Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

PHÂN TÍCH SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI - GIAI CẤP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (337.88 KB, 14 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------***-------

BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI - GIAI
CẤP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI. LIÊN HỆ
THỰC TIỄN VIỆT NAM

Họ và tên SV: LÝ THỊ KIM ĐỨC
Lớp tín chỉ: LLNL1107(122)_28
Mã SV:11217235
GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU

.
HÀ NỘI, NĂM 2022

1


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN.......................................................................................................4
1. Khái niệm cơ cấu XH- giai cấp............................................................................4
2. Xu hướng biến đổi của cơ cấu XH- giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH:4
II. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI GIAI - TẦNG TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.........................8
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................14

2



LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, trong thời gian qua cơ cấu và vị trí vai trị của các giai cấp, tầng lớp ở nước
ta ngày càng được khẳng định rõ hơn. Đặc biệt cùng với sự hình thành và phát triển
của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong quá trình đổi mới cơ cấu xã hội với
nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau cũng dần xuất hiện. Trong quá trình cải cách và
xây dựng đất nước mấy chục năm qua, đặc biệt là dấu mốc đổi mới lịch sử từ nghị
quyết đại hội VI (1986) do Đảng ta khởi xướng, xã hội nước ta đã có những chuyển
biến to lớn, có ý nghĩa lịch sử đặc biệt là trong kết cấu giai tầng xã hội. Các giai cấp,
tầng lớp với tư cách vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của công cuộc đổi mới đất nước,
đều là những bộ phận quan trọng của nhân dân Việt Nam. Song, trong sự chuyển động
kinh tế - xã hội của đất nước, các giai cấp, tầng lớp xã hội này cũng đã và đang có sự
chuyển dịch kết cấu trong nội bộ của mỗi giai cấp, tầng lớp cũng như trong sự tương
tác với các giai cấp, tầng lớp khác. Việc nghiên cứu “ Sự biến đổi của cơ cấu xã hộigiai cấp trong thời kì quá độ lên XHCN” là vô cùng cần thiết, điều này giúp chúng ta
có thể nhận định được rõ hơn vai trị ngày càng quan trọng của mỗi giai cấp, tầng lớp
trong xã hội Việt Nam.

3


I.CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm cơ cấu XH- giai cấp
- Cơ cấu xã hội là tất cả những cộng động người và toàn bộ các quan hệ xã hội do sự
tác động lẫn nhau của các cộng đồng ấy tạo nên. Bao gồm cơ cấu xã hội- giai cấp, cơ
cấu xã hội- dân số, cơ cấu xã hội- dân cư, cơ cấu xã hội- nghề nghiệp, cơ cấu XH- dân
tộc, cơ cấu XH- tơn giáo… dưới góc độ mơn học, chỉ tập trung đề cập cơ cấu XH- giai
cấp
- Cơ cấu XH- giai cấp là một cơ cấu bao gồm các giai cấp, các tầng lớp XH và những
mối quan hệ của chúng được hình thành dựa trên một số cơ cấu K tế nhất định
Trong một xã hội có giai cấp thì cơ cấu XH- giai cấp là bộ phận cơ bản, có vị trí quan
trọng quyết định nhất, chi phối các loại hình cơ cấu khác, vì những lý do sau:

+ Cơ cấu xã hội- giai cấp tồn tại nhằm bảo vệ lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội
+ Cơ cấu XH- giai cấp quy định tính chất và bản chất của các quan hệ khác về xã hội.
+ Cơ cấu XH- giai cấp cịn liên quan trực tiếp đến quyền lực chính trị
+ Cơ cấu XH- giai cấp còn là yếu tố đặc trưng cho sự khác nhau về chất giữa XH này
với XH khác
+ Xuất phát từ cơ cấu XH- giai cấp mà người ta xây dựng các chính sách phát triển
kinh tế- XH- văn hóa phù hợp với mỗi giai tầng
Như Lê nin nói Kết cấu xã hội và chính quyền có nhiều biến đổi, nếu khơng hiểu
những biến đổi này thì khơng thể tiến được một bước trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động
nào.
2. Xu hướng biến đổi của cơ cấu XH- giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH:
4


