để chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy dinh dưỡng từ
đất.
+ Độ ngon miệng
- Khái niệm về độ ngon miệng của cỏ trồng khá trừu tượng. Theo Ivins (1952) thì
đây là tổng hợp của nhiều nhân tố khác nhau quyết định gia súc có thích ăn loại cỏ này
hay khơng. Có thể nói độ ngon miệng là sợi dây vơ hình kết nối giữa gia súc và cỏ
(Voisin, 1963). Nói chung cỏ chăn thả và thu cắt đều phải có độ ngon miệng cao, đặc biệt
là cỏ thu cắt.
+ Giá trị dinh dƣỡng
- Cỏ chăn thả và thu cắt đều phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu gia
súc về các mặt. Những loại cỏ dùng để cắt dự trữ và đặc biệt làm bột khơ hay dạng viên
phải là cỏ có giá trị dinh dưỡng đặc biệt cao để giảm giá thành sản phẩm.
+ Khả năng sinh trƣởng chung
- Khả năng sinh trưởng chung thể hiện ở hai mặt là khả năng cạnh tranh điều kiện
sinh tồn và khả năng chịu trồng kết hợp. Cỏ chăn thả phải có điều kiện cạnh tranh với cỏ
dại cao. Khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sức sống, khả năng sinh sản
bằng phương pháp vơ tính, khả năng sinh sản bằng hạt. Cỏ chọn phải có khả năng sinh
5


trưởng nhanh nhất là giai đoạn đầu để lấn cỏ dại và tăng số lần thu hoạch. Khả năng tái
sinh phụ thuộc vào lượng dinh dưỡng dự trữ và khả năng chịu đựng sự giẫm đạp.
+ Khả năng chịu đựng sự thu hoạch

- Cỏ để chăn thả phải có khả năng chịu đựng sự giẫm đạp liên tục của gia súc. Khả
năng chịu đựng này phụ thuộc vào tập quán sinh trưởng và cấu trúc của thân. Cỏ thấp tạo
thành thảm thích hợp cho việc chăn thả, cỏ cao tạo thành khóm thích hợp cho việc thu cắt.
Cỏ có khả năng sinh sản vơ tính càng tốt cho sự giẫm đạp của gia súc.
+ Năng suất
- Năng suất là chỉ tiêu yêu cầu đối với việc chọn lựa cây cỏ. Muốn có năng suất cao
phải có thời gian tái sinh trưởng nhanh và thời gian phát dục chậm.

6


Bài 2: CÁC HỌ CÂY CỎ LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC
2.1 PHÂN LOẠI THỰC VẬT CÂY CỎ LÀM THỨC ĂN GIA SÚC
Việc phân loại thức ăn giúp cho người chăn ni biết chọn và định hướng sử dụng thích
hợp từng loại thức ăn cho từng đối tượng gia súc để mang lại hiệu quả kinh tế cao. Có nhiều
phương pháp phân loại thức ăn khác nhau, căn cứ vào nguồn gốc, đặc tính dinh dưỡng, tính chất
thức ăn..
a. Phân loại theo nguồn gốc
+ Thức ăn có nguồn gốc từ thực vật: Trong nhóm này gồm các thức ăn xanh, thức ăn rễ,
củ, quả, thức ăn hạt các sản phẩm phụ của ngành chế biến nông sản: thức ăn xơ, rơm rạ, dây lang,
thân lá đậu (lạc), thân cây ngô các loại cám, khô dầu (do các ngành chế biến dầu) bã bia, rượu,
sản phẩm phụ. Nhìn chung, loại thức ăn này là nguồn năng lượng chủ yếu cho người và gia súc,
ngồi ra nó cịn cung cấp vitamin, protein thơ, các loại vi khống, kháng sinh, hợp chất sinh học.
Thức ăn thô xanh ở nước ta rất đa dạng và phong phú, bao gồm thân lá của một số cây, cỏ
trồng hoặc mọc tự nhiên trên cạn hoặc dưới nước và là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho
gia súc ở nước ta, nhất là các nông hộ. Loại thức ăn này chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà vật
ni cần như protein, các vitamin, khống đa lượng và vi lượng thiết yếu và các chất có hoạt tính
sinh học cao... Thức ăn xanh là loại thức ăn mà người và gia súc đều sử dụng ở trạng thái tươi,
chiếm tỷ lệ cao trong khẩu phần của lồi nhai lại. Thức ăn xanh có thể chia thành 2 nhóm chính
gồm: cây cỏ tự nhiên và gieo trồng. Nhóm cây hịa thảo như cỏ ở bãi chăn, cỏ trồng, thân lá cây

ngơ... Nhóm cây họ đậu như cỏ stylô, cây điền thanh, cây keo dậu... Các loại thức ăn xanh khác
như rau lấp, bèo cái, bèo Nhật Bản, thân chuối, rau muống....
Thức ăn nhiều xơ: Gồm các loại thức ăn mà hàm lượng xơ thô 18% trở lên. Loại thức ăn
này là sản phẩm chế biến ngành trồng trọt, như rơm rạ, dây lang, dây lạc.. những loại thức ăn này
ít có ý nghĩa với gia súc dạ dày đơn nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong khẩu phần gia súc nhai lại.
b. Đặc điểm dinh dƣỡng
Thức ăn xanh chứa nhiều nước, nhiều chất xơ, tỷ lệnước trung bình 80 - 90%, tỷ lệ xơ thơ
trung bình ở giai đoạn non là 2-3%, trưởng thành 6 - 8% so với thức ăn tươi. Thức ăn xanh chứa
nhiều nước và nhiều xơ nên vật nuôi cần lượng lớn mới thỏa mãn nhu cầu nhưng do hạn chế
dung tích đường tiêu hóa nên con vật khơng ăn được nhiều. Thức ăn xanh dễ tiêu hóa, có tính
ngon miệng cao, tỷ lệ tiêu hóa đối với lồi nhai lại là 75 - 80%, đối với lợn 60 - 70%, là loại thức
ăn dễ trồng và cho năng suất cao.
Ví dụ: 1 ha rau muống cho 50 - 70 tấn, 1 ha bèo dâu cho 350 tấn, 1 ha cỏvoi cho 150-300
tấn chất xanh...

7


Thức ăn xanh giàu vitamin: nhiều nhất là caroten, vitamin B đặc biệt là vitamin B2, và
vitamin E có hàm lượng thấp. Cỏ mục túc khơ có 0,15mg B1và 0,45mg B2/100g; cỏ tươi có
0,25mg B1và 0,4mg B2/100g vật chất khơ. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn xanh
rất thấp và vì vậy giá trị dinh dưỡng thấp, trừ một số loại thân lá cây bộ đậu có hàm lượng protein
khá cao, một số loại cỏ giàu axit amin như arginine, axit glutamic và lysine. Nếu tính theo trạng
thái khơ một sốloại thức ăn xanh có hàm lượng protein cao hơn cả cám gạo.
Ví dụ:Thân lá họ đậu: 2-25%; lá bắp cải, su hào: 10-15%; lá sắn: 25-30%; lá keo dậu: 2025%; cỏ stylô: 20-25% và lá khoai lang 20-30% protein thơ tính theo chất khơ.
Bảng : Hàm lượng một số chất dinh dưỡng trong thức ăn xanh so với cám (% thức ăn nguyên
dạng)

