1
MỞ ĐẦU
Mọi người đều biết, “trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước Mác đã có khơng
ít cách tiếp cận khi nghiên cứu sự phát triển của xã hội. Xuất phát từ những nhận
thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân chia lịch sử tiến hóa
của xã hội theo những cách khác nhau. Chẳng hạn, nhà xã hội học Vicô ở Italia
(1668-1744) đã phân chia các thời kì phát triển của xã hội giống như phân chia các
giai đoạn của một đời người: thơ ấu, thanh niên, thành niên và tuổi già. Nhà triết
học duy tâm Hê-ghen (1770 -1831) phân chia lịch sử xã hội lồi người thành ba thời
kì chủ yếu: thời kì phương Đơng, thời kì cổ đại và thời kì Giécmani. Nhà xã hội chủ
nghĩa không tưởng Pháp Phuriê (1722-1837) chia lịch sử xã hội thành bốn giai
đoạn: giai đoạn mông muội, giai đoạn dã man, giai đoạn gia trưởng, giai đoạn văn
minh. Cịn nhà nhân chủng Mỹ Hangri Mcgăng (1818-1881) lại phân chia xã hội
thành ba thời đại: thời đại mông muội, thời đại dã man và thời đại văn minh” [1,
tr.110].
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lí luận và tổng kết quá trình lịch sử đã
hình thành nên học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội là
“một khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn
lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với
một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tầng tương
ứng được xây dựng trên những mối quan hệ sản xuất. Học thuyết hình thái kinh tế xã hội đã chỉ ra tính tấy yếu con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vị thế
giới, trong đó có Việt Nam với những tính đặc thù riêng” [1, tr.45]. Do đó, nghiên
cứu vấn đề “Q trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội và sự vận dụng ở Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
2
NỘI DUNG
I. QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỰ NHIÊN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC
HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. Biện chứng giữa lực lượng sẳn xuất và quan hê sản xuất, cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng - cơ sở lý luận quan trọng của học thuyết hình
thái kinh tế - xã hội
* Biện chứng giữa lực lượng sẳn xuất và quan hê sản xuất
Xã hội loài người tồn tại và phát triển được là “nhờ sản xuất vật chất. Lịch
sử loài người trước hết là lịch sử phát triển của sản xùất vật chất, lâ lịch sử của
các phương thức sản xuất kế tiếp nhau trong các giai đoạn phát triển của xã hội.
Nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta hiểu được quỵ luật chung nhất của sự
phát triển lịch sử”.
Theo Ph.Ăngghen: “Giống như Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của
thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, cái sự
thật đơn giản mà đã bị những tầng tầng lớp lớp tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay
là: con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã, rồi mới có thể làm
chính trị, khoa học, nghệ thuật, tơn giáo; vì vậy, việc sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của
một dân tộc hay một thời đại, tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các
thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cà những
quan điểm tơn giáo của con người ta, cho nên, phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải
thích những cái này, chứ không phải ngược lại, như từ trước đến nay người ta đã
làm. Để có cái ăn, mặc, ở thì con người buộc phải tiến hành lao động, đặc biệt là
lao động sản xuất ra của cải vật chất. Muốn sản xuất ra của cải vật chất, một mặt,
con người phải kết hợp với tư liệu sản xuất, dùng công cụ lao động, bằng sức lực
của mình tác động vào đối tượng lao động nhàm cải tạo, biến đổi giới tự nhiên
phục vụ cuộc sống của con người; sự kết hợp đó tạo nên lực lượng sản xuất; mặt
khác, con người phải kết hợp với nhau, bởi lẽ, riêng lẻ từng cá nhân thì khơng thể
sản xuất được, khơng chinh phục, cải tạo được giới tự nhiên; và sự kết hợp thứ hai
này hình thành nên quan hệ sản xuất” [2, tr.567].
3
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có “mối liên hệ mật thiết, khăng khít
với nhau, khơng tách rời nhau và thống nhất với nhau trong phương thức sản xuất.
Phương thức sản xuất là cách thức con người sản xuất vật chất ở những giai đoạn
lịch sử nhất định. C.Mác cho rằng, những thời đại kinh tế khác nhau khơng phải ở
chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xụất bằng cách nào, với những
tư liệu lao động nào. Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư
liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động nhằm tạo ra sức sản xuất vật chất nhất
định. Lực lượng sản xuất biểủ thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, nó thể
hiện năng lực của con người trong việc chinh phục giới tự nhiên” [1, tr.176].