a,Xu thế chủ yếu
Trong thời kỳ quá độ và kể cả dưởi chủ nghĩa xã hội, mặc dù đã xóa bỏ được sự đối
kháng về giai cấp, bất bình đẳng về giai cấp, mang lại sư thay đổi về chất của các giai
cấp và tầng lớp nhân dân lao động so với xã hội trước đó, nhưng với nền kinh tế
hgangf hóa nhiều thành phần dưới sự quản lý của nhà nước XHCN nên vẫn còn tồn tại
sự khác nhau giữa giai cấp và tầng lớp xã hội về nhiều mặt. Song, sự khác nhau đó
ngày càng được rút ngắn, sự xích lại gần nhau ngày càng được gia tăng cùng với sự
phát triển KT- XH của đất nước. Xu hướng xích lại gần nhay được thể hiện ở 4 điểm
sau đây:
+ Sự xích lại gần nhảy từng bước giữa các giai cấp, tầng lớp về mối quan hệ với tư liệu
sản xuất. Xu hướng này thể hiện thông qua việc dần dần hoàn thiện quan hệ sản xuất
XHCN từ thấp đến cao. Với chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế, đa dạng
hóa chế độ sở hữu… tạo điều kiện chó các thành phần xã hội tồn tại bên cạnh nhau,
xích lại gần nhau, đan xen lẫn nhau để cùng phát triển
+ Sự xích lại gần nhau về tính chất lao động giữa các giai cấp, tầng lớp, xư hướng này

thể hiện thông qua việc phát triển cuộc CM về khoa học và công nghệ, áp dụng những
thành tuuw mới vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất, rút ngắn khoảng cách của
sự khác biệt giữa các lực lượng xã hội trong q trình lao động
+ Xích lại gần nhau về mối quan hệ phân phối tư liệu tiêu dùng  giữa các giai cấp và
tầng lớp. Xu hướng này diễn ra chủ yếu liên quan đến việc thực hiện ngày càng hoàn
thiện nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế,
+ Sự xích lại gần nhau về tiến bộ về đời sống tính thần giữa các giai cấp. Xu hướng
này thể hiện trực tiếp thông qua cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm
cho các giai cấp xích lại gần nhau.
b, Sự biến đổi có tính qui luật của cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội

5


Cơ cấu xã hội – giai cấp của thời kỳ q đợ lên chủ nghĩa xã hợi thường xun có
những biến đởi mang tính qui ḷt sau đây:
Một là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi gắn liền và bị quy định bởi cơ cấu kinh tế của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong một hệ thống sản xuất nhất định, cơ cấu xã hội – giai cấp thường xuyên biến đổi
do tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt là những thay đổi về phương thức sản xuất, về
cơ cấu ngành nghề, thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế, cơ chế kinh tế….
Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ
cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch
sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy…”.
Sau thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản, giai cấp cơng nhân cùng tồn thể các giai cấp, tầng lớp xã hợi, các nhóm xã hợi
bước vào thời kỳ q độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ mới, cơ cấu kinh tế – tất
yếu có những biến đởi và những thay đổi đó cũng tất yếu dẫn đến những thay đổi trong
cơ cấu xã hội theo hướng phục vụ thiết thực lợi ích của giai cấp cơng nhân và nhân

dân lao động do Đảng cộng sản lãnh đạo. Cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ tuy vận
đợng theo cơ chế thị trường, song có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Ở những nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp,
cơ cấu kinh tế sẽ có những biến đởi đa dạng: từ mợt cơ cấu kinh tế chủ yếu là nơng
nghiệp và cơng nghiệp cịn ở trình độ sơ khai chuyển sang cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp; chuyển từ cơ cấu
vùng lãnh thở cịn chưa định hình sang hình thành các vùng, các trung tâm kinh tế lớn;
chuyển từ cơ cấu lực lượng sản xuất hiện đại nhưng không cân đối, trình đợ cơng nghệ
nhìn chung cịn lạc hậu hoặc trung bình chuyển sang phát triển lực lượng sản xuất với
trình độ công nghệ cao, tiên tiến theo xu hướng ứng dụng những thành quả của cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức, kinh tế số, cách mạng công
nghiệp lần thứ tư…, từ đó hình thành những cơ cấu kinh tế mới hiện đại hơn, với trình
6