Hàm lượng lipit có trong thức ăn xanh dưới 4% tính theo vật chất khơ, chủ yếu là các axit
béo chưa no. Khoáng trong thức ăn xanh thay đổi tùy theo loại thức ăn, tính chất đất đai, chế độ

bón phân và thời gian thu hoạch. Nói chung, thân lá họ đậu có hàm lượng canxi, magiê và coban
cao hơn các loại họ hòa thảo.
c. Các yếu tố ảnh hƣởng đến giá trị dinh dƣỡng của thức ăn xanh
Giống cây trồng: sự khác nhau về giá trị dinh dưỡng giữa các giống và nhóm cây thức ăn
xanh được thể hiện rõ . Nhóm cây trên cạn có hàm lượng vật chất khơ (10-30%) lớn hơn nhóm
cây thuỷ sinh (1-10%), trong khi đó họ hồ thảo (2-10% protein thơ so với vật chất khơ) có hàm
lượng protein thô thấp hơn bộ đậu (10-30%).

d. Những điểm cần chú ý khi sử dụng
Cần thu hoạch đúng thời vụ để đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao. Nếu thu hoạch sớm ít xơ,
nhiều nước, hàm lượng vật chất khơ thấp. Ngược lại nếu thu hoạch quá muộn hàm lượng nước
giảm, vật chất khô tăng nhưng chủyếu tăng chất xơ, cịn lipit và protein giảm. Thời gian thích
hợp để thu hoạch các loại rau xanh nói chung là sau khi trồng 1 - 1,5 tháng, thân lá cây bắp trước
khi trổ cờ, thân lá họ đậu: thời gian ngậm nụ trước khi ra hoa. Rau muống sau khi trồng 20 - 25
ngày thu hoạch lứa 1 sau 15 ngày thu hoạch lứa tiếp theo.
2.2 CÁC HỌ CÂY CỎ LÀM THỨC ĂN GIA SÚC
a. Cỏ hòa thảo

8


Họ Hòa thảo hay họ Lúa hoặc họ Cỏ là một họ thực vật một lá mầm (lớp Liliopsida), tên
khoa học là Poaceae, Gramineae. Trong họ này có khoảng 668 chi và khoảng 10.035 lồi cỏ.
Người ta ước tính rằng các đồng cỏ chiếm khoảng 20% toàn bộ thảm thực vật trên Trái Đất. Họ
này là họ thực vật quan trọng nhất đối với toàn bộ nền kinh tế của loài người, bao gồm cả các bãi
cỏ và cỏ cho gia súc cũng như là nguồn lương thực chủ yếu (ngũ cốc) cho toàn thế giới, hay các
loại tre, trúc được sử dụng rộng rãi ở châu Á trong xây dựng. Các lồi thuộc họ Hịa thảo có các
đặc điểm sau:
- Cây thân cỏ, sống lâu năm, ít khi 1 hay 2 năm, một số có dạng thân gỗ thứ sinh (tre, nứa
v.v). thân khí sinh chia gióng (cọng) và mấu (đốt): gióng thường rỗng (trừ một số lồi như nứa,

kê, ngơ có thân đặc), khơng phân nhánh (trừ tre) mà chỉ phân nhánh từ thân rễ hoặc từ gốc.
- Lá mọc cách (so le), xếp hai dãy theo thân (trên cùng một mặt phẳng), ít khi có dạng xoắn
ốc, gân lá song song. Bẹ lá to, dài, hai mép của bẹ khơng dính liền nhau. Lá khơng có cuống (trừ
tre), phiến lá hình dải hẹp. Giữa bẹ và phiến lá có lưỡi bẹ nhỏ hình bản mỏng hay hình dãy lông
mi. nguồn gốc của lưỡi không rõ ràng, một số tác giả cho là do hai lá kèm dính nhau biến đổi
thành. Vai trị sinh học của nó là cản bớt nước chảy vào thân non ở đốt. Gốc bẹ lá hơi phồng lên,
mép ôm chặt lấy thân và che chở cho mơ phân sinh đốt, nhờ đó mà mơ này duy trì hoạt động
được khá lâu.
- Hoa nhỏ, thụ phấn nhờ gió, tập trung thành cụm hoa, cơ sở là bông (raceme) nhỏ. Các
bông nhỏ này lại hợp thành những cụm hoa phức tạp hơn như bông kép, chùm, chùy nhưng
khơng có các cánh hoa.
- Mỗi bơng nhỏ mang từ 1 - 10 hoa. Ở gốc bông nhỏ thường có 2 mày (lá bắc) bơng xếp đối
nhau: cịn ở gốc mỗi hoa có 2 mày hoa, mày hoa dưới ôm lấy mày hoa trên, nhỏ và mềm hơn,
mày hoa dưới chỉ có 1 gân ở chính giữa, cịn mày hoa trên có 2 gân bên. Ở nhiều lồi, mày hoa
dưới kéo dài ra thành chỉ ngón. Phía trong 2 mày hoa còn 2 mày cực nhỏ rất bé và mềm. Như
vậy, thơng thường mỗi hoa có 4 mày, nhưng trong thực tế số lượng này có khi khơng đầy đủ. Nhị
thường là 3 (đôi khi 6), chỉ nhị dài bao phấn đính lưng, hai bao phấn khi chín thường xịe ra
thành hình chữ X. Bầu trên có 1 ơ, 1 nỗn, 2 vịi nhụy ngắn và 2 đầu nhụy dài mang chùm lơng
qt, thường màu nâu hoặc tím.
- Quả là loại quả thóc (caryopsis).

b. Cây họ đậu: Gồm 3 họ : họ trinh nữ, họ vang, họ đậu
Họ Đậu ( Fabaceae, Leguminosae, Fabaceae sensu lato) là một họ thực vật trong bộ
Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và
19.400 loài. Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân
họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự.

9



Ước tính các lồi trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới
Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu
Mỹ và châu Phi.
Một số cây làm thức ăn: anh đào giả, keo dậu, keo củi, Stylo, đậu sơn tây/đậu công, cây
đậu dại, cây đậu tương, cây đậu.
Cây đậu dùng phổ biến trong chăn ni ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm: Nhóm cây
họ đậu thân gỗ lâu năm, nhóm cây họ đậu thân bụi, nhóm câyhọ đậu thân bị
* Đặc điểm chung của cây đậu thức ăn chăn nuôi
- Hạn chế trong phát triển cây họ đậu làm thức ăn chăn ni
- Khó khăn trong giai đoạn thiết lập thảm cỏ
- Vi khuẩn Rhizobium chưa hoạt động
- Sinh trưởng chậm,dễ bị cỏ dại lấn át, 3-6 tháng mới cho thu cắt
- Đỉnh sinh trưởng nằm ở nách lá, độ cao thu cắt cao hơn sovới hòa thảo, lứa sau phải cắt
cao hơn sovới lứa trước, độ cao thu cắt khác nhau giữa các giống
- Chất kháng dinh dưỡng trong câyhọ đậu
-Dễ bị sâubệnh
-Năng suất không cao
2.3 VẤN ĐỀ CÂY CỎ ĐỘC TRÊN ĐỒNG CỎ
* Các trạng thái ngộ độc
- Ngộ độc cấp tính là trạng thái ngộ độc sau khi nhiễm chất độc một thời gian ngắn, xuất
hiện những triệu chứng khác thường rất nghiêm trọng hoặc gây ra tử vong cho
người và động vật.
- Ngộ độc tích lũy (cịn gọi là ngộ độc trường diễn, ngộ độc mãn tính) là trạng thái mà cơ
thể nhiễm chất độc với liều lượng thấp, chưa gây ra triệu chứng liền mà phải trải qua một thời
gian dài chất độc tích lũy trong cơ thể, làm biến đổi các quá trình sinh lý, sinh hóa lâu dài rồi mới
gây ra triệu chứng.
- Đã từ lâu người ta biềt đến cây cỏ độc trên đồng cỏ. Các cây độc cho gia súc rất nhiều
đặc biệt là cây thuộc bộ đậu. Theo Whyte và ctv. (1967) cây độc tuỳ theo các đối tượng sau:
+ Cây độc cho người và cả gia súc: phytolacca
+ Cây chỉ độc cho bò: Dicentra.

