LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng
tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác. Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các
mơn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quôc gia Hà Nội.
Tỏi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Thị Thúy
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẨU.................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHƠNG TRUY cứu TRÁCH
NHIỆM HÌNH Sự DO HÉT THỜI HIỆU............................................... 8
1.1.
Cơ sở lý luận và ý nghĩa của phạm trù khơng truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thòi hiệu.............................................................................. 8
1.1.1.
Cơ sở lý luận của phạm trù khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết
thời hiệu......................................................................................................... 8
1.1.2.
Ý nghĩa của phạm trù không truy cứu trách nhiệm hình sụ do hết thời hiệu.... 13
1.2.
Khái niệm, nội hàm và bản chất pháp lý của phạm trù không truy
cứu trách nhiệm hình sự do hết thịi hiệu................................................ 14
•
1.2.1.
•
•
Khái niệm và nội hàm của phạm trù không truy cứu trách nhiệm hình
sự do hết thời hiệu....................................................................................... 14
1.2.2.
Bản chất pháp lý của phạm trù khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do
hết thời hiệu................................................................................................. 19
1.3.
Phân biệt
• khơng” truy cứu trách nhiệm
• hình sự• do hết thịi hiệu
• với
một số quy định định liên quan.................................................................20
1.3.1.
Phân biệt khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu với
miễn trách nhiệm hình sự............................................................................. 21
•
1.3.2.
•
Phân biệt khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu với
trường hợp không phải chấp hành bản án kết tội do hết thời hiệu.............. 24
1.4.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thịi hiệu trong lịch sử
”
<7
•
•
•
”
•
lập pháp hình sự Việt Nam........................................................................27
1.4.1.
Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.......................................... 28
1.4.2.
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 (thời ki hiện đại)............. 29
1.5.
Khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thỉri hiệu trong pháp
luật một số quốc gia trên thế giới..............................................................32
1.5.1.
Pháp luật hình sự Liên bang Nga.................................................................32
1.5.2.
Pháp luật hình sự Trung Quốc...................................................................... 34
1.5.3.
Pháp luật hình sự Vương quốc Anh.............................................................36
1.5.4.
Pháp luật hình sự Cộng hòa Liênbang Đức................................................... 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1........................................................................................... 39
Chương 2: KHƠNG TRUY cúu TRÁCH NHIỆM HÌNH sụ DO HÉT
THỜI HIỆU - Sự THỂ HIỆN TRONG BLHS 2015 VÀ THựC
TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHÓ HÀ NỘI (giai
đoạn 2017 -2021)....................................................................................... 40
2.1.
Quy định của BLHS 2015 về không truy cứu trách nhiệm hình sự
do hết thời hiệu......................................................................................... 40
2.1.1.
Vị trí của quy định khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu trong BLHS 2015............................................................................... 40
2.1.2.
Các điều kiện để cá nhân phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự do hết thời hiệu...................................................................................... 42
2.1.3.
Các điều kiện để pháp nhân thương mại phạm tội không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu........................................................... 51
2.1.4.
Các trường họp khơng được áp dụng quy định “không truy cứu trách
nhiệm hỉnh sự do hết thời hiệu”...................................................................55
•
2.2.
•
•
Thực
tiễn khơngơ truyd cứu trách nhiệm
hình sự• do hết thời hiệu
•
•
•
trên địa bàn thành phố Hà Nội (giai đoạn 2017 -2021).......................... 57
2.2.1.
Cách tiếp cận và cơ sở số liệu......................................................................57
2.2.2.
Những kết quả đạt được khi áp dụng quy định khơng truy cứu trách
nhiệm hình sự do hết thời hiệu trên địa bàn thành phố Hà Nội.................. 59
2.2.3.
Một số hạn chế khi áp dụng trường họp không truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu trên địa bàn thành phố Hà Nội............................. 65
2.2.4.
Nguyên nhân của những hạn chể.................................................................69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2........................................................................................... 71
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HỒN THIỆN QUY ĐỊNH VÈ KHƠNG
TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH sự DO HẾT THỜI HIỆU
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
TRÊN TH ực TIỄN................................................................................... 72
3.1.
Những vấn đề còn tồn tại trong quy định pháp luật về khơng truy
cứu trách nhiệm
hình sự• do hết thời hiệu
•
• ............................................... 72
3.2.
Cơ sở của định hướng và những giải pháp............................................. 77
3.2.1.
Cơ sở lý luận................................................................................................ 77
3.2.2.
Cơ sở lập pháp.............................................................................................. 78
3.2.3.
Cơ sở thực tiễn............................................................................................. 78
3.3.
Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về khơng truy
cún trách nhiệm
hình sự• do hết thời hiệu
•
• ............................................... 79
3.4.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng khơng truy cứu trách
nhiệm hình sự do hết thời hiệu trên địa bàn thành phố Hà Nội.......... 85
3.4.1.
Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật hình sự.................................. 85
3.4.2.
Tăng cường năng lực chun mơn nghiệp vụ cho đội ngũ Điều tra
viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán................................................................... 85
3.4.3.
Tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao công tác quản lý giải quyết vụ việc
tạm đình chỉ, giải quyết các vụ án, vụ việc hết thời hiệu............................ 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3........................................................................................... 88
KÉT LUẬN............................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................91
DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT
BLHS:
BƠ• lt
• hình sư•
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT:
TA:
Cơ quan điều tra
r-ri s. z
Tịa án
VKS:
Viên
• kiểm sát
DANH MỤC CÁC BẢNG
rr
1
*
A
Sơ niêu
•
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Tên bảng biểu
Trang
Thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự trên địa bàn
thành phố Hà Nội từ 2017 - 2021
60
Thống kê số vụ án, bị can đình chỉ tố tụng của Cơ quan điều
tra 02 cấp thành phố Hà Nội từ năm 2017 đến năm 2021
61
Thống kê số vụ án, bị can đình chỉ tố tụng của Viện kiểm sát
02 cấp thành phố Hà Nội từ năm 2017 đến năm 2021
62
Thống kê số vụ án, bị cáo đình chỉ tố tụng của Tòa án 02 cấp
thành phố Hà Nội từ năm 2017 đến năm 2021
63
Thống kê số vụ án, bị can Cơ quan điều tra đình chỉ theo
Thơng tư 01/ 2020 theo nhóm tội năm 2021
64
MỎ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài
Khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu là một trong những biện
pháp tha miễn gắn liền với chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong
pháp luật hình sự, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của pháp luật đối với người phạm
tội khi trao cho họ cơ hội có thể nhận được sự khoan hồng của Nhà nước nếu qua
một thời hạn nhất định kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội, người đó đáp ứng
được các điều kiện mà pháp luật hình sự đặt ra. về nguyên tắc, bất kể một chủ thể
nào khi thực hiện hành vi nguy hiếm cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm
thì đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên qua một thời hạn nhất định,
hành vi phạm tội của chủ thế đó khơng bị các cơ quan có thấm quyền phát hiện, xử
lý và họ tự cải tạo bản thân, khơng tiếp tục phạm tội thì việc truy cứu trách nhiệm
hình sự họ khơng cịn cần thiết bởi nó khơng mang lại tính phịng ngừa, giáo dục
cao nữa. Bên cạnh đó, việc khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu còn
thế hiện trách nhiệm và thái độ xử lý đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội
của Nhà nước đối với những trường hợp do thiếu sót của cơ quan có thẩm quyền
nên khơng thể kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, làm
rõ bản chất pháp lý cũng như xác định những trường hợp nào khơng truy cứu trách
nhiệm hình sự do hết thời hiệu là một vấn đề phức tạp khi nó khơng chỉ liên quan
đến chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các chế định khác trong
pháp luật hình sự mà cịn liên quan đến nhiều chế định trong pháp luật tố tụng hình
sự. Vì những lý do đó nên trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam chưa có cơng
trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về vấn đề này mà chỉ mới xoay quanh
chế định
hình sự
• trách nhiệm
• hình sự• và chế định
• thời hiệu
• truy cứu trách nhiệm
••
trong đó có nhắc đến vấn đề này với tư cách là một dạng biện pháp tha miễn - hệ
quả của hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với các điều kiện đế người phạm
tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu trường
hợp khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu là cần thiết về mặt lý luận,
phù hợp với phạm vi, dung lượng cùa luận văn thạc sĩ.
1
Vê mặt lập pháp, pháp luật hình sự Việt Nam đã trải qua lân pháp điên hóa
thứ 3 với những sụ thay đổi mang tính đột phá ở Bộ luật hình sụ năm 2015, sửa đơi
bổ sung năm 2017(sau đây gọi là BLHS 2015), trong đó có những thay đổi nhất
định liên quan trực tiếp đến vấn đề không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu. Tuy nhiên, khi xem xét một cách toàn diện các quy định về vấn đề này, học
viên nhận thấy vẫn còn một số thiếu sót về nội dung cũng nhu chưa đạt về mặt kỹ
thuật lập pháp mà cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm để hoàn thiện hơn nữa các quy
định pháp luật hình sự Việt Nam. Bên cạnh đó, với việc BLHS 2015 đưa thêm pháp
nhân thương mại là chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự cịn đặt ra vấn đề áp dụng
trường họp không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại do
hết thời hiệu cũng là việc cần phải nghiên cứu, đánh giá thêm để hồn thiện trong
Bộ luật hình sự.
Trên thực tiễn, việc nắm vừng chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự và những điều kiện để khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu
là yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải đạt được. Việc các cơ quan tố tụng nhận thức và áp dụng một cách chính xác
trường hợp này trên thực tiễn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạn chế việc
oan sai, bỏ lọt tội phạm. Ngày 01/6/2020, liên ngành các cơ quan trung ương gồm
Viện kiềm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ cơng an, Bộ quốc
phịng, Bộ nơng nghiệp và phát triền nông thôn, Bộ tư pháp đã ký ban hành Thông
tư liên tịch số 01/2020/TTLT quy định phối họp thực hiện một số điều của Bộ luật
tố tụng hình sự về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ (sau đây gọi là
Thơng tư liên tịch 01/2020) trong đó có quy định việc giải quyết đối với các vụ
việc, vụ án tạm đình chỉ đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải ra
quyết định khơng khởi tố (đối với các vụ việc) và quyết định đinh chỉ (đối với vụ
án). Triển khai việc thực hiện thông tư này, các cơ quan tố tụng trên địa bàn thành
phố Hà Nội đang tiến hành tống rà soát các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ cịn tồn
đọng từ trước đến nay trong đó đặt ra nhiệm vụ cơ bản là xem xét nhừng vụ việc
2
nào đã hêt thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đê ra quyêt định giải quyêt. Tuy
nhiên, quá trình rà sốt, đánh giá từng vụ việc cịn gặp phải một số khó khăn, vướng
mắc nhất định trong việc vận dụng các quy định của BLHS 2015 để xác định vụ
việc có thuộc trường hợp khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu hay
khơng? Do đó việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn
công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Như vậy, thơng qua việc phân tích trên đây, có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn cũng
như khẳng định ý nghĩa quan trọng để học viên lựa chọn đề tài “Khơng truy cứu trách
nhiệm hình sự do hết thời hiệu - Lý luận, lập pháp và thực tiễn áp dụng trên địa bàn
thành phố Hà Nội" là đề tài nghiên cứu trong Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về vấn đề “khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu” đã được một số nhà khoa học, luật gia quan tâm ở những mức độ khác nhau
trong các cơng trình nghiên cứu, sách chun khảo, giáo trình cũng như trong một
số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học.