Tư tưởng cơ bản về quan hệ sản xuất, lần đầu tiên đưực C.Mác trình bày
trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, khi phân tích mối quan hệ giữa con người
với sản phẩm lao động: “vật thể, với tư cách là sự tồn tại vì con người, với tư cách
là sự tồn tại hiện có của con người vì người khác, là quan hệ người của anh ta đổi
với người khác, là quan hệ xã hội cửa người đổi với người”. Trong cuốn “Hệ tư
tưởng Đức, khái niệm quan hệ sản xuất đã hình thành về căn bản. Từ trong vơ vàn
các mối quan hệ xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra mối quan hệ vật chất. Sau
đó, từ trong quan hệ vật chất, các ông đã chỉ ra mối quan hệ giao tiểp. Mối quan hệ
giao tiếp đó trong hình thức sở hữu nhất định, tạo thành hỉnh thức giao tiếp, tức cái
mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từ trước đến nay đều được quyết định bởi lực
lượng sản xuất và đến lượt nó lại quyết định lực lượng sản xuất, - là xã hội công
nhân. Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật
chất, là một mặt của phương thức sản xuất” [1, tr.177].
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất “liên hệ mật thiết với nhau, không
tách rời nhau thể hiện ở chỗ, mọi lực lượng sản xuất (người sản xuất, công cụ sản
xuất, đối tượng sản xuất, phương tiện sản xuất) đều được gắn kết bởi những quan hệ
nhất định nào đó của quan hệ sản xuất (đều nằm trong một tổ chức sản xuất, dưới sự
quản lý của một đơn vị sản xuất nào đó); ngược lại, mọi quan hệ sản xuất đều là
những quan hệ nhất định của một lực lượng sản xuất nào đó, nó phải chứa đựng một
nội dung nào đó” [1, tr.178].
Lực lượng sản xuất, suy cho cùng, quyết định quan hệ sản xuất. Điều này
được thể hiện trên những khía cạnh sau:
4
“Lực lượng sản xuất thay đổi, sớm muộn cũng kéo theo sự thay đổi của quan
hệ sản xuất. Mức độ chỉnh phục của con người đối với giới tự nhiên (rộng hay hẹp,
ít hay nhiều) quy định mức độ quan hệ giữa con người với con người (rộng hay hẹp,
ít hay nhiều). Quan hệ giữa con người với con người trong thời đại sản xuất thủ
công khác quan hệ giữa con người với con người trong thời đại sản xuất tự động
hóa. Nói cách khác, thời đại kinh tế khác nhau thì quan hệ giữa con người với con
người trong sản xuất vật chất cũng khác nhau” ” [1, tr.180].
Tư liệu sản xuất, đặc biệt là “công cụ lao động, quy định cách thức tổ chức
quản lý sản xuất, quy mơ sản xuất. Quan hệ sản xuất có tinh độc lập tương đối và
tác động trở lại lực lượngsản xuất. Điều đó được biểu hiện như sau: Tính độc lập
tương đối của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ quan hệ sản xuất có thể khơng thay đổi
cùng với sự thay đổi của lực lượng sản xuất. Thông thường quan hệ sản xuất thay đổi
chậm hơn so với sự thay đổi của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quy định mục
đích xã hội của nền sản xuất, qua đó nó tác động đến thái độ, tính tích cực của
người lao động - tức là tác động tới lực lượng sân xuất. Quan hệ sản xuất có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất có
thể tạo địa bàn cho việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, mở rộng quy
mô, thay đổi tốc độ, hiệu quả, xu hướng, nhịp điệu của sản xuất, khiến cho lực
lượng sản xuất phát triển” [15, tr.80].
Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
C.Mác rút ra quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất như sau: “Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biên đổi
và phát triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của
lực lượng sản xuất mà trước hết là công cụ lao động. Sự biến đổi của cơng cụ lao
động làm thay đổi trình độ của lực lượng sản xuất, qua đó làm thay đổi quan hệ của
con người với con người trong sản xuất, tức là làm thay đổi quan hệ sản xuất. Sự phát
triển của lực lượng sản xuất đến trình độ nào đó, nhất định làm cho quan hệ sản xuất
trở nên khơng phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nữa. Khi ấy, xuất hiện mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Trong xã hội có giai ấp, mâu
thuẫn này tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội
nhằm phá bỏ xiềng xích trói buộc lực lượng sản xuất để xác lập quan hệ sản xuất mới
5
phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất
mới phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là dẫn đến sự diệt vong của phương thức sản
xuất lỗi thời và ra đời một phương thức sản xuất mới” [8, tr.145].
Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất thể hiện ở những điểm sau: “Quan hệ sản xuất lạc hậu so với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất như đã phân tích ở trên. Sự khơng phù hợp thể
hiện ở hình thức sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm
khơng theo kịp trình độ phát triển của lực lượng sận xuất. Quan hệ sản xuất phát
triển khơng đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Ví dụ như ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, quan hệ sản xuất đã
vượt trước một cách giả tạo, khơng phù họp với trình độ thấp kém và không đồng
đều của lực lượng sản xuất nên đã cản trở lực lượng sản xuất phát triển” [8, tr.146].
Tiêu chí đánh giá sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng
sản xuất là “năng suất lao động, tính tích cực xã hội của người lao động, mức sống
nhân dân, tỷ lệ lạm phát, mơi trường làm việc, tình trạng đình cơng. Nếu những yếu
tố đó tốt, chứng tỏ quan hệ sản xuất đang phù hợp và thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Những yếu tố đó tiêu cực, hạn chế chứng tỏ quan hệ sản xuất đang kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất” [8, tr.147].
“Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất mang tính khách quan, nhưng việc nhận thức và vận dụng nó lại phụ thuộc vào
nhân tố chủ quan của con người. Khi con người nhận thức và hành động đúng quy
luật thì sẽ thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, khi con người nhận thức và hành
động khơng đúng quy luật thì sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất, nhưng sự kìm
hãm này chỉ mang tính nhất thời, theo tính tất yếu khách quan, quy luật sẽ vạch
đường đi cho bản thân nó. Nó buộc con người phải quay lại nhận thức và hành động
cho đúng quy luật khách quan” [13, tr.105].
* Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là “tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế
của một xã hội nhất định. Nó bao gồm quan hệ sản xuất tàn dư; quan hệ sản xuất
thống trị và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Ví dụ, trong cơ sở hạ
tầng của xã hội tư bản có quan hệ sản xuất tàn dư (quan hệ sản xuất phong kiến);
6
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (thong trị trong xã hộỉ) và quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa (mầm mong của xã hội tương lai). Đặc trưng của cơ sở hạ tầng của một xã
hội là do quan hệ sản xuất thống trị quy định, chỉ phối cấc quan hệ sản xuất khác. Tuy
nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư và mầm mống cũng có vai trị quan trọng. Ở các quốc
gia đã phát triển, quan hệ sản xuất thống trị giữ vị trí chi phối trong cơ sở hạ tầng.
Còn ở những quốc gia đang bong giai đoạn chuyển đổi mơ hình xã hội thì quan hệ
sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống lại giữ vai trò quan trọng” [8, tr.150].
Kiến trúc thượng tầng là “tồn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết
học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, cùng với những thiết chế tương ứng như nhà
nước, đảng phái, giáo hội, các đồn thể xã hội được hình thành trên một cơ sở hạ
tầng nhất định. Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tâng cũng mang tính giai
cấp, ttong đó, nhà nước giữ vai trị đặc biệt quan trọng. Vì nhà nước là cơng cụ
quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế” [8, tr.151]. V.LLênin cho rằng, vấn đề
chính quyền nhất định là vấn đề quan trọng nhất của mọi cuộc cách mạng.
“Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời
nhau, bởi lẽ cơ sở hạ tàng bao giờ cũng là cơ sở hạ tầng của một kiến trúc thượng tầng
nhất định; ngược lại, kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng là kiến trúc thượng tầng được
xây dựng trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Cơ sở hạ tầng, suy cho cùng, quyết định kiến
trúc thượng tầng” [8, tr.153]. Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, “cơ sở hạ tầng sinh ra kiên trúc thượng tầng. Quan hệ sản xuất,
quan hệ kỉnh tế suy cho cùng quyết định quan hệ chính trị, pháp quyền, tư tưởng;
mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quy định mâu thuẫn trong lĩnh vực
tư tưởng. Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiên trúc thượng tầng thể hiện
ở chỗ, sự xuất hiện của nhà nước, pháp luật đêu gắn liền với sự xuất hiện của chế độ
tư hữu và sự phân chia thành giai cấp đối kháng. Pháp luật ra đời là công cụ của giai
cấp thống trị để bảo vệ cơ sở kinh tế và trật tự xã hội đo giai cấp đó đặt ra. Sự tiêu
vong của nhà nước, pháp luật cũng gắn liền với sự tiêu vong của chế độ tư hữu và
của giai cấp. Sự biến đổi của những quan điểm chính trị, tư tưởng cũng vậy. Mọi
quan điểm chính trị, tư tưởng đều có nguồn gốc từ nguyên nhân của sự thay đổi chế
độ kinh tế” [13, tr.201].
7
Thứ hai, “cơ sở hạ tầng quy định tính chất của kiến trúc thượng tầng; giai
cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế, giai cấp đó chiếm địa vị thống trị trong
kiến trúc thượng tầng. Cho nên, kiến trúc thượng tầng là công cụ để bảo vệ cơ sở
hạ tầng. Mọi biến đổi của kiến trúc thượng tầng đều do kinh tế quyết định. Các bộ
phận của kiến trúc thượng tầng đều biến đổi do ảnh hưởng quyết định của cơ sở hạ
tầng” [13, tr.202].