+ Cây độc tuỳ theo trạng thái sinh trưởng: ở Sorghum, Lupinus và một số Panicum chỉ độc
khi còn non nhất là các mầm tái sinh.

10


* Các chất độc hại trong thức ăn thực vật
a. Các hợp chất glucoside trong thức ăn Xyanglucosit (HCN)
Bản chất hố học là một hợp chất hữu cơcó cấu trúc gồm 2 phần: một phần từ đường
(glucose) và một phần không phải là đường: axeton hoặc HCN. HCN được tạo thành do quá trình
thuỷ phân linamarin và linustalin do hai enzyme tương ứng: linamarinase và linustalinase. Trong
đó, linamarin chiếm phần lớn (95%) cịn rất ít linustalin (5%). Trong sắn tươi, các chất này tồn
tại ở tất cảcác bộ phận lá và củ, nhưng nhiều nhất ở lớp vỏ dày thứhai (lớp vỏ màu hồng), lõi và
hai đầu của củ sắn. Glucosit phổ biến trong các loại thực vật nhất là cây cỏ gần với hoang dại.
Khi chăn thả trên đồng cỏ, nếu gia súc ăn phải những thực vật có nhiều glucosit sẽ xuất hiện dấu
hiệu ngộ độc. Tùy theo gốc hóa học gây độc hại, người ta chia glucosit thành các nhóm sau đây:
Xyanglucosit tồn tại nhiều trong cây sắn, hạt lanh và đậu Java.

Gia súc ăn nhiều: liều độc tối thiểu 2,3 mg/kg thể trọng. Gốc CN khi vào cơ thể sẽ liên kết
liên kết chặt chẽ với hemoglobin, ức chế quá trình vận chuyển oxy làm cho cơ thểthiếu oxy ngạt
thở, các niêm mạc da tím bầm chết rất nhanh. Việc bắt
Đề phịng một số chất có sẵn trong thức ăn: lá sắn, cây cao lương, cỏ Xu đăng.. có độc tố
HCN. Hàm lượng HCN thường cao ởgiai đoạn còn non và giảm dần ởgiai đoạn trưởng thành. Vì
vậy, sử dụng các loại thức ăn này ở giai đoạn chín sáp hoặc nấu chín là tốt nhất.
b. Alkaloide (C5H10NC3H7).
Alkaloide là những hợp chất hữu cơ có chứa Nitơvà có tính kiềm nhẹ, đa số có nguồn gốc
từ thảo mộc, chỉ với một liều thật nhỏ cũng tạo ra tác dụng sinh học rất mạnh trên cơ thể. Chất
alkaloide đơn giản được tổng hợp sớm nhất vào năm 1886 là chất
Ví dụ: chất nicotine trong cây thuốc lá được sử dụng để làm thuốc trừ sâu, cafein trong hạt
càfê, Cocaine trong cây coca để làm hưng phấn thần kinh, morphine trong nhựa cây á phiện được

sử dụng để làm thuốc giảm đau, reserpine trong cây dừa cạn cũng đểl àm thuốc giảm đau, atropin
được tìm thấy trong cây belladonna (cây cà dược) để làm thuốc giản đồng tử (theo tài liệu
Encarta, McRosoft, 1997).
Những alkaloide được biết rõ nhất là trong cây khoai tây và trong cỏ lupin. Phần củ khoai
tây trồi lên trên mặt đất có vỏ xanh và phần củ khoai tây có chứa chất solanin. Khi thủy phân nó
giải phóng ra đường, vì vậy người ta gọi nó đúng nghĩa hố học là các glucoside cũng được.

11


Song, khái niệm alkaloide là gọi trên nhóm cây độc mạnh trong vỏ xanh của củ khoai tây, đó là
chất solanin.
c. Chất mimosine
Do mimosine có cấu trúc hố học giống như thyrosine, vì vậy nó ức chế trao đổi thyrosine
trong cơ thể, không cho tạo thành Iodthyrosine (chất ban đầu để tuyến giáp tổng hợp ra
thyrosine). Vì vậy, gia súc ăn nhiều cây keo dậu (Leucena) sẽ gây ra bướu cổ. Liều gây độc với
bò: 0,18; cừu: 0,14; dê: 0,18; thỏ: 0,23; gà đẻ: 0,21 và gà thịt: 0,16 g/kg thể trọng.
Ở gia súc nhai lại, khi ăn nhiều lá cây keo dậu (với tỷlệ>30% lá keo dậu trong khẩu phần)
gây ức chế sinh trưởng, bướu cổ, hàm lượng thyrosine trong máu giảm. Tuy nhiên, hoạt động của
vi sinh vật dạ cỏlàm giảm đáng kể hàm lượng mimosine bằng cách hình thành các chất khơng
độc hoặc thải ra ngồi cơ thể. Ở gà, nếu cho ăn từ 8-10% lá keo dậu thì xuất hiện rụng lơng,
tuyến giáp phát triển mạnh.
d. Chất Saponin
Cỏ Medicago (Medicago sativa; Luzec), cây bộ đậu, điền thanh có chất saponin
Nếu cho con vật ăn nhiều sẽ mắc chứng chướng bụng đầy hơi, nên dùng với số lượng vừa
phải và trộn với các loại thức ăn khác. Một số loại cây thuộc họ thập tự như cải bắp, cải ba lá
trắng chứa kích tố thực vật fito-oestrogen, nếu con vật ăn vừa phải sẽ có tác dụng tốt cho sinh sản
như: kich thích tăng trọng, bầu vú phát triển, sữa nhiều. Nếu ăn nhiều dễ sẩy thai hay sa tử cung
sau khi đẻ. Ngoài ra, trong thức ăn xanh thường chứa NO3 dưới dạng KNO3 khoảng 1 - 1,5%.
Nếu hàm lượng NO3 quá cao sẽ làm cho con vật ngộ độc và chết. Triệu chứng ngộ độc là con vật

thở gấp, run rẩy, sùi bọt mép, khó thở, máu có màu thẩm, hàm lượng NO2 trong nước tiểu tăng.
e. Các chất steroide
Trong số các steroide độc hại được người ta chú trọng nhiều nhất là oestrogen thực vật
(Fitooestrogen). Loại hợp chất này có chứa trong một số loại thực vật.
Triệu chứng ngộ độc: khi gia súc ăn phải thức ăn có chứa chất này có thể gây ra triệu
chứng động dục giả gây sảy thai hàng loạt . Tuy nhiên nếu ăn mức vùa phải sẽ có tác dụng tốt với
gia súc tiết sữa, kích thích bầu vú phát triển, tăng tiết sữa
Chất fitooestrogen được người ta chú ý đầu tiên là ở châu Úc, nơi đây khi chăn thảbò trên
đồng cỏ, ăn một loại cỏ 3 lá (Trifolium subterraneum) làm cho đàn cừu động dục hàng loạt.
Người ta tìm hiểu trong loại cỏ này có chứa nhiều chất giống với oestrogen. Sau đó người ta cịn
tìm thấy ở nhiều loại cỏ họ đậu khác cũng có chứa fitooestrogen như: các cỏ alfalfa (Medicago
sativa, một số loại cỏ hồ thảo và cả cây bắp cũng có chứa chất fioestrogen với số lượng đáng kể.
Khi phơi hoặc sấy khơ thì các chất này bị
phân huỷ, nhưng nếu ủ chua thì nó cịn lưu lại trong thức ăn khá nhiều.