Ớ cấp độ giáo trình, vấn đề “khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu ” được đề cập đến ở mức độ cơ bản với tư cách là hệ quả của việc hết thời hiệu
•
•
• I
•
•
>
•
•
truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số giáo trình của các cơ sở đào tạo luật như:
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội, Nhà xuất bản (NXB) Đại học quốc gia Hà Nội, 2021; Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam (Phần chung) của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân
dân, Hà Nội, 2019...
Ở cấp độ bình luận khoa học, phân tích chun sâu có các cơng trình nghiên
cứu của các tác giả như:
1. GS. TSKH. Lê Văn Cảm với một số cơng trình nghiên cứu như: 7.7. Chế
định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam: Một sổ vấn đề lý luận cơ bản - Tạp chí
khoa học pháp lý số 02/2001 (đồng tác giả với PGS.TS. Trịnh Tiến Việt); 7.2.
Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Giáo trình sau đại
học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2019; 1.3. Lý luận về thời hiệu trong Luật hình
3
sự Việt Nam và định hưởng tiếp tục hoàn thiện chế định này (đồng tác giả với Ths.
Trần Thị Hoàng Lan) - Tạp chí Khoa học kiểm sát số 05, 06/2020.
2. PGS.TS. Phạm Hồng Hải: Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và vấn đề áp dụng chế định này trong thực tiễn - Tạp chí Luật học số 05/2001.
3. Ths. Đinh Văn Quế: 5.7. Một số vấn đề về thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự và cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong một sổ trường
hợp
Bình luận
• cụ• thê - Tạp
• 1 chí tịa án nhân dân sơ 19/2009/5.2.
z
• Bộ• luật
• hình sự•
20ỉ5 Phần chung, NXB Thơng tin và truyền thơng, 2020.
4. TS. Phạm Minh Tuyên: Một sô vướng măc, bât cập từ những quy định vê
thời hiệu truy cứu trách nhiêm hình sự và xóa án tích - Tạp chí khoa học kiểm sát
✓
•
•
• X
•
•
số 08/2015.
Một sơ luận văn thạc sĩ liên quan như:
1. Nguyễn Thị Thanh Hoa: Những vấn đề lỷ luận và thực tiễn về chế định
thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ - Khoa Luật Đại học
•
X
X
•
♦
x
•
•
•
•
•
•
quốc gia Hà Nội, 2009.
2. Nguyễn Tố Phương: 77/07 //íẹn trong Luật hình sự Việt Nam, Luận vàn
thạc sĩ - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2018.
3. Đỗ Tuấn Anh: 77/07 hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự
Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa hàn tỉnh Thanh Hóa), Luận văn thạc sĩ, Khoa
Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2019.
4. Nguyễn Hữu Nam: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của Bộ luật hình sự 20Ỉ5 - Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, 2020.
Trong các cơng trình nghiên cứu, giáo trình, bài viết này đều có đề cập đến
vấn đề khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu, các điều kiện áp dụng
khi phân tích các chế định lớn như trách nhiệm hình sự, các biện pháp tha miễn
trong phạm vi một phần trong giáo trình giảng dạy hay bình luận chuyên sâu về luật
hình sự hoặc lồng ghép nghiên cứu vấn đề này trong các đề tài về thời hiệu trong
luật hình sự và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên chưa có cơng
trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống, chuyên sâu về trường họp
4
khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hêt thời hiệu thông qua thực tiên áp dụng
trên địa bàn thành phố Hà Nội. Điều này một lần nữa khẳng định việc nghiên cứu về
đề tài là hết sức cần thiết và quan trọng.
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận những nội
dung cơ bản về trường hợp “khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu”
với tư cách là một biện pháp tha miễn trên phương diện cả hai ngành luật là hình sự
và tố tụng hình sự cũng như thực tiễn áp dụng nó trong hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử các vụ án hình sự, từ đó làm rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân để đề
xuất những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn áp dụng quy định này
trên thực tiễn.
Từ những mục đích trên, học viên đặt ra cho mình những nhiệm vụ nghiên
cứu sau đây:
1. Phân tích một số vấn đề lý luận chung về trường hợp khơng truy cứu
trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu thơng qua đó làm rõ các khái niệm, bản chất,
đặc điểm cơ bản.
2. Phân tích, làm rõ các quy định về không truy cứu trách nhiệm hình sự do
hết thời hiệu trong BLHS 2015.
3. Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy đinh của BLHS 2015 và
BLTTHS 2015 về việc không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu trong
thực tiễn đồng thời phân tích những khó khăn, vướng mắc, ngun nhân để từ đó đề
xuất một số kiến nghị hồn thiện BLHS và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy
định BLHS trên thực tiễn.
4. Đối tưựng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cửu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung sau đây:
1. Những vấn đề lý luận chung về trường hợp khơng truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu
2. Các quy định về không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu
trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
5
3. Thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2017
đến 2021.