Thứ ba, cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm muộn kiến trúc thượng tầng cũng phải
biến đổi theo. C.Mác cho rằng: “cơ sở kinh tế thay đổi thì tồn bộ kiến trúc thượng
tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Ơng cịn cho rằng, khơng thể lấy
bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy
cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần con người để giải thích những quan hệ
và hỉnh thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó đều bắt
nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất. Nếu không thể nhận định về một người
căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì chúng ta cũng khơng thể
nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại đó. Trái
lại, phải giải thích ý thức ấy (với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng)
băng những mâu thuẫn của đời sông vật chất, bằng sự xung đột hiện cồ giữa các lực
lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” [3, tr.419]. Đây chính là
quan điểm duy vật triệt để của C.Mác.
Nguyên nhân sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và do đó của kiến trúc thượng
tầng xét đến cùng là “do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, sự phát
triển của lực lượng sản xuất không trực tiếp dẫn đến sự biến đổi của kiến trúc
thượng tầng, mà nỏ chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và đến lượt nó,
sự biến đổi của cơ sở hạ tầng lại làm cho kiến trúc thượng tầng biến đổi. Trong xã
hội có giai cấp đối kháng, sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
diễn ra thông qua cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp thống trị và giai
cấp bị trị. Trong cuộc đấu tranh ấy, không phải cứ cơ sở hạ tầng mới xuất hiện thì
tồn bộ kiến trúc thượng tầng cũ mất đi ngay tức khắc. Trong cuộc đấu tranh giữa
cái cũ và cái mới, những tàn dư của cái cũ còn tồn tại khá lâu dài. Mặt khác, có một
số yếu tố của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp mới duy trì,
cải tạo phục vụ cho cơng cuộc xây dựng xã hội mới. Ví dụ, khi giai cấp công nhân
8
xây dựng xã hội mới có thể kế thừa, tiếp thu những nhân tố hợp lý của kiến trúc
thượng tầng cũ phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới” [9, tr.87].
Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ sở hạ
tầng. Biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, “tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng thể hiện ở chỗ
nó có đời sống riêng, có quy luật vận động riêng; nó có thể thay đổi nhanh, chậm,
hoặc đi song hành với cơ sở hạ tầng, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm
hơn so với cơ sở hạ tầng”.
Thứ hai, “các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều có khả năng gây ra những
biến động khơng nhỏ đối với cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức, theo những cơ
chế, khuynh hướng (tích cực, tiêu cực) khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng, một nhân
tố lịch sử một khi được những nhân tố khác, xét đến cùng là nguyên nhân kinh tế,
làm nảy sinh ra thì nhân tố lịch sử đó cũng có thể tác động trở lại đến mơi trường
của nó, và thậm chí đến những ngun nhân đã tạo ra nó” [16, tr.60].
Thứ ba, “các yếu tố của kiến trúc thượng tầng không phải lúc nào cũng
tácđộng theo một hướng, nhưng với chức năng bảo vệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện
có, nhà nước giữ vai trị đặc biệt quan trọng; nó chi phối và trong nhiều trường hợp,
quyết định khả năng tác động của các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng đến
toàn bộ đời sống xã hội và đến cơ sở hạ tầng. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang tiếp
tục tìm cách điều chỉnh bằng một loạt chính sách kinh tế, nhằm làm dịu những mâu
thuẫn xã hội, thích nghi với điều kiện mới. Nhưng, những điều chỉnh đó chưa thể
vượt qua được khn khổ của chủ nghĩa tư bản. Nó khơng thể xóa bỏ được những
mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản. Nhưng so với trước, có thể nhiều mâu thuẫn
xã hội đã dịu đi, nhưng xuất hiện mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với nhau,
sự cạnh tranh giữa những tổ chức độc quyền ngày càng gay gắt” [16, tr.60].
“Hạt nhân của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính
là mối liên hệ giữa kinh tế và chính trị. Ngày nay, nhờ có đường lối chính trị đúng
đắn với chủ trương kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính
trị, lấy đểi mới kinh tế làm họng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kỉnh tế
tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế
9
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, đời sống nhân dân được cải
thiện rỡ rệt, hệ thống chính trị và khối đại đồn kết tồn dân tộc được củng cố và
tăng cường, chính trị xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được giữ vững, vị thé
nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao, sức mạnh tổng họp của quốc gia
ngày càng tăng thêm, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển
vọng tốt đẹp. Nhưng cần chú ý rằng, chính trị đúng đắn phải có bước đi, lộ trình
thực hiện thích hợp để hiện thực hóa các mối quan hệ trong đời sống xã hội. Xét
đến cùng, chính trị vẫn do kinh tế quyết định” [16, tr.60].