đợ xã hợi hóa cao và đờng bợ hài hịa hơn giữa các vùng, các khu vực, giữa nông thôn
và thành thị, đô thị… Quá trình biến đổi trong cơ cấu kinh tế đó tất yếu dẫn đến những
biến đổi trong cơ cấu xã hội – giai cấp, cả trong cơ cấu tổng thể cũng như những biến
đổi trong nội bợ từng giai cấp, tầng lớp xã hợi, nhóm xã hợi. Từ đó, vị trí, vai trị của
các giai cấp, tầng lớp, các nhóm xã hợi cũng thay đởi theo. Mặt khác, nền kinh tế thị
trường phát triển mạnh với tính cạnh tranh cao, cợng với xu thế hợi nhập ngày càng
sâu rộng khiến cho các giai cấp, tầng lớp xã hội cơ bản trong thời kỳ này trở nên năng
đợng, có khả năng thích ứng nhanh, chủ đợng sáng tạo trong lao động sản xuất để tạo
ra những sản phẩm có giá trị, hiệu quả cao và chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của thị
trường trong bối cảnh mới.
Xu hướng biến đổi này diễn ra rất khác nhau ở mỗi quốc gia khi bắt đầu thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội do bị qui định bởi những khác biệt về trình độ phát triển kinh tế,
về hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước.
Hai là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi phức tạp, đa dạng, làm xuất hiện các tầng lớp

xã hội mới.
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng, hình thái kinh tế – xã hợi cợng sản chủ nghĩa đã
được “thai nghén” từ trong lịng xã hợi tư bản chủ nghĩa, do vậy ở giai đoạn đầu của
nó vẫn cịn những “dấu vết của xã hợi cũ” được phản ánh “về mọi phương diện – kinh
tế, đạo đức, tinh thần”. Bên cạnh những dấu vết của xã hội cũ, xuất hiện những yếu tố
của xã hội mới do giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp trong xã hội bắt tay vào
tổ chức xây dựng, do vậy tất yếu sẽ diễn ra sự tồn tại “đan xen” giữa những yếu tố cũ
và yếu tố mới. Đây là vấn đề mang tính qui luật và được thể hiện rõ nét nhất trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hợi. Về mặt kinh tế, đó là cịn tờn tại kết cấu kinh tế nhiều
thành phần. Chính cái kết cấu kinh tế đa dạng, phức tạp này dẫn đến những biến đổi đa
dạng, phức tạp trong cơ cấu xã hợi – giai cấp mà biểu hiện của nó là trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội cịn tờn tại các giai cấp, tầng lớp xã hợi khác nhau. Ngồi giai
cấp cơng nhân, giai cấp nơng dân, tầng lớp trí thức, giai cấp tư sản (tuy đã bị đánh bại
nhưng vẫn còn sức mạnh – V.I.Lênin) đã xuất hiện sự tồn tại và phát triển của các tầng

7


lớp xã hội mới như: tầng lớp doanh nhân, tiểu chủ, tầng lớp những người giàu có và
trung lưu trong xã hội…
Ba là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi trong mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa liên
minh, từng bước xóa bỏ bất bình đẳng xã hợi dẫn đến sự xích lại gần nhau.
Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cơ cấu xã hội – giai cấp
biến đổi và phát triển trong mới quan hệ vừa có mâu th̃n, đấu tranh, vừa có mới quan
hệ liên minh với nhau, dẫn đến sự xích lại gần nhau giữa các giai cấp, tầng lớp cơ bản
trong xã hội, đặc biệt là giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức. Mức đợ liên minh, xích lại gần nhau giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội tùy
thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng giai đoạn của thời kỳ
quá độ. Tính đa dạng và tính độc lập tương đối của các giai cấp, tầng lớp sẽ diễn ra
việc hòa nhập, chủn đởi bợ phận giữa các nhóm xã hợi và có xu hướng tiến tới từng

bước xóa bỏ dần tình trạng bóc lợt giai cấp trong xã hợi, vươn tới những giá trị công
bằng, bình đẳng. Đây là một q trình lâu dài thơng qua những cải biến cách mạng
tồn diện của thời kỳ q đợ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là xu hướng tất yếu và là biện
chứng của sự vận động, phát triển cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
Trong cơ cấu xã hội – giai cấp ấy, giai cấp công nhân, lực lượng tiêu biểu cho phương
thức sản xuất mới giữ vai trò chủ đạo, tiên phong trong q trình cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Vai trị chủ đạo của giai
cấp cơng nhân cịn được thể hiện ở sự phát triển mối quan hệ liên minh giữa giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức ngày càng giữ vị trí nền tảng chính
trị – xã hợi, từ đó tạo nên sự thống nhất của cơ cấu xã hội – giai cấp trong suốt thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
II. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CƠ CẤU XÃ HỘI GIAI - TẦNG TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Sự biến đổi cơ cấu xã hợi – giai cấp vừa đảm bảo tính qui ḷt phở biến, vừa mang tính
đặc thù của xã hợi Việt Nam. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cơ
8