12


Ngồi thực vật ra, ngày nay người ta cịn thấy loại nấm fuzarium thường phát triển trên hạt bắp
khi thu hoạch bị chậm trễ, nó cũng sản xuất ra một loại độc tố có tên là F2-toxin (Zearalenone)
cũng có tác dụng giống như oestrogen thực vật và sẩy thai ở heo, nó cũng có hại đến việc sản
xuất tinh trùng , làm giảm tỷ lệ thụ tinh ở gà.
f. Chất axit fluoroacetic
Đây cũng là hợp chất thứ cấp, đặc biệt nó có nhiều trong cây: Acasia, Oxylobiumvà
Gastrolobium (đều là cây họ đậu). Chúng gây tổn thất lớn cho gia súc ở một sốvùng của châu Úc
(Everist, 1974) và một sốvùng ở Nam Châu Phi (Vickery,1973). Theo tài liệu của D.j Hamphreys
(1988) thì có 2 dẫn suất rất độc, đó là Fluoroacetate (compound 1080) và Fluoroacetamide
(compound 1081), cả hai đều tan trong nước khơng vị và độc tính rất cao với loài gậm nhấm và
cả cho người lẫn động vật khác.
Sự ngộ độc và liều gây độc: Fluoroacetate có độc tính cao cho tất cả mọi loài động vật ,

nhưng loài động vật có vú bậc cao kém nhạy cảm hơn loài gậm nhấm. Liều độc gây chết qua
đường miệng (mg/kg thểtrọng): bò 0.15-0.62; cừu 0.25-0.50; dê 0.30-0.70; ngựa 0.50-1.75; heo
0.30-0.40; gia cầm 10-20; chó 0.096-0.20; mèo 0.30-0.50. Robison (1970) thơng báo liều LD50
của sodium monoflluoracetate trên bò Hereford là 0.393 và 0.221 mg/kg

13


Bài 3: MỘT SỐ CÂY CỎ THƢỜNG DÙNG CHĂN NUÔI
3.1 MỘT SỐ CÂY CỎ HOÀ THẢO
3.1.1 Cỏ voi (Penniseyum purpureum sp.): P.P. Kingrass, P.P. Selection, P.P. Malagasca Ngoài
ra gọi theo một số tên khác như cỏ Napier, Gigante (Costa Rica) hay Mfufu (Châu Phi).
a. Nguồn gốc
Nguồn gốc ở Nam Phi, phân bố rộng ở các nước nhiệt đới trên thế giới. Quê hương lâu
đời của cỏ voi là vùng Uganda (100 vĩ Bắc – 200 vĩ Nam) nhập vào Mỹ từ năm 1913,
Australia 1914, Cuba 1917, Brasil 1920... Ở Vi ệt Nam, cỏ voi được coi là cỏ Huế vì lần
đầu tiên lấy giống ở đây đưa ra Bắc (1908).
* Đặc điểm cây cỏ
Cỏ voi có thân cao từ 2-4m, thân có lóng đốt như thân cây mía nhưng đường kính nhỏ hơn
(1-2cm). Nhiều lá và cịn giữ được lá xanh khi cây đã cao.
- Thích hợp cho việc thu cắt cho ăn tươi hay ủ ướp.
- Sinh trưởng nhanh. Nếu đủ phân bón và nước tưới vào mùa khơ thì cắt quanh năm và năng
suất rất cao có thể đạt trên 400 tấn/ha/năm.
- Phát triển rất mạnh ở những vùng đất tốt và đủ ẩm. Chịu được phân bón nhiều.
- Khơng thích hợp với chân ruộng chua, phèn, mặn và đất nghèo dinh dưỡng.
- Không chịu được ngập úng, không chịu được hạn nặng và mùa khô kéo dài.
- Khơng chiụ được bóng râm.
- Trồng một lần khai thác được nhiều năm (tới 5 năm).
- Chất lượng cỏ khá tốt, bị thích ăn vì có hàm lượng đường cao, vị ngọt. Tuy nhiên nếu
khơng thu cắt kịp thì thân hóa gỗ cứng, giảm độ ngon miệng và tỷ lệ lợi dụng thấp.

- Điểm bất lợi nữa của cỏ voi là không sử dụng máy cắt cỏ thông thường để thu cắt mà phải
chặt bằng tay như chặt mía. Khi cho ăn phải băm chặt ngắn.
c. Gieo trồng và chăm sóc
Trồng cỏ voi bằng hom trong mùa mưa, nhưng tốt nhất là đầu mùa mưa.
Chuẩn bị đất: Cày đất ở độ sâu 20-25 cm,bừa và cày đảo (lần 2) làm tơi đất, vơ cỏ
dại và san phẳng mặt đất trồng. Rạch hàng sâu 15-20 cm theo hướng Đông – Tây; khoảng
cách hàng là 50 -60 cm.

14


Phân bón: Đầu tư cho 1 ha cỏ trồng gồm phân hữu cơ hoai mục: 15 - 20 tấn; supe lân :
250- 300 kg; sulfat kali : 150-200 kg; urê: 400- 500kg. Các loại phân hữu cơ, lân, kali
dùng bón lót tồn bộ theo lịng rãnh hàng; phân đạm bón chia đều cho các lần thu hoạch trong
năm và bón thúc.
Giống: Sử dụng loại thân giống có độ tuổi 80-100 ngày và được chặt vát thành hom
có độ dài 50-60 cm.Mỗi hom có 3-5 mắt mầm. Tốt nhất lấy phần thân bánh tẻ. Sử dụng 6-7
tấn giống/ha (giống đã chặt thành hom).
Cách trồng: Đất sau khi rạch hàng và bón phân đầy đủ theo quy định, đặt hom theo
lòng rãnh, đặt hom này gối lên nửa hom kia nối tiếp nhau,lấp kín hom bằng một lớp đất 3-5cm
và đảm bảo mặt đất bằng phẳng sau khi lấp hom giống.
Chăm sóc: Sau khi trồng 10-15 ngày , tiến hành kiểm tra tỷ lệ nảy mầm (mầm nhô lên
mặt đất). Trồng dặm những chỗ bị chết và làm cỏ phá váng (tránh không làm động thân
giống đã trồng). Dùng cuốc làm cỏ dại 2-3 lần trước khi cỏ lên cao phủ kín đất trồng. Dùng
100 kg urê/ha bón thúc khi cỏ ở giai đoạn 25-30 ngày tuổi. Sau mỗi lần thu hoạch, làm
cỏ dại một lần và bón thúc phân đạm khi cỏ tái sinh lá mới (sau khi thu hoạch 15 ngày).
d. Năng suất
Thu hoạch lần đầu khi cỏ đạt 70-80 ngày tuổi (cây có thân cứng – khơng thu cắt non
lứa đầu). Các lứa tái sinh thu hoạch khi thảm cỏ độ cao 80-120 cm (khoảng sau 30 ngày
vào mùa mưa, 35-40 ngày mùa khô). Trong mùa khô, độ cao cắt gốc để lại khoảng 5cm, mùa

mưa thì dài hơn. Có thể cắt cỏ bằng máy, liềm hoặc dao. Khi thu hoạch chú ý cắt toàn bộ