1.2. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác đã tìm được công cụ
nhận thức vĩ đại các vấn đề phức tạp nhất là xã hội loài người trên cơ sở phương
pháp luận khoa học, khi đánh giá về vấn đề này, V.I. Lênin chỉ ra “thành tựu vĩ đại
nhất của tư tưởng khoa học, trong đó cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
Giai cấp tư bản khơng thể chấp nhận được học thuyết này vì trong đó đã luận chứng
một cách khoa học chặt chẽ chế độ tư bản sẽ bị thay thế bằng chế độ cộng sản chủ
nghĩa theo quy luật chung của tiến hóa xã hội, mà chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Mác đã tìm ra. Bằng sự nghiêm túc khoa học, chúng ta thấy rằng cho đến nay chưa
có học thuyết nào về tiến hóa xã hội có thể thay thế được học thuyết Mác về hình
thái kinh tế - xã hội. Học thuyết này đem đến cho chúng ta cơ sở phương pháp luận
để nhận thức quy luật phát triển xã hội và một niềm tin khoa học vào lý tưởng cộng
sản chủ nghĩa” [10, tr.517]. Như vậy, C. Mác đã nhìn nhận học thuyết hình thái kinh
tế - xã hội là một quy luật nội tại phát triển của xã hội.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể quan niệm “Hình thái kinh tế - xã hội là một
phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử
nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một
trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương
ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy” [8, tr.190].
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của xã hội loài người xuất
phát từ quan niệm, góc độ tiếp cận khác nhau, những nhận thức khác nhau mà có sự
phân chia lịch sử tiến hóa của xã hội theo những cách khác nhau. “Triết gia duy tâm
Hêghen (1770-1831) phân kì lịch sử xã hội lồi người thành ba thời kì chủ yếu:
10
Thời kì Phương Đơng, thời kì cổ đại và thời kì Grecmani. Nhà xã hội khơng tưởng
của Pháp là Phuriê (1772-1831) chia lịch sử xã hội thành bốn giai doạn” [1, tr.145].
Tuy nhiên, “Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng thể quá trình
lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật để
nghiên cứu lịch sử xã hội, đưa ra quan điểm duy vật về lịch sử và hình thành nên
học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với tư
cách là Hòn đá tảng của xã hội học Mácxít nói chung cho phép chúng ta hình dung
q trình phát triển của lịch sử là quá trình lịch sử tự nhiên. Lồi người đã trải qua
năm hình thái kinh tế - xã hội theo thứ tự hình thái kinhtế-xã hội cộng sản nguyên
thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Hình thái kinh tế - xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời và diệt
vong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay thế nó. Đó
là khi phương thức sản xuất cũ đã trở nên lỗi thời, khủng hoảng do mâu thuẫn của
quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất” [14, tr.89].
Các yếu tố cấu thành nên hình thái kinh tế - xã hội bao gồm lực lượng snar
xuất và quan hệ sản xuất. “Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kĩ thuật của mỗi
hình thài kinh tế - xã hội. Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế, xét
cho cùng do lực lượng sản xuất quyết định. Lực lượng sản xuất qua các hình thái
kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp lên cao. Quan hệ sản xuất, quan hệ giữa người
với người trong quá trình sản xuất - là những quan hệ cơ bản ban đầu và quyết định
tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội lại có một kiểu quan
hệ sản xuất của nó tương ứng với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất là một tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với
xã hội khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của của lịch
sử” [14, tr.90].
Xung quanh học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác có nhiều
quan điểm xuyên tạc, cắt xén nội dung học thuyết để phủ nhận học thuyết. Các quan
điểm đó được thể hiện: “Quan điểm quy lý luận của Mác thành quyết định luật kinh
tế với nghĩa coi kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định sự vận động và phát triển của
xã hội. Điều này đã bị chính Ăngghen bác bỏ - dùng chính lý luận hình thái kinh tế xã hội để bác bỏ sự ra đời của các nước xã hội chủ nghĩa, cho rằng nó trái với quá
11
trình lịch sử - tự nhiên rằng cách mạng tháng Mười đẻ non do chỗ dựa chưa có tất
yếu kinh tế cứ để qua chế độ tư bản chủ nghĩa rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội rồi chủ
nghĩa cộng sản theo đúng quy luật” [11, tr.790].