4.2. Phạm vỉ nghiên cún
Học viên chỉ giới hạn nghiên cứu thực tiễn khơng truy cứu trách nhiệm hình
sự do hết thời hiệu trên địa bàn thành phố Hà Nội. về thời gian, Luận văn nghiên
cứu thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS 2015 về khơng truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu giai đoạn 5 năm, từ năm 2017 đến 2021.
5. Co’ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là những vấn đề lý luận trong
khoa học luật hình sự Việt Nam nói chung và những vấn đề lý luận về trách nhiệm
hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và
khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu nói riêng.
6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận của luận văn này là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét đối tượng nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
diện, trong mối liên hệ với các chế định trong pháp luật hình sự cũng như trong tiến
trình phát triền của khoa học hình sự và lập pháp hình sự nước nhà.
Những phương pháp nghiên cứu cụ thề được sử dụng trong Luận văn này là
các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học luật hình sự nói riêng cũng
như khoa học xã hội nói chung như phương pháp phân tích khoa học dưới góc độ
lập pháp hình sự đối với các quy phạm pháp luật hình sự thực định, phương pháp
lịch sử trong nghiên cứu vấn đề không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu
trong pháp luật hình sự Việt Nam các thời kỳ trước. Đồng thời, q trình nghiên
cứu, tác giả cịn sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông dụng như so sánh, tổng
họp... để làm sáng tỏ những vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
7. Những đóng góp mới của đề tài
Đây là công trinh nghiên cứu dưới dạng một luận văn thạc sĩ về đề tài không
truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu - lý luận, lập pháp và thực tiễn áp
dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.
6
Trong đó, các vân đê lý luận như khái niệm, bản chât và các quy định BLHS 2015
về trường hợp khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu được nghiên
cứu, luận giải một cách cụ thể dưới cấp độ nghiên cứu của một Luận văn thạc sĩ.
Bên cạnh đó, xét về mặt thực tiễn thì luận văn này đã đưa ra được kết quả áp
dụng và những số liệu cụ thể về thực tiễn không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết
thời hiệu tại các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thành phố Hà Nội trong
giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021. Đặc biệt, luận văn còn làm rõ được một số
vướng mắc phát sinh trong thực tiễn khi áp dụng pháp luật và đề xuất một số kiến
nghị để khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án hình sự hiện nay.
8. Bố cục của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, Luận văn có 3 chương được sắp xếp theo trình
tự sau đây:
Chương 1. Những vấn đề chung về khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do
hết thời hiệu.
Chương 2. Khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu - Sự thể
hiện trong Bộ luật hình sự 2015 và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội
(giai đoạn 2017 -2021).
Chương 3. Định hướng hồn thiện quy định pháp luật về khơng truy cứu
trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
trên thực tiễn.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÔNG TRUY cứu
TRÁCH NHIỆM HÌNH sụ DO HÉT THỜI HIỆU
1.1. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của phạm trù không truy cún trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu
7.7.7. Cứ sở lý luận của phạm trù khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do
hết thời hiệu
♦
Trách nhiệm hỉnh sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất mà chủ
thể phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự
được các cơ quan tư pháp hình sự mà Nhà nước giao quyền đại diện thực hiện thông
qua các biện pháp cưỡng chế hình sự và các biện pháp khác áp dụng đối với chủ thể
phạm tội trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự theo trình tự,
thủ tục luật định, về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội do chủ thể thực hiện phải
được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, cơng minh theo đúng pháp luật với
phương châm “khơng bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tộiChủ thể phạm
tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của BLHS, nếu khơng có các
căn cứ để khơng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, được miễn trách nhiệm hình sự
hoặc miễn hình phạt thì họ sẽ phải chịu hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế
hình sự khác do BLHS quy định. Đó chính là nội dung của ngun tắc khơng tránh
khỏi trách nhiệm hình sự của luật hình sự, theo đó ngun tắc này khơng hoàn toàn
đồng nhất với việc bắt buộc phải áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế
hình sự khác đối với bất cứ chủ thể phạm tội nào. Trong trường hợp chủ thể phạm
tội mặc dù thực hiện hành vi thoa mãn đầy đủ dấu hiệu của tội phạm nhưng lại đáp
ứng được những điều kiện, cãn cứ mà pháp luật quy định đế không bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hinh sự hoặc miễn hình phạt...thì sẽ được hưởng
sự khoan hồng của Nhà nước và được áp dụng các biện pháp tha miễn. Điều này thể
hiện tính nhân đạo trong ngun tắc khơng tránh khỏi trách nhiệm hình sự, cũng
chính là thể hiện ngun tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự.
8
Một trong những biện pháp tha miễn được quy định trong pháp luật hỉnh sự
cùa nhiều quốc gia và được các cơ quan tư pháp hình sự thường xuyên xem xét áp
dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự đó là “khơng truy cứu trách nhiêm
hình sự do hết thời hiệu ”, Một chủ thể đáng lẽ ra phải bị truy cứu trách nhiệm hình
sự nhưng vì những lý do nào đó từ phía các cơ quan tư pháp hình sự mà tội phạm
hoặc chủ thề đó đã không bị phát hiện, xử lý kịp thời nên khi đã qua một thời hạn
luật định, đáp ứng các điều kiện trong BLHS thì chủ thể đó khơng bị truy cứu trách
nhiệm
hình sự• nữa. Thời hạn
luật
định
đó được
gọi
là thời hiệu
truyư cứu trách nhiệm
•
•
•
•
•
4^2
•
•
•
hình sự. Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự, cơ sở nào để BLHS quy định biện
pháp tha miễn này cũng như cho phép các cơ quan tư pháp hình sự áp dụng vẫn là
vấn đề cịn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng việc khơng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội khi đã hết thời hiệu là dựa trên nguyên tắc nhân đạo và mục đích của
việc áp dụng trách nhiệm hình sự và mục đích áp dụng hình phạt đã khơng cịn cần
thiết. Cụ thể, theo PGS.TS. Phạm Hồng Hải, việc không truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội khi hết thời hiệu xuất phát từ quan niệm cho ràng vì những
nguyên nhân, mục đích, động cơ nào đó mà một người đã thực hiện hành vi phạm
tội nhung trong khoảng thời gian nhất định sau khi đã phạm tội, họ không phạm tội
mới, đã ăn năn hối cải thậm chí trở thành người tốt, có uy tín trong xã hội. Đối với
những người này không cần bắt họ phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước
bởi lẽ chính bản thân họ đã tự giáo dục và cải tạo tốt [16, tr. 31].