15


không để lại cây mầm, tạo thảm cỏ tái sinh đều. Cỏ voi cho năng suất chất xanh rất cao, từ
100-300 tấn/ha/năm và có thể lên 500 tấn/ha/năm.
e. Sử dụng
Cỏ voi dùng thu cắt làm thức ăn gia súc dưới hình thức tươi hay ủ chua. Cắt lần đầu
sát mặt đất cho cây sinh trưởng và đẻ nhánh nhiều không trồi lên trên. Trên thực tế, cỏ
voi chỉ sử dụng 3-4 năm và phải trồng lại.Tuy nhiên, nếu quản lý tốt có thể cho năng suất
cao trong 10 năm liền. Có thể trồng xen với các cây họ đậu (Kudzu, Centro, Desmodium).
Cỏ voi có thể ủ chua để dự trữ cho gia súc vào mùa thiếu thức ăn.
3.1.2 Cỏ sả
Cỏ sả là giống cỏ thảo, thân bụi như bụi sả. Có 2 giống cỏ sả: cỏ sả lá lớn và cỏ sả lá nhỏ. Cỏ
sả lá lớn năng suất cao, trồng để thu cắt, cho ăn tươi hoặc ủ ướp chung với cỏ voi. Cỏ sả lá nhỏ
năng suất thấp hơn, chịu hạn chịu dẫm đạp dùng để chăn thả thích hợp hơn.
Cỏ sả sinh trưởng mạnh, năng suất cao, chịu hạn khá, chịu nóng, chịu bóng cây kiên cố và dễ
trồng phù hợp với chân ruộng cao, đất pha cát giàu dinh dưỡng từ trung tính đến độ pH nhẹ. Cỏ
sả không chịu ngập úng cũng như mùa khô kéo dài. Có thể nhân giống bằng hạt hoặc bụi.
Điều kiện đất đai, khí hậu: Cỏ sả có thể trồng ở nhiều vùng đất khác nhau ở An Giang, chịu
được khí hậu hạn hán và khơ, nhờ hệ thống rể mọc sâu và rộng.
Làm đất: Cỏ sả thích hợp với loại đất cát, tránh ngập nước, đất cày sâu từ 15- 20 cm. Làm
sạch cỏ dại, lên liếp có rãnh thoát nước.
Cách trồng:
Bằng tép hoặc bằng hạt. Trồng bằng tép, ưu điểm hơn trồng bằng hạt, cỏ sẽ nứt chồi mọc
mau, lấn át được cỏ dại, nhưng tốn nhiều công. Tách gốc và cắt bớt lá rồi đem trồng ngay. Lượng
giống cần khoảng 2- 2,5 tấn/ha. Hàng cách hàng từ 40- 6 cm. Bụi cách bụi 30 cm. Trồng sâu
15cm. Lấp đất dày 10 cm, để hở phần ngọn và dẫm chặt.
Trồng bằng hạt: Số hạt cần cho 1ha từ 10 - 15kg.

Bón phân: Cách bón phân tương tự như ở cỏ voi, tùy theo đất tốt hay xấu mà tăng giảm
lượng phân cho thích hợp.
Chăm sóc: Sau 1- 2 lứa thu hoạch, bón thêm phân Urê và phân Kali. Tưới nưới, đặc biệt vào
mùa nắng, để giúp cỏ nhanh chóng mọc chồi trở lại.
Thu hoạch:
- Trồng bằng tép, sau 2 tháng có thể thu hoạch lần đầu. Nếu trồng bằng hạt, 2,5- 3 tháng.
- Một năm cắt từ 8- 10 lần và chu kỳ cắt trung bình 1 - 1,5 tháng.
- Năng suất 1 lần cắt trung bình 10- 15 tấn/ha. Một năm 80- 150 tấn/ha.

16


3.1.3 Cỏ Pangola
a. Nguồn gốc
Cỏ Pangola xuất hiện ở bờ sông Pangola thuộc Nam Phi, nhập vào Mỹ 1935, Cuba
1950, Peru 1952, Australia 1954 và các nơi khác thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Cỏ Pangola đầu tiên nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc (8/1967), sau này (tháng
10/1968) nhập từ Cuba và nhiều con đường khác qua các dự án nghiên cứu.
b. Đặc điểm sinh vật
Cỏ Pangola là lồi cỏ hồ thảo lâu năm, cây thấp, có hướng đổ rạp, thân cành nhỏ
(0,2-0,3 cm) và bò đan vào nhau tạo thành thảm. Ở các đốt thân, nhất là các thân bị có
vịng lơng màu trắng xanh hay phớt tím, lá cỏ xanh mượt và mềm, dài khoảng 6-7cm và
rộng 0,6 cm. Mỗi nhánh có khoảng 10-12 lá. Lá có lưỡi thìa chứ khơng có lơng như các lồi
thuộc Cynodon (cỏ gà). Tỷ lệ thân và lá tùy thuộc vào tuổi thu hoạch. Nhìn chung, tỷ lệ lá
giảm dần theo tuổi. Tỷ lệ thân và lá lúc thu hoạch khoảng 60-70% và 30-40%.
Cỏ Pangola có biên độ sinh thái rộng. Nhiệt độ lạnh (5- 60 C) và nóng 420C không bị
tổn thất. Nhiệt độ dưới 220 C phát triển chậm và dưới 120 C có thể ngừng phát triển. Cỏ
Pangola thích hợp với những vùng có lượng mưa khoảng 1000mm/năm. Nó có thể chịu ẩm và
đất ngập nước tạm thời, mẫn cảmvới sương muối. Phát triển tốt trên nhiều loại đất, từ đất cát
nghèo dinh dưỡng đến đất sét nặng.

c. Cách trồng và chăm sóc
Thời vụ gieo trồng: Đầu mùa mưa là thích hợp.
Chuẩn bị đất: Đấttrồngcỏ Pangola cần được làm kỹ, cày bừa 2-3 lần đảm bảo đất nhỏ,
tơixốp, sạch cỏ dại, mặt đất trồng bằng phẳng và rạch hàng trồng với khoảng cách hàng 5060cm.
Phân bón cho 1 ha cỏ trồng: Phân hữu cơhoai mục: 10tấn , Supe lân : 150 - 200 kg
, Sulfat kali: 100-150 kg , Phân đạm urê: 250-300 kg , Phânhữucơ, lân, kali dùng bón lót theo
hàng rạch trước khi trồng cỏ. Phân đạm dùng để bón sau khi gieo trồng và thu hoạch (tập trung
vào mùa mưa trong năm).
Giống: Trồng bằng thân, cỏ giống có độ tuổi 75-90 ngày được cắt thành hom có độ dài
35-40 cm(xén bỏ phần lá ngọn). Dùng 1,2 -1,5 tấn giống/ha. Cách trồng: Đất sau khi đã rạch
hàng và bón phân theo quy định cỏgiống được đặt thành khóm áp về mặt phía thành của hàng
rạch tạo góc xiên 35-400. Đặt khóm cách khóm 15-20cm (phía gốc ở dưới và phía ngọn ở
trên). Trong mỗi khóm có 4-6 hom giống.
Chăm sóc: Kiểm tra nảy mầm và trồng dặm sau 10-15 ngày . Sau khi trồng 2-3 tuần
tiến hành diệt cỏ dại, xới phá váng. Cần chăm sóc làm cỏdại 2 lần trước khi cỏ Pangola

17


phát triển che phủ đất trồng. Dùng phân đạm bón thúc khi ruộng cỏ có màu xanh và tái sinh
ra lá mới.
d. Năng suất
Năng suất chất xanh của cỏ đạt 60-80 tấn/ha/năm. Năng suất cỏ tùy thuộc vào chế độ
phân bón, hệ thống canh tác, mùa vụ....Sau 2 tháng trồng, cỏ cao 47,8 cm, năng suất 20
tấntươi/ ha. Chế độ canh tác tốt, bón phân nhiều (10-15 tấn phân hữu cơ/ha) năng suất lên
đến 100-120 tấn/ha. Cỏ cho năng suất cao năm thứ 2, có thể lên tới 165 tấn tươi/ha .Năng
suất cỏ phụ thuộc rất lớn vào mùa v ụ. Vào mùa khô, năng suất cỏ chỉ đạt 33 % cả năm.Năng
suất cỏ cao nhất vào khoảng 6-8 tháng tuổi.
e. Thành phần hóa học và giá trịdinh dƣỡng
Giá trịdinh dưỡng phụ thuộc rất lớn vào tuổi thu cắt, dinh dưỡng của đất và giống.