Bảo vệ lý luận của C. Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin “bác bỏ các quan
điểm này, song đến nay vẫn tồn tại, kể cả biến thể của nó là loại quan điểm cho rằng
chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do hệ tư tưởng
Mác - Lênin sai trong đó có lý luận hình thái kinh tế - xã hội. Đối với nước ta những
năm gần đây cũng có một số ý kiến tương tự, cho rằng ta chưa có tất yếu kinh tế để
lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa và để bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Bác bỏ
gián tiếp: Loại quan điểm này thể hiện dưới dạng: Chứng minh chủ nghĩa xã hội
khơng có tương lai, tất yếu bị diệt vong. Chủ nghĩa tư bản là nấc thang cao nhất của
lịch sử xã hội, nó tồn tại vĩnh viễn. Muốn thay thế học thuyết hình thái kinh tế xã hội
bằng học thuyết khác. Điển hình cho loại quan điểm này là tiếp cận theo nền văn
minh. Xã hội phát triển từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp và
văn minh hậu công nghiệp. Sai lầm căn bản của cách tiếp cận này là coi trình độ phát
triển khoa học, công nghệ, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định duy nhất bỏ qua
vai trò của quan hệ kinh tế, giai cấp, chế độ chính trị” [11, tr.791].
Từ nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác cho chúng ta
rút ra ý nghĩa đối với quá trình nhận thức và vận dụng như sau: “Học thuyết hình
thái kinh tế - xã hội vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển xã hội,
tìm ra nguyên nhân và cơ sở của sự xuất hiện và biến đổi những hiện tượng xã hội
đặt ra cơ sở lý luận cho khoa học và xã hội học nâng nó lên thành khoa học thực sự.
Chống lại quan điểm duy tâm về lịch sử, coi xã hội là sự kết hợp có tính chất máy
móc của nhiều cá nhân và gia đình, coi sự vận động và phát triển của xã hội là lý do
ý chí của những nhà cầm quyền chi phối, coi kỹ thuật là cái chung quyết định tính
chất chế độ xã hội, là tiêu chuẩn khách quan phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vũ trang cho chúng ta phương pháp khoa học
để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua các chế độ xã hội khác nhau, hiểu rõ cơ cấu
chung của hình thái kinh tế-xã hội và những quy luật phổ biến tác động, chi phối sự
vận động và phát triển của xã hội. Rõ ràng, học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã
hội là một thành tựu vĩ đại của khoa học xã hội, là một bước tiến khổng lồ trong lịch
12
sử tư tưởng nhân loại. Sự ra đời của học thuyết này là một cuộc cách mạng trong
toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội
đối lập với quan niệm trừu tượng, duy tâm về xã hội. Nó bác bỏ cách miêu tả xã hội
nói chung, một xã hội cấu thành chỉ bởi những con người tự nhiên sinh vật. Nó
đánh đổ hẳn quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp có tính máy móc, có thể biến
đổi tùy ý theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hóa một cách ngẫu nhiên”
[16, tr.92].
Hình thái kinh tế - xã hội là “phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản
xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và
một kiến trúc thượng tầng tương ứng, xây dựng trên các quan hệ xã hội đó. Phạm
trù hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra vai trò của các yếu tố cơ bản và mối quan hệ các
yếu tố đó bên trong của một kết cấu kinh tế - xã hội. Các yếu tố cơ bản được Mác
chỉ ra là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng” [8, tr.187].
Đối với lực lượng sản xuất, Mác quan niệm “trong quá trình sản xuất vật
chất, Mác xác định có mối quan hệ song trùng là con người và tự nhiên là lực lượng
sản xuất, còn quan hệ sản xuất là con người với con người. Lực lượng sản xuất đây
là một yếu tố xét cho đến cùng nó quyết đinh đến các yếu tố khác, đó chính là quan
hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng. Lực lượng sản xuất còn quyết định sự biến đổi
của các hình thái kinh tế - xã hội. Lực lượng sản xuất cịn nói lên trính độ kỹ thuật
của một hình thái kinh tế - xã hội, đồng thời nói lên tiêu chuẩn khach quan để phân
biệt sự khác nhau của của các thời đại kinh tế, kỹ thuật của một giai đoạn lịch sử”
[4, tr.190].