Lập luận cụ thể hơn, PGS.TS Trịnh Tiến Việt cho rằng trường họp miễn
trách nhiệm
hình sự• do hết thời hiệu
truyư cứu trách nhiệm
hình sự:
•
•
•
•
Xuất phát từ ngun tắc nhân đạo và mục đích cùa việc áp dụng trách
nhiệm hình sự là khơng cần thiết và hình phạt khơng đạt được mục đích,
đồng thời có thể cải tạo, giáo dục người phạm tội dưới sự điều chỉnh của
xã hội, qua đó tiết kiệm chi phí của việc truy cứu trách nhiệm hình sự
người phạm tội cho xã hội và Nhà nước [57, tr. 118].
Tiếp đó trong cuốn Trách nhiệm hình sự và hình phạt, PGS.TS Trịnh Tiến
9
Việt cũng tiếp tục khẳng định:
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được đặt ra trong BLHS xuất
phát từ ý nghĩa và cơ sở lý luận cho ràng: hiệu quả và giá trị của việc
truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội (hiện nay, còn bao gồm của pháp nhân thương mại phạm tội) phụ
thuộc rất nhiều vào khoảng thời gian giữa thời điểm phạm tội và thời
điểm áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt... Do đó nếu khoảng thời
gian đó càng thu nhỏ thì hiệu quả đạt được của việc truy cứu trách nhiệm
hình sự, áp dụng hình phạt và yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội
phạm càng cao và ngược lại nếu khoảng thời gian đó càng dài thì các
hiệu quả đã nêu khó đạt được [59, tr. 84 - 85].
Một số quan điểm khác thì cho rằng khi đã qua một thời hạn nhất định, việc
truy cứu trách nhiệm hình sự là khơng cịn cần thiết vì hành vi nguy hiểm cũng như
bản thân người phạm tội lúc đó đà khơng cịn nguy hiểm cho xã hội. Theo TS. Trần
Quang Tiệp:
Việc người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc khơng
phải chấp hành bản án đà tuyên khi hết thời hạn và khi đáp ứng đầy đủ
những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự, là do người
phạm tội được coi là khơng cịn nguy hiểm cho xã hội nữa [38, tr. 4].
Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội
thì ghi nhận như sau:
Thực tế vẫn có một số trường hợp vì lý do này hay lý do khác mà Cơ
quan điều tra, truy tố xét xử đã bỏ quên một số hành vi phạm tội mà
khơng truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với những trường hợp này, nếu
trong thời gian nhất định người phạm tội đã tự hối cải, làm ăn lương
thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh sự trừng trị của pháp luật thì
việc truy cứu trách nhiệm hình sự là khơng cần thiết bởi vì hành vi nguy
hiểm cũng như bản thân người phạm tội lúc đó đã khơng còn nguy hiểm
cho xã hội. Hơn nữa, việc truy cứu trách nhiệm hình sự lúc này sẽ khơng
đạt được mục đích của hình phạt [42, tr. 2801.
Mỗi quan điểm nói trên đều dựa trên những cơ sở lý luận vững chắc về tội
10
phạm và trách nhiệm hình sự. Đê đưa ra những quy định nhân đạo trong BLHS có
thể là dựa vào một trong hai căn cứ: mợí là do thiếu đi một trong các dấu hiệu của
tội phạm, hai là do mục đích của luật hình sự đã đạt được. Chúng ta sẽ đi phân tích
xem việc “khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu” đối với chủ thể
phạm tội là dựa vào căn cứ nào.
Thứ nhất, do thiếu đi một trong các dấu hiệu của tội phạm. Theo khoa học
luật
hỉnh sự,
hành vi được
coi là tội
phạm
khi nó thỏa mãn 5 dấu hiệu
sau: Một
•
• 7 một
•
•
•
X
•
•
•
là tính nguy hiểm cho xã hội, đỏ là hành vỉ gây nên (hoặc cỏ khả năng gây nên) các
thiệt hại đáng kê cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ; Hai là tinh
trái pháp luật hình sự tức là tội phạm phải là hành vỉ bị pháp luật hình sự cấm hay
do pháp luật hình sự quy định; Ba là tỉnh có lỗi hay cụ thê là tội phạm là hành vi
được thực hiện một cách có lỗi cố ỷ hay vô ý; Bon, tội phạm là hành vi do người cỏ
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; Năm, tội phạm là hành vi do người đủ tuổi
chịu
trách nhiệm
hình sự• thực
hiện.