cấu xã hội – giai cấp cũng vận động, biến đổi theo đúng qui luật: đó là sự biến đổi của
cơ cấu xã hội – giai cấp bị chi phối bởi những biến đổi trong cơ cấu kinh tế. Từ Đại
hội VI (1986), dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam chuyển mạnh sang cơ chế thị
trường phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự chuyển đổi
trong cơ cấu kinh tế đã dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu xã hội – giai cấp với việc
hình thành mợt cơ cấu xã hợi – giai cấp đa dạng thay thế cho cơ cấu xã hội đơn giản
gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức của thời kỳ trước đởi mới.
Sự biến đổi phức tạp, đa dạng của cơ cấu xã hội – giai cấp Việt Nam diễn ra trong nội
bộ từng giai cấp, tầng lớp cơ bản của xã hợi; thậm chí có sự chủn hóa lẫn nhau giữa
các giai cấp, tầng lớp xã hội, đồng thời xuất hiện những tầng lớp xã hợi mới. Chính
những biến đởi mới này cũng là một trong những yếu tố có tác động trở lại làm cho

nền kinh tế đất nước phát triển trở nên năng động, đa dạng hơn và trở thành đợng lực
góp phần quan trọng vào sự nghiệp đởi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội.
*Giai cấp công nhân
Trong thời gian qua, số lượng cơng nhân Việt Nam có xu hướng tăng nhanh cùng với
sự phát triển của các nghành nghề cơng nghiệp trong q trình cơng nghiệp hóa hiện
đại hóa. Hàm lượng lao động có trình độ cao, tay nghề cao gia tăng một cách đáng kể.
Số liệu thống kê cho thấy, nếu trước 1986, nước ta có khoảng 3,38 triệu công nhân,
chiếm 16% lực lượng lao động xã hội; thì đến cuối 2015 tăng lên 12.856,9 nghìn
người, chiếm 14,01% dân số và 23,81% lực lượng lao động xã hội. Cơ cấu ngành kinh
tế của nước ta hiện nay đang vận động theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ
trọng công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ. Với
cơ cấu kinh tế như vậy, xuất hiện ngày càng đông bộ phận công nhân làm việc trong
các ngành dịch vụ. Vì vậy, bên cạnh đội ngũ cơng nhân truyền thống, đã xuất hiện đội
ngũ công nhân trong các ngành nghề mới. Trong đó, đa phần là lớp cơng nhân trẻ, có
sức khỏe, có trình độ học vấn, có khả năng tiếp thu cơng nghệ hiện đại.
Ngồi ra, giai cấp cơng nhân nước ta ngày càng được nâng cao về trình độ chun
mơn nghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại. Quá
trình hội nhập quốc tế đã tiếp nhận những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ
9


hiện đại vào sản xuất, làm cho nền kinh tế nước ta đang chuyển biến nhanh theo hướng
CNH, HĐH. Điều đó tạo động lực để giai cấp cơng nhân nước ta ngày càng phát triển
cao về trình độ chun mơn nghề nghiệp. Trình độ của giai cấp cơng nhân ngày càng
được nâng cao đã từng bước “hình thành ngày càng đơng đảo bộ phận cơng nhân trí
thức”. Đây là bộ phận đóng vai trị quan trọng trong q trình phát triển kinh tế thời kỳ
hội nhập; góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm giữ vững sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân Việt Nam.
*Giai cấp nông dân
Giai cấp nơng dân có xu hướng giảm về số lượng và tỷ trọng trong dân cư. Cùng với