Khi tiếp thu tư tưởng của C.Mác, Lênin đã nhấn mạnh đặc điểm của phương
pháp duy vật trong nhận thức xã hội là ở chỗ “phương pháp địi hỏi phải gắn tồn
bộ sự phong phú của các quan hệ xã hội vào quan hệ sản xuát, đồng thời cần xem
xét những quan hệ sản xuất trong sự tương ứng của chúng với trình độ của những
lực lượng sản xuất để giải thích sự vận động của các hình thái xã hội. Hai mặt quan
hệ này thống nhất thành một phương thức sản xuất và hợp thành nền tảng vật chất
của mọi hình thái kinh tế - xã hội” [12, tr.189]. Lênin “đã đánh giá rất cao việc Mác
không dừng lại ở lý luận trừu tượng về xã hội, về quan hệ sản xuất nói chung mà đã
13
đi sâu nghiên cứu một hình thái kinh tế xã hội cụ thể là xã hội tư bản với những
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phức tạp. Mác xem quan hệ sản xuất nó chính là
cái sườn của mỗi hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử, khi đi vào nghiên cứu phân
tích một hình thái kinh tế - xã hội. Mác không dừng lại ở cái sườn đó mà Mác xem
trong sự tương ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng
tầng” [12, tr.351].
C. Mác đã thực hiện “một kiểu mẫu về sự phân tích khoa học theo phương
pháp duy vật, một hình thái xã hội và lại là một hình thái xã hội phức tạp nhất - một
kiểu mẫu đã được mọi người công nhận và không ai vượt nổi”. Như vậy “trong lý
luận hình thái kinh tế - xã hội C. Mác coi bên cạnh các quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn
khách quan để phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Mác còn vạch ra
mỗi quan hệ cơ bản để xác định diên mạo của một hình thái kinh tế - xã hội. Đó là
mỗi quan hệ biện chứng giữa cơ sơ hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Về kiến trúc
thượng tầng, nó chính là một bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội và nó có tác đơng
mạnh mẽ tới cả hai yếu tố trên. Mác và Ăngghen luôn nhấn mạnh đến kiến trúc
thượng tầng chính trị và pháp lý và xem đây là hai bộ phận quan trọng nhất của kiến
trúc thượng tầng. Về thực chất chính là nói đến vai trị của nhà nước” [13, tr.117].
Như vậy nếu vào năm 1859 Mác đã trình bày hết sức sáng tỏ cấu trúc của
hình thái kinh tế - xã hơi và cơ chế vận động của nó trong Lời tựa tác phẩm Góp
phần phê phán khoa kinh tế chính trị thì về sau, vào năm 1888, Ăngghen đã tóm tắt
lại một lần nữa quan niệm về hình thái kinh tế - xã hội của Mác và nhấn mạnh rằng
cái cơ sở để cắt nghĩa được lịch sử là cả phương thức sản xuất lẫn cơ cấu xã hội.
Ăngghen viết “trong mối thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế
và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định đã cấu thành cơ
sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại,
cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó, nớ cắt nghĩa được lịch sử đó” [5, tr.390].
Các yếu tố cấu thành của hình thái kinh tế - xã hội có “quan hệ biện chứng
với nhau và mối quan hệ giữa các yếu tố đó hợp thành hai quy luật cơ bản vận động
ở tất cả các hình thái kinh tế - xã hội. Đó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợ với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, và quy luật cơ sở hạ tầng
quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầng. Đây là hai quy luật chung nó tạo
14
động lực bên trong thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất. Sự phát triển của lực
lượng sản xuất là động lực xét đến cùng nó đưa đến sự thay thế các hình thái kinh tế
- xã hội trong lịch sử”.
1.3. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử
tự nhiên
Từ luận giải học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cho chúng ta cơ sở khẳng
định sự phát triển tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hơi. “Xã hội đã phát triển
trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển là một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội vận động và phát
triển do tác động của các quy luật khách quan, đó là q trình tự nhiên của sự phát
triển. Đó là sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch
sử tự nhiên, tức là muốn nói đến quy luật khách quan của lịch sử, quy luật đó được
coi là sự phát triển của quá trình sản xuất vật chất, xét đến cùng là do mâu thuẫn
bên trong giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, do tính tất yếu kinh tế quy
định. Các quy luật xã hội chính là hiện thân của các quy luật tự nhiên được con
người sử dụng nó để kiến tạo nên xã hội lồi người” [15, tr.50].
Tiến trình lịch sử lồi người là “quá trình phát triển biện chứng vừa bao hàm
sự phát triển đứt đoạn và liên tục. Trong quá trình sản xuất, con người có những
quan hệ với nhau, đó chính là quan hệ sản xuất. Những quan hệ sản xuất đó do trình
độ của lực lượng sản xuất quy định, đến lượt nó quan hệ sản xuất lại quy định các
quan hệ xã hội khác như: chính trị, luật pháp, đạo đức… Khi lực lượng sản xuất
phát triển đến một mức độ nào đó thì những thay đổi về chất mâu thuẫn gay gắt với
những quan hệ sản xuất có, dẫn đến đòi hỏi khách quan là thay đổi quan hệ sản xuất
cũ bằng quan hệ sản xuất mới thông qua cuộc cách mạng xã hội. Quan hệ sản xuất
thay đổi thì tồn bộ các quan hệ sản xuất khác cũng thay đổi. Như vậy, phương
thức sản xuất thay đổi, các quan hệ xã hội, chính trị, tinh thần thay đổi dẫn đến sự
thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội” [15, tr.51]. Chính vì thế, V.I.Lênin viết: “Chỉ
có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những
quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có thể
có được những cơ sơ vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã
hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” [10, tr.119].