Một
hành vi nếu thiếu đi một
trong các dấu hiệu
•
♦
•
•
•
•
•
nói trên thì sẽ khơng phải là tội phạm và chủ thể thực hiện hành vi đó đương nhiên
sẽ khơng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Đây cũng chính là căn
cứ đề xây dựng chế định về những trường họp loại trừ tính tội phạm của hành vi
trong BLHS. Xem xét quan điểm cho rằng việc khơng truy cứu trách nhiệm hình sự
do hết thời hiệu là do hành vi khơng cịn nguy hiểm cho xã hội nữa là khơng phù
hợp bởi tính nguy hiểm cho xã hội là một đặc điềm khách quan của tội phạm, phản
ánh nội dung xã hội (vật chất) của tội phạm nên cho dù đã qua một khoảng thời gian
nhất định thỉ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó khơng thể mất đi được. Rõ
ràng tại thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi thì hành vi đó vẫn hồn tồn
thỏa mãn dấu hiệu gây nguy hiểm cho xã hội nên vẫn bị coi là tội phạm, người thực
hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo ngun tắc khơng tránh khởi
trách nhiệm hình sự. Chỉ khi qua một thời gian do sự thay đổi của chính sách pháp
luật, hành vi đó có thể khơng cịn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc do chuyển biến
tình hình mà người phạm tội khơng cịn nguy hiếm cho xã hội nữa thì người phạm
tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định về miễn trách nhiệm hình
•
•
•
•
11
X
*
•
sự trong BLHS còn nêu chỉ qua một thời gian mà khơng có u tơ nào tác động thì
hành vi đó vẫn khơng thể mất đi tính nguy hiểm cho xã hội được. Do đó đây
khơng thể là cơ sở để chúng ta khơng truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội
do hết thời hiệu.
Thứ hai, do mục đích của luật hình sự đà đạt được nên khơng cịn cần thiết
phải truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Mục đích chủ yếu của các chế
định trong luật hình sự nói chung là nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội, đưa họ
từ một người phạm tội trở thành người có ích cho xà hội, biết nhận thức và xử sự
theo những chuấn mực chung của xà hội, khơng tiếp tục phạm tội mới. Cịn mục
đích trừng trị người phạm tội là công cụ giúp chúng ta đạt được đến mục đích chủ
yếu đó. Do đó, nếu như mục đích chủ yểu của luật hinh sự đã đạt được thi vấn đề
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội lúc đó khơng cịn cần thiết
nữa. Như vậy, đối với trường họp không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu, do qua một thời gian nhất định, người phạm tội đã không trốn tránh, tự cải
tạo, giáo dục bản thân để không tiếp tục phạm tội mới thi mục đích chủ yếu cùa
luật hình sự đã đạt được nên không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự
người đó nữa. Nếu chúng ta cứ tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội sẽ là đi ngược lại với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự cũng
như gây xáo trộn cuộc sống lương thiện đang có của người phạm tội, sự bình ổn
cùa các quan hệ xã hội hiện tại và có thể gây lãng phí cho Nhà nước. Ngồi ra,
việc đi tìm chứng cứ để làm rõ sự thật vụ án xảy ra đã lâu còn gây khó khăn cho
các cơ quan tố tụng, những nhân chứng và gây ra cả những tác động tiêu cực đến
cuộc sống của cả những người bị hại. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự sau khi
tội phạm xảy ra đã q lâu sẽ khơng cịn mang lại hiệu quả cũng như giá trị, ý
nghĩa đối với yêu cầu đấu tranh phịng chống tội phạm, bởi lẽ “Cơng lỷ chậm trề là
công lỷ không được thực thi
Như vậy, cơ sở lý luận đế quy định biện pháp tha miễn “Không truy cừu
trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu ” trong luật hình sự là xuất phát từ nguyên tắc
nhân đạo, khi mục đích của việc truy cứu trách nhiệm hình sự chu thể phạm tội
•
7
•
•
•
12
•
X
•
•
cũng như áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chê hình sự khác đã đạt được,
việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chù thể phạm tội đã khơng cịn
cần thiết nên Nhà nước khơng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm
tội nữa. Điều này cũng thể hiện rằng pháp luật hình sự rõ ràng khơng phải chỉ tồn
tại như một công cụ để đấu tranh với tội phạm và trừng phạt người phạm tội mà hơn
hết việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo tính nhân văn còn
mang ý nghĩa quan trọng hơn.
1.1.2. Ỷ nghĩa của phạm trù khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết
thời hiệu
Pháp luật hình sự là cơng cụ hữu ích và quan trọng để bảo vệ các quyền và tự
do của con người, của công dân bởi các quy định của nó trực tiếp bảo vệ con người
tránh khỏi sự xâm hại của những hành vi phạm tội, đồng thời bảo đảm việc áp dụng
một cách chính xác các càn cứ, chế tài xử lý người phạm tội sao cho việc áp dụng
hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác phù họp với mục đích của luật
hình sự, đảm bảo tính pháp chế và dân chủ.
Việc ghi nhận trường hợp khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu trong BLHS các nước trước hết là đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân
cho những chủ thể phạm tội. Đúng như quan điểm của GS. TSKH. Lê Văn Cảm:
Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự là sự ghi nhận (điều
chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và
sự bảo đảm tối đa về mặt tư pháp các quy định của pháp luật hình sự, được
tuân thủ, được chấp nhận và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất
và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong thực tiễn điều
tra, truy tố và xét xử, đồng thời góp phần tạo nên lịng tin của cơng dân
vào sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng của
pháp luật, sức mạnh và uy tín của bộ máy cơng quyền, tính nhân đạo và
dân chủ của xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền nói chung [6, tr. 13].
Việc ghi nhận trường hợp này còn đồng thời thể hiện sự khoan hồng cùa
Nhà nước đối với người phạm tội, khuyến khích họ tự giác cải tạo giáo dục bản
13
thân, sửa chữa những sai lâm đê trở thành con người lương thiện, tránh xa con
đường tiếp tục phạm tội.