Hàm lượng protein nằm trong khoảng 9-14%, có thể lên tới 20%. Hàm lượng xơ thơ cao
(30-36%). Tỷ lệ tiêu hố chất khơ khoảng 45-70%. Cỏ Pangola có hàm lượng Na cao khi
so sánhvới nhiều loại cỏ nhiệt đới khác. Thu hoạch muộn làm tăng tỷ lệ xơ, giảm giá trị
dinh dưỡng
f. Sử dụng
Pangola trồng và sử dụng để chăn thả hay thu cắt làm cỏ khơ, lứa đầu thu hoạch thích
hợp sau khi trồng 2,5-3 tháng, các lứa sau tùy theo điều kiện cụ thể có thể thu sau 60-65
ngày vào vụ hè-thu và 80-100 ngày vào vụ đơng-xn, khi thảm cỏ có độ cao 40-50 cm(để
thu cắt) và 25-30 cm( để chăn thả). Thảm cỏ Pangola thu cắt làm cỏ khơ khi có 70-80 ngày
tuổi (cần lưu ý khi thời tiết thuận lợi để phơi cỏ). Độ cao cây còn lại sau khi thu hoạch
10cm là thích hợp cho thảm cỏ tái sinh. Cỏ Pangola thường được trồng kết hợpvới các cây
họ đậu (keo đậu, Stylo, Kudzu, Desmodium...) để tăng giá trị hỗn hợp cỏ.
3.1.4 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica)
a. Nguồn gốc
Cỏ lông Para có nguồn gốc ở Nam Mỹ, phân bố nhiều ở các nước nhiệt đới. Cỏ
này được đưa vào Nam bộ năm 1875 và Trung bộ năm 1930 rồi sau đó ra Bắc bộ. Hiện nay
được sử dụng ở nhiều nơi và là một trong các loại cỏ hòa thảo tốt ở nước ta.
b. Đặc điểm chung
Cỏ lơng Para là lồi cỏ lâu năm thân có chiều hướng bị, có thể cao tới 1,5m. Thân
và lá đều có lơng ngắn. Cành cứng to rỗng ruột, đốt dài 10-15cm, mắt 2 đầu đốt có màu
trắng xanh. Các mắt ở đốt có khả năng đâm chồi và rễ dài, lá dài đầu nhọn như hình tim ở
gốc. Bẹ lá dài, lưỡi bẹ ngắn.Cỏ lông Para là cỏ sinh trưởng trong mùa hè, thuộc cỏ Lâu năm.
Nhiệt độ sinh trưởng trung bình thích hợp 210 C. Nó có thể sinh trưởng ở những vùng
cao tới 1000 m so với mực nước biển, thích hợp với những vùng có lượng mưa cao nhưng

18


có thể tồn tại ở những vùng có lượng mưa thấp 500mm/năm. Phát triển mạnh ở những nơi
đất bùn lầy , chịu được ngập nước (tới 60cm), cỏ thường xuất hiện ở các bờ sơng, suối,cống

rãnh. Có thể sinh trưởng ở đất đỏ, đất mặn đất phèn... nhưng ưa đất phù sa, đồngbằng .
Lông Para là cây cỏ nửa nước, nửa cạn và có thể sống được ở những nơi nước chảy
c. Năng suất
Năng suất cỏ thay đổi theo thời gian sinh trưởng, mùa vụ và tính chất đất đai.
Năng suất xanh của cỏ lơng Para đạt 70-80 tấn/ha/năm, có nơi đạt 90-100 tấn/ha/năm. Đặc
biệt, cỏ lơng Para có khả năng phát triển tốt vào vụ Đơng-Xn nên nó chính là cây hòa
thảo trồng cung cấp thức ăn xanh cho gia súc vào v ụ này
rất tốt.
d. Thành phần hóa học và giá trị dinh dƣỡng
Lá cỏ Para có tính ngon miệng cao song phần thân và cỏ già tính ngon miệng giảm
rõ rệt khi nuôi gia súc. Giá trị dinh dưỡng của cỏ cao,mặc dù lượng chất khô ăn vào của
gia súc chăn thả có thể giảm do hàm lượng nước cao và nước đọng trên lá và thân.
Hàm lượng protein biến động từ 14-20% và tỷ lệ tiêu hố chất khơ 65-80% ở lá và 55-65% ở
phần cành ngọn. Giá trị này giảm xuống chỉ còn 35-45% ở ngọn già.

e. Sử dụng
Cỏ lông Para không chịu được giẫm đạp do vậy chỉ nên trồng để thu cắt làm thức
ăn xanh cho ăn tại chuồng hay ủ chua hoặc dùng để chăn thả gia súc luân phiên,cắt lứa đầu 4560 ngày sau khi gieo, các lứa sau cắt cách nhau 30-35 ngày, cắt 5-10 cm cách mặt đất. Cỏ
trồng 1lần có thể sử dụng đến 4-5 năm. Cỏ cịn là nguồn phân xanh cho kết quả rất tốt
trên các vùng trồng dứa.Cỏ cạnh tranh rất khỏe với cỏ dại mọc lan trên mặt nước.
3.1.5 Cỏ Ruzi
a. Nguồn gốc và phân bố

19


Nguồn gốc ở Châu Phi nhưng cỏ Ruzi mọc tốt ở các nước Châu Mỹ La-tinh, đặc
biệt là vùng Caribê. Hiện nay có hầu khắp ở tất cả các nước nhiệt đới và đang lan dần đến
một số nước á nhiệt đới. Cỏ Ruzi được nhập vào nước ta năm 1968 từ Cuba, năm 1980 từ
Australia và gần đây là từ Thái Lan (1996).