15
Khi phân chia lịch sử xã hội loài người chúng ta thấy: “Quá trình tự nhiên
của sự phát triển lịch sử được chia ra thành những bậc thang lịch sử khác nhau, ứng
với một trình độ kinh tế, kỹ thuật nhất định trong từng phương thức sản xuất nhất
định. Thực tiễn đã cho thấy, loài người đã, đang và sẽ trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội theo thứ tự từ thấp đến cao. Đó chính là q trình tự nhiên của sự phát triển
lịch sử, thể hiện tính liên tục của lịch sử. Tuy nhiên, đối với mỗi nước cụ thể, do
những điều kiện khách quan và chủ quan riêng thì một nước nào đó, một dân tộc
nào đó có thể bỏ qua những chế độ xã hội nhất định. Sự khác nhau về trật tự phát
triển ở phạm vi tồn nhân loại vẫn là q trình lịch sử - tự nhiên, còn đối với từng
quốc gia, dân tộc cụ thể bỏ qua những nấc thang nhất định [15, tr.52]. V.I.Lênin
viết: “tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử tồn thế giới đã khơng loại
trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm hoặc
về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó” [10, tr.120].
Thực tế lịch sử của một số nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã
chứng minh tính đúng đắn, khoa học của hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về khả
năng “bỏ qua” một chế độ xã hội nhất định.
Từ việc nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chúng ta có thể rút ra
một số điểm có ý nghĩa phương pháp luận sau: “Việc vạch ra nguồn gốc, động lực
bên trong của sự phát triển xã hội, những nguyên nhân và cơ sở của sự xuất hiện,
biến đổi của các hiện tượng xã hội đã biến đổi xã hội học thành một khoa học thực
sự, khắc phục mọi quan điểm duy tâm về lịch sử. Từ đó có một cách nhìn đúng đắn,
thấy được vai trò thực sự của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, mối quan hệ
biện chứng giữa chúng và các mối quan hệ khác trong quá trình phát triển xã hội. Là
cơng cụ lý luận giúp chúng ta nhận thức những quy luật phổ biến đang tác động và
chi phối sự vận động của xã hội. Vũ trang cho chúng ta phương pháp khoa học để
nghiên cứu xã hội và chỉ đạo thực tiễn ở tầm vĩ mô và vi mô. Là cơ sở lý luận của
việc hoạch định các đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản. là cơ sở lý luận cho
việc triển khai đường lối, chính sách ở tầm quốc gia và mỗi địa phương nhằm thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giúp chúng ta
một cái nhìn biện chứng về sự phát triển liên tục của các hình thái kinh tế - xã hội,
của các giá trị văn hoá, khoa học , kĩ thuật và của chính bản thân thế hệ con người. Từ
16
đó giúp chúng ta khơng nóng vội chủ quan, khơng đốt cháy giai đoạn, biết kế thừa
những thành tựu chung của văn minh nhân loại” [15, tr.53].
II. SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM
2.1. Tính tất yếu khách quan và thực chất quá trình bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
2.2. Những vấn đề cần giải quyết hiện nay để thúc đẩy quá trình tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Ba (2017), Mơ hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi
của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 1976.
3. C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 1976.
4. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 1976.
5. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 1976.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng tồn tập, tập 11, Nxb Chính trị
quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2006.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
8. Hội đồng lý luận trung ương (2012), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
9. Nguyễn Thị Liên (2020), Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự
vận dụng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 181/2020.
10. V.I.Lênin, toàn tập, tập 20, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.
11. V.I.Lênin, toàn tập, tập 31, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.
12. V.I.Lênin, toàn tập, tập 32, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.
13. Nguyễn Gia Viễn, Tiến trình lịch sử của xã hội loại người từ góc độ
tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Nguyễn Hồng Vinh (2016), Đấu tranh chống sự xuyên tạc về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Lý luận Chính trị,
số 126/2016.
15. Nguyễn Kim Xuyến, “Quá trình tự nhiên của sự phát triển hình thái kinh
tế - xã hội và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
131/2018.
16. Trần Hùng Yên, “Bàn về học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của
C.Mác”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 74/2016.