Mặt khác, về phía các cơ quan tư pháp hỉnh sự, quy định này còn đặt ra trách
nhiệm to lớn cho các cơ quan này trong việc khẩn trương truy tỉm, phát hiện, xử lý
tội phạm, người phạm tội một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác, khơng bỏ lọt
tội phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội, nâng cao hiệu quả cơng tác đấu
tranh phịng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó, đây cũng là một giải pháp gờ khó cho các
cơ quan tố tụng khi giải quyết những vụ việc mà hành vi phạm tội xảy ra đã quá lâu,
việc truy tỉm chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng và người bị hại gặp nhiều khó
khăn. Việc khơng truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này sẽ góp phần
tiết kiệm cơng sức, thời gian của các cơ quan tư pháp hình sự để tập trung giải quyết
những yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm đang đặt ra, tiết kiệm được chi phí
cho xã hội và Nhà nước.
1.2. Khái niệm, nội hàm và bản chất pháp lý của phạm trù khơng truy
cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu
•
•
•
1.2.1. Khái niệm và nội hàm của phạm trù khơng truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu
Khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu là một trong những biện
pháp tha miễn mang tính nhân đạo sâu sắc trong luật hình sự Việt Nam, có quan hệ
chặt chẽ và gắn liền với chế định trách nhiệm hình sự. Đây là một phạm trù không
quá xa lạ trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự và cũng được nhắc đến trong
một số giáo trình đào tạo luật hình sự tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một giáo trình
hay cơng trình nghiến cứu nào đưa ra khái niệm pháp lý hoàn chỉnh cùa nó. Đẻ xây
dựng được khái niệm của phạm trù “khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu ” thì chúng ta sẽ xuất phát từ việc tìm hiểu các khái niệm liên quan như trách
nhiệm
• hình sự,
• ' truyJ cứu trách nhiệm
• hình sự• và thời hiệu
• truy cứu trách nhiệm
• hình
sự, từ đó phân tích làm rõ các nội dung như bản chất pháp lý của nó là gì; hình thức
thể hiện cùa nó như thế nào; cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền áp dụng; đối
tượng áp dụng là ai và phải đáp ứng căn cứ pháp lý và nhừng điều kiện cụ thể
nào...sau đó khái quát, đưa ra khái niệm cần xây dựng.
14
Trước hêt, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bât lợi mà chủ thê thực
hiện tội phạm phải gánh chịu trước Nhà nước, thề hiện bằng hình phạt hoặc các biện
pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hỉnh sự quy định áp dụng với chủ thể phạm
tội. Một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi chủ thể đó có đầy đủ cơ sở và
những điều kiện của trách nhiệm hình sự về một tội phạm. Dưới góc độ khoa học
luật hình sự, GS.TSKH. Lê Văn Cảm đã đưa ra định nghĩa của cơ sở và điều kiện
của trách nhiệm hình sự như sau:
Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội
• mà luật
• hình sự• quy
1 J định là tội ±phạm
• và Điều kiện
• của trách nhiệm
•
hình sự là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự
quy định mà chỉ khi nào có tống họp tất cả chúng (các căn cứ riêng đó)
thì chủ thể mới phải chịu trách nhiệm hình sự [9, tr. 535, 5381.
Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp mặc dù có đầy đủ cơ sở và
những điều kiện của trách nhiệm hình sự nhưng khi có căn cứ và những điều kiện
nhất định thì chủ thề phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc khơng bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Đe
xác định một chủ thề có phải chịu trách nhiệm hình sự hay khơng càn phải thơng
qua hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây cũng là phạm trù tố tụng - pháp lý
hình sự mà chúng ta cần phải làm rõ về mặt khái niệm trước khi làm rõ khái niệm
không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì:
Truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động của Nhà nước thông qua các
cơ quan của mình để buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự
về hành vi phạm
đã thực hiện. Thuộc
1 • tội
• mà họ•••
• về truy
J cứu trách nhiệm
•
hình sự là những hoạt động khởi tố, truy tố, xét xử và cưỡng chế thi hành
biện pháp của trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [39, tr. 128].
Còn theo GS. TSKH. Lê Văn Cảm thì:
Truy cứu trách nhiệm hình sự là một q trình nhận thức lý luận có tính
logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật
15
hình sự cũng như pháp luật tơ tụng hỉnh sự và được tiên hành băng việc
ra một
trách nhiệm
• văn bản để xác định
• sự• thật
• khách quan
1
• hình sự• cùa
người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (mà tuy về mặt hình
thức có dấu hiệu của hành vi nào đó bị luật hỉnh sự cấm) - tức là giải
quyết một cách cơng minh, có căn cứ và đúng pháp luật vấn đề trách
nhiệm hình sự của người phạm tội [9, tr. 590J.
Hai khái niệm trên đều chỉ rõ được những đặc điểm, nội hàm cơ bản của
phạm trù “Truy cứu trảch nhiệm hình sự” nhưng theo quan điểm của cá nhân học
viên thì có thế hiều phạm trù này như sau: “Truy cứu trách nhiệm hình sự là một
q trình nhận thức lỷ luận có tỉnh logic, thể hiện qua các hoạt động do các cơ
quan tư phảp hình sự có thảm quyền thực hiện nhằm xác định sự thật khách quan
của vụ án và làm rõ trách nhiệm hình sự của chủ thê phạm tội một cách cơng minh,
có căn cứ và đúng pháp luật”.
Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chỉ được truy cứu trong thời hạn
luật định tính từ ngày tội phạm được thực hiện (hoặc kết thúc) và thời hạn đó được
gọi là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây chính là cơ chế đảm bảo đế hoạt
động truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan tư pháp có thẩm quyền thực sự
hiệu quả, mang lại giá trị cho cơng cuộc đấu tranh, phịng ngừa tội phạm. Nếu như
các cơ quan tư pháp hình sự khơng thể hồn thành cơng việc cùa mình trong khoảng
thời gian luật định (cùng với sự xuất hiện cùa các điều kiện khác nữa trong quy định
của BLHS) thì chủ thể phạm tội sẽ khơng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đó chính
là trường họp “khơng truy cứu trách nhiêm hình sự do hết thời hiệu ” mà chúng ta
đang nghiên cứu.
Từ các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể suy ra được một số đặc điểm nội
hàm cơ bản của phạm trù “Khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu”
như sau:
1) Nếu như việc truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động của các cơ quan
tư pháp hỉnh sự có thấm quyền thi việc khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết
thời hiệu đối với chủ thể phạm tội cũng phải do cơ quan tư pháp hình sự có thấm
16
quyên áp dụng trong từng giai đoạn tô tụng khác nhau. Đôi tượng áp dụng quy định
“Không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu ” cũng phải là chủ thể mà
hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể, bao gồm cả
cá nhân và pháp nhân thương mại. Nói cách khác, chúng ta không thể áp dụng quy
định về “không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu ” đối với chủ thể
khơng có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm cụ thế
trong luật hình sự.
2) về nguyên tắc, mọi chủ thể phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hỉnh sự
nhưng trong trường hợp “khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu ”, do
chủ thể phạm tội đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định nên đã được
Nhà nước cho hưởng sự khoan hồng hơn so với những chủ thể phạm tội khác. Đây
rõ ràng là một trong những những biện pháp tha miễn thể hiện rõ nét nguyên tắc
nhân đạo trong pháp luật hình sự.
3) Nếu việc truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm mục đích làm rõ trách nhiệm
hình sự của chủ thể thi việc khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu sẽ
làm chấm dứt hoạt động này, đồng nghĩa với việc chủ thế phạm tội sẽ được xóa bỏ
hậu quả pháp lý hình sự của việc thực hiện hành vi phạm tội, khơng phải chịu trách
nhiệm hình sự hay bất cứ hậu quả pháp lý hình sự nào như hình phạt hay các biện
pháp cưỡng chế hình sự, do đó đương nhiên sẽ khơng bị coi là có án tích ... Theo
tác giả Chu Thị Trang Vân, việc người phạm tội mặc dù đã có tội nhưng Nhà nước
khơng đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự với họ nữa do hết thời hiệu truy cứu được
coi là một trong những trường họp, cơ sờ để không xử lý hình sự người phạm tội.
Khái qt mơ hình lý luận của phạm trù này, tác giả Chu Thị Trang Vân cho rằng:
Khơng xử lý hình sự là việc khơng được áp dụng pháp luật hình sự hoặc
khơng được căn cứ vào pháp luật hình sự để định đoạt tư cách của chủ
thể khi khơng có đủ các cơ sở pháp lý và thực tiễn theo quy định pháp
luật. Không xử lý hình sự cịn là việc chấm dứt một phần hay toàn bộ
việc áp dụng pháp luật hỉnh sự cũng như quá trình áp dụng pháp luật
hình sự đã hoặc đang làm thay đổi cấu trúc quyền và nghĩa vụ của chủ
thể [46, tr. 71 -72].
17
Như vậy, khi có căn cứ áp dụng trường hợp khơng truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu đối với chủ thể phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng phải
chấm dứt ngay quá trinh áp dụng pháp luật hinh sự đã và đang làm thay đổi cấu trúc
quyền và nghĩa vụ của chủ thế như đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo hay việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú...
cũng đều bị hủy bổ.
4) Đe khơng bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu thì chủ thể
phạm tội phải đáp ứng các điều kiện: ỉ) Đã qua thời hạn nhất định mà pháp luật
hình sự quy định là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đó; 2)
Trong thời hạn đó, chủ thể phạm tội nhất thiết phải đáp ứng điều kiện: khơng cố
tình trốn tránh, không bị truy nã và không tiếp tục phạm tội mới mà mức cao nhất
của khung hình phạt do BLHS quy định đổi với tội mới này là trên 01 năm tù. Nếu
chủ thế đó tiếp tục phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt trên 01 năm
tù hoặc người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được tính lại từ ngày phạm tội mới hoặc ngày người
đó bị bắt hoặc ra đầu thú.
5) Việc áp dụng trường họp “Không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời
hiệu” phải thơng qua vàn bản do cơ quan tư pháp hình sự có thấm quyền ban hành
trong từng giai đoạn tố tụng nhất định. Do truy cứu trách nhiệm hình sự là một quá
trình nhận thức, áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự nên việc khơng truy
cứu trách nhiệm hình sự cũng có thể xuất hiện ngay trong quá trình truy cứu trách
nhiệm hình sự, trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. Cụ thể, nếu đang trong giai
đoạn khởi tố, điều tra mà có căn cứ đế khơng truy cứu trách nhiệm hình sự do hết
thời hiệu thì CQĐT ra quyết định khơng khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bở
quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chi
điều tra bị can. Nếu vụ án đang trong giai đoạn truy tố thì VKS ra quyết định đình
chỉ vụ án, đình chỉ bị can, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì TA ra quyết
định đình chỉ vụ án.
18