b. Đặc điểm chung
Cỏ Ruzi là giống cỏ lâu năm thuộc họ hịa thảo, nó có thân bò rễ chùm bám chắc
vào đất, thân lá dài mềm có lơng mịn. Cây có thể mọc cao tới 1,2 -1,5m, bẹ lá mọc quanh
gốc.Cỏ Ruzi cũng có khả năng chịu khô hạn trong mùa khô 4 tháng như cỏ Ghinê nhưng
phát triển thích hợp vẫn là vào mùa mưa, nó có thể mọc tốt ở những nơi cao tới 2000 m
sovới mực nước biển. Cỏ Ruzi ra hoa và kết hạt tốt trong nhiều điều kiện nên dễ dàng thu
hạt hơn nhiều sovới cỏ Ghinê.
Cỏ Ruzi có thể trồng ở vùng đồng bằng, ven bờ đê, bờ vùng hay ở vùng trung du
miền núi với độ dốc không quá cao (đồng cỏ cắt <80, đồng cỏ chăn thả <150), pH thích hợp
5,0-6,8, khơng chịu đựng với đất có độ acid cao. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng
của cỏ là 330 C vào ban ngày và 280 C vào ban đêm. Nhiệt độ tối thiểu vào ban đêm là
190C, nhưng khơng có sương muối. Cỏ Ruzicũng có khả năng chịu được bóng rợp và vì vậy
có thể trồng xen với một số cây trồng khác. Cỏ Ruzi sinh trưởng mạnh trong mùa mưa, có
khả năng chịu sự dẫm đạp cao nên có thể được trồng làm bãi chăn thả gia súc.
c. Gieo trồng và chăm sóc
Trồng vào mùa mưa nhưng tốt nhất ở đầu mùa mưa để đảm bảo tỷ lệ sống cao.
Chuẩn bị đất: Cày vỡ đất với độ sâu 20 cm,bừa và cày đảo (cày 2 lần), bừa tơi đất, vơ
sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng. Nếu dùng hạt gieo thì chuẩn bị đất kỹhơn, cày bừa
nhiều lần đảm bảo đất tơi nhỏ và thời gian chuẩn bị đất phải dài nhằm giảm bớt hạt cỏ dại
mọc. Rạch hàng với khoảng cách 40-50 cm, sâu 15 cm (tr ồng bằng thân khóm) và 7-10 cm
(gieo bàng hạt)
Phân bón (cần đầu tư cho 1ha trồng cỏ):
+ Phân hữu cơ hoại mục: 10 -15 tấn
+ Supe lân: 200-250 kg
+ Sulfat kali:
+ Urê:

100-200 kg


300-350 kg

Các loại phân hữu cơ, lân, kali dùng bón lót theo hàng, phân đạm bón chia đều
cho mỗi lần thu hoạch trong năm và bón thúc.

20


Giống: Gieo trồng bằng hạt cần 4-6 kg hạt tiêu chuẩn/ha. Phải xử lý hạt trước khi
gieo. Phương pháp xử lý hạt là ngâm hạt vào nước nóng ở nhiệt độ 80 0C trong vịng 1215 phút, sau đó rửa sạch hạt bằng nướcl ã ngâm thêm 1-2 giờ rồivớt ra đem gieo.
Nếu trồng bằng thân khóm sử dụng 4-4,5tấn/ha và được chuẩn bị như sau: Khóm cỏ
Ruzi làm giống được xén bỏ phần lá ngọn để gốc cao khoảng 25-30cm. Dùng cuốc đánh
khóm cỏ lên, đập rũ đất khỏi gốc rễ,cắt bớt rễ dài để lại còn 4-5cm. Sau đó tách khóm
thành các cụm nhỏ liền khối, đảm bảo mỗi cụm có 4-5 thân nhánh tươi.
Cách trồng: Đất sau khi rạch hàng, bón phân theo quy định, đặttừngcụm giống vào
hàng rạchvới khoảng cách 35-40cm, dùng cuốc lấp kín 1/2 độ dài của thân giống (phần
gốc) và dùng chân giẫm chặt đất lấp phần gốc để rễ cỏ tiếp xúc chặt với đất tạo độ ẩm, chóng
nảy mầm và đạt tỷ lệ sống cao. Nếu dùng hạt, gieo rải đều theo hàng rạch và dùng đất nhỏ
lấp kín hạt một lớp mỏng hoặc dùng tay khỏa đều hạt với đất theo hàng trồng.
Chăm sóc: Sau khi trồng 15-20 ngày kiểm tra tỷ lệ sống, những chỗ khơng có
mầmmọc thì trồng bổ sung. Nếu là cây con mọc từ hạt thì phải chờ đến khi phân biệt rõ
(rất dễ nhầm với cỏ dại mọc) mới chăm sóc cỏ trong hàng và trồng tỉa bổ sung. Chăm sóc
làmcỏdại hail ần trước khicỏ phát triển tốt che phủ đất. Dùng phân đạm bón thúc khi thảm cỏ
nảy mầm xanh và sau khi làm cỏ dại.
d. Năng suất
Lứa đầu thu hoạch khi thảm cỏ trồng được 60 ngày tuổi, các lứa tái sinh thu
hoạch khi thảm cỏ có độ cao 45-60 cm (tùy theo mùa và trạng thái phát dục của cỏ).
Phần gốc để lại là 10-15cm. Trồngcỏ Ruzi để chăn thả thì hai lứa đầu tiên phải thu cắt, đến
lứa thứ 3 mới đưa gia súc vào chăn thả. Thảm cỏ chăn thả có độ cao 35-40cm làhợp lý.
Thời gian nghỉ để cỏ tái sinh mọc lại (chukỳ chăn thả) khoảng 25-30 ngày và thời gian

chăn gia súc liên tục trên một khoảnh cỏ không quá 4 ngày .
Năng suất cỏ Ruzi đạt đượctừ 60-90 tấn chất xanh/ha/năm. Tùy thuộc vào chăm
sóc và quản lýcũng như điều kiện đất đai, có thể thu cắt cỏ Ruzi 5-9 lứa cắt/năm. Cỏ Ruzi
mềm và giòn hơn so với cỏ Ghinê nên khả năng lợi nhuận của gia súc khá cao, có th ể lên
tới 90%. Đặc biệt khi phơi, cỏ khô đều cả lá và cuống nhanh hơn cỏ Ghinê. CỏRuzi là
cây chủ lực cho việc trồng cắt và phơi khô làm thức ăn dự trữ vụ đông cho gia súc, đứng
thứ 2 sau cỏ Pangola.

e. Giá trị dinh dƣỡng
Cỏ Ruzi có giá trị dinh dưỡng cao, tốt hơn hầu hết các giống thuộc họ Brachiaria
spp. Hàm lượng protein thông thường biến động trong khoảng 7-13% và có th ể lên đến

21


20%. Hàm lượngvật chất khơ 32-35%; xơ thơ 27-29%; Khống tổngsố 10-11%.Tỷ lệ tiêu hoá
diễn biến từ 55-75%. Cỏ Ruzi khô cắt sau 45 ngày trồng ở Đông Bắc Thái Lan với tỷ lệ
tiêu hố chất khơ, protein thơ (CP), xơ trung tính (NDF) và năng lượng trao đổi (ME)
theo thứ tự là 61%, 80,5%, 72,8% và 7,9 MJ/kg. Với hàm lượng các chất dinh dưỡng như
trên thì cỏ Ruzi cũng là một loại thức ăn thơ xanh có giá trị cho gia súc.
f. Sử dụng
Có thể dùng để chăn thả, thu cắt làm cỏ xanh, cỏ khô (hay để khô cả cây), chu kỳ sử
dụng dài tới 6 năm. Đây là cây thức ăn rất tốt cho bò và nhiều gia súc khác. Có thể trồng xen
với cây ăn quả, ven bờ ao, ven vệ đường hoặc theo đường đồng mức chống xói mịn bảo vệ
đất, trồng xen với cây họ đậu như keo dậu, Flemingia rất tốt.
3.2 MỘT SỐ CÂY CỎ BỘ ĐẬU
3.2.1 Cỏ Stylo (Stylosanthes sp .)
a. Nguồn gốc
Phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia những năm 1930,
nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến. Đây là loại cây thức ăn gia

súc được phát tri ển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như:
Malaysia, Công-gô, Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây stylo nhập vào lần đầu vào năm
1967 từ Singapore, Australia. Các giống stylo đang gieo trồng: Stylosanthes guianensis
(common st ylo): cây lâun ăm , Stylosanthes hamata (Caribbcan st ylo): cây hàng năm ,
Stylosanthes scabra (Shrubby st ylo): cây lâu năm, Stylosanthes humilis (T ownsville st ylo): cây
hàng năm
b. Đặc điểm sinh vật học
Stylo là cỏ lâu năm, có loại hàng năm, thân đứng hoặc bị, cao tới 1m, ở khí hậu ẩm
có thể tới 1,5m. Có khả năng ra rễ ở thân, khi già thường chuyển màu xanh sẫm hoặc tím.
Lá chẻ ba, có nhiều hoặc ít lơng mềm. Lá dài 2-3cm rộng 5-10 mm,tỷ lệ lá/thân = 5/7.
Lồi nhập nội khơng có vịi cuốn. Những chồi thẳng có đốt ngắn, lá nhiều hơn cành
ngang, hoa hình bơng cuốn khơng sát nhau, thường có 70-1200 chùm, trên mỗi chùm có 5-9
hoa.Qủa đậu khơng có cuống, gồm 7-8 hạt có vỏ cứng, màu xám đen trọng lượng 1000 hạt
khoảng 5-6 gam. Rễ phát triển sâu. Cây non mới mọc từ hạt phát triển chậm, dễ rụng lá và
bị sâu hại trong 3-4 tháng đầu sau khi gieo. Nếu gieo vào cuối mùa khơ thì sau khi gieo
cây non phát tri ển nhanh, 5-6 tháng cây cao 1m hay hơn.
Cỏ St ylo là loại cây bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới. Cũng như các loại cây
bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giàu đạm để bổ sung và nâng cao chất
lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại. Cỏ St ylo có khả năng thích ứng rộng và dễ
nhân giống, có thể vừa trồng bằng hạt,vừa trồng bằng cành giâm. Cỏ Stylo phát triển tốt khi

22


nhiệt độ khơng khí trong khoảng 20-350C. Khi nhiệt độ dưới 50C và trên 400C cây phát
triển kém. Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao và là loại cây chịu được khô hạn, không
chịu được đất bị úng ngập. Độ ẩm khơng khí thích hợp là 70-80%. Cỏ Stylor ất ít bị sâu
bệnh và có th ể phát triển trên nhiều loại đất, ngayc ả ở vùng đất đồi cao. Chính vì vậy ,
ngồi tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó cịn được trồng để cải
tạo đất và che phủ đất và chống xói mịn.

c. Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc
Thời gian gieo trồng từ tháng 2 đến tháng 4 (nếu gieo bằng hạt) và vào tháng 8-9
(nếu giâm cành).
Chuẩn bị đất : Làm đất kỹ như trồng cỏ voi(cày , bừa hai lần), cày sâu
15-20 cm, bảo đảm đất tơi nhỏ.
Phân bón : Mỗi ha cần bón
+ 10-15tấn phân chuồng hoai mục, bón lót tồn bộtheo hàng rạch.
+ 300-350 kg super lân, bón lót tồn bộ theo hàng rạch.
+ 100-150kg clorua kali, bón lót tồn bộ theo hàng rạch.
+ 50 kg urê, bón thúc khi cây đạt độ cao 5-10 cm.
Nếu đất chua thì bón thêm vơi (0,5-1t ấn/ha) bằng cách rải đều khi cày bừa.
Cách trồng và chăm sóc : 2 cách
Trồng bằng cành giâm: cắt cành dài 30-40 cm, có 4-5 mắt, chơn xuống đất 20 cm. Trồng
hàng cách hàng 50-60 cm , cây cách cây 3-5 cm.
Gieo bằng hạt: sửdụng 4-5 kg hạt giống cho một ha. Gieo hạt theo hàng rạch sau khi đã
bón phân. Để cho cây chóng mọc, có thể ủ hạt trongnước nóng 60-700C, khi hạt nứt nanh
thì đem gieo.
d. Sử dụng
Thu hoạch cỏ St ylo lứa đầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc cỏ cao khoảng
60cm và thảm cỏ che phủ kín đất. Thu hoạch thường từ tháng 6 đến tháng 12. Khi thu
hoạch cắt cách mặt đất 15-20 cm. Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2-2,5 tháng, lúc cây
cao 35-40 cm. Chu k ỳ kinh tế 4-5 năm.
3.2.2 Cây keo dậu (Leucaeana leucocephala)
a. Nguồn gốc
Cây keo dậu cịn có các tên khác Bình Linh, Táo Nhơn, Me.., có nguồn gốc ở
Trung, Nam Mỹ và quần đảo Thái Bình Dương. Ở nước ta, keo dậu mọc tự nhiên ở những

23



vùng ven biển dọc duyên hải miền Trung. Một số giống keo dậu được nhập vào nước ta từ
năm 1980 bằng nhiều con đường khác nhau và nhập chính thức từ Australia năm 1990.
Đây là một trong những cây đậu, thân gỗ đa dụng, trong đó dùng làm thức ăn cho gia súc
nhai lạirất có giá trị. Một số giống keodậu thường thấy:
- Leucaeana leucocephalaCV . Peru
- Leucaeana leucocephalaCV . Peru. Cunningham
- Leucaeana leucocephalaCV . Peru Hawaii
b. Đặc điểmchung
Keo dậu là cây họ đậu lâu năm, thân bụi hoặc thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 10m, lá rộng
kép lơng chim dài từ 15-20 cm. Lá chét của lá kép lông chim dài 10 cm. Lá chét nhỏ,
hơi thuôn xếp thành 11- 17 cặp dọc theo lá chét của lá chét lông chim. Hoa màu trắng –
vàng và phát tri ển thành những quả phẳng dài 20 cm chứa những hạt màu nâu đen, hình ovan,
dài 6 mm, 1 kg có khoảng 24.000 hạt. Rễ có thể đâm sâu từ 2,5-4 m. Keo dậu là cây chịu
hạn rất tốt, có thể duy trì b ộ lá xanh trong suốt mùa khơ. Nó có thể làm cây bóng cho
những cây khác. Có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất nhưng phải là đất thốtnước và
đất khơng chua (pH>5,3), ưa đất nhiều mùn, pH trung tính hoặc hơi kiềm. Thích hợp với
những vùng cól ượng mưa trên 800 mm/năm, khí hậu vùng nhiệt đới, chịulạnh và sương muối
kém.

c. Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc
Chọn đất: Đất thốt nước, ít chua (pH=5,5-7,0). Làm đất: Cày bừa và làm đất bình
thường như các loại đậu đỗ khác. Lên luống rộng 3m, trên luống rạch hàng
cách nhau 70-80 cm.
Bón phân:Nếu có phân chuồng, bón theo hàng 10 tấn/ha, phân lân nung chảy
300kg/ha, kali clorua 150kg/ha. Phân lân và kali bón trước khi bừa lần cuối hoặc hàng
năm bón 1 lần vào vụ xuân.
d. Năng suất
Keo dậu có thể trồng tập trung để thu cắt chất xanh hoặc trồng theo hàng rào,
đường lô, bờ mương máng. Tùy theo điều kiện đất đai, năng suất keo dậu giống
Cumningham có thể đạt 13 tấn chất khơ/ha/năm. Nếu tính theo chất xanh 50 tấn/ha/năm thì

có th ể sản xuất 5 tấn bột. Một năm keo dậu cắt được 4-5 lứa từ tháng 5 đến tháng 12 (miền
Bắc), tháng 3-10 (miền Trung). Keo dậu thường bị rệp gây
hại nặng kéo dài từ tháng 3
đến tháng 5. Tuy nhiên khi mưa rào rệp chết, cây tiếp tục sinh trưởng rất mạnh. Keo dậu sử

24


×