việc sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, theo đó cơ cấu
nghành nghề ở nơng thơn cũng có những thay đổi theo chiều hướng tích cực và trở nên
đa dạng hóa.Cụ thể giảm số lượng hộ nơng-lâm- thủy sản cà tăng số lượng hộ công
nghiệp và dịch vụ. Theo kết quả của tổng cũ Thống kê năm 2020 cho thấy cả Tỷ trọng
kinh tế phi nông, lâm nghiệp và thủy sản trong kinh tế nơng thơn có xu hướng gia tăng
thể hiện rõ nhất ở tỷ trọng cơ cấu hộ nông thôn. Tại thời điểm 01/7/2020, cả nước có
trên 8,58 triệu hộ phi nơng, lâm nghiệp, thủy sản, chiếm 50,89% tổng số hộ nông thôn,
tăng 4,55 điểm phần trăm so với năm 2016 và tăng 13,04 điểm phần trăm so với năm
2011. Xu hướng tăng dần tỷ trọng kinh tế phi nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng được
thể hiện trong cơ cấu hộ nông thôn phân theo nguồn thu nhập lớn nhất. Theo kết quả
điều tra, tỷ trọng hộ có nguồn thu nhập lớn nhất từ các ngành phi nông, lâm nghiệp,
thủy sản chiếm trong tổng số hộ nông thôn của cả nước tăng từ 42,49% năm 2011 lên
52,08% năm 2016 và 59,22% năm 2020.
Hiện nay, sản xuất theo chuỗi, theo tiêu chuẩn Vietgap ngày một gia tăng, đưa nơng
nghiệp nước ta bứt phá nhanh chóng và ngày càng xuất khẩu sản phẩm ra khắp thế
giới, thâm nhập vào cả những thị trường khó tính như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Úc,
Newzilend. Giá trị tồn ngành nơng nghiệp ước tính tăng 2,9% trong năm 2021; tỉ lệ
số xã chuẩn nông thôn mới đạt 68,2%; kim ngạch xuất khẩu đạt 48,6 tỷ USD. Dự thảo
Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn bền vững đặt mục tiêu phấn đấu đến
năm 2050, Việt Nam trở thành một trong 10 nước có nền nơng nghiệp phát triển nhất

10


thế giới.Thực tế cho thấy người nông dân Việt Nam có xu hướng ngày càng nâng cao
về trình độ trong q trình sản xuất và do đó làm cho sự biến đổi của cơ cấu giai cấp
nông dân cũng diễn ra hết sức mạnh mẽ và sâu sắc.
 *Tầng lớp trí thức
Trong thời kì đổi mới tầng lớp trí thức có xu hướng tăng nhanh về mặt số lượng, đa
dạng hóa trong cơ cấu nghề nghiệp và lĩnh vực hoạt động. Công nghệ thông tin phát

triển mạnh; các lĩnh vực dầu khí, điện tử, bưu chính viễn thơng (đặc biệt là điện thoại
di động). Ngày càng có nhiều trí thức hoạt động ở các nghành khoa học mũi nhọn như:
công nghệ thông tin, công nghệ điện tử, công nghệ gen,... Bên cạnh đó số lượng lớn trí
thức làm việc trong các khu vực kinh tế tư nhân, với nước ngoài và làm việc ở ngồi
nước mang lại nhiều cơng nghệ, kinh nghiệm tiên tiến của thế giới phục vụ nhu cầu
phát triển của nền kinh tế- xã hội trong nước cũng ngày càng tăng. Một bộ phận không
nhỏ cũng tham gia vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lí của Đảng, Nhà nước, quốc phịng, an
ninh,....Đây chính là xu thế tất yếu của việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa khi mà “chất xám” cũng được xem là một loại
hàng hóa. Cùng với sự phát triển về số lượng thì chất lượng của đội ngũ trí thức Việt
Nam cũng từng bước được nâng lên. Điều này được thể hiện rõ nhất ở công tác đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao về trình độ và năng lực của đội ngũ trí thức. Cùng với chính
sách mở rộng quan hệ và giao lưu quốc tế, đội ngũ trí thức cịn được tạo điều kiện
tham gia nghiên cứu, học tập, tiếp thu những chương trình giáo dục nước ngồi. Điều
đó đã góp phần tích cực và đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức
Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa.
Theo cách nhìn mới hiện nay, cơ cấu giai - tầng ở nước ta là một cấu trúc đan kết vừa
có cấu trúc ngang, vừa có cấu trúc dọc. Cấu trúc ngang là một tập hợp các giai cấp,
tầng lớp, nghề nghiệp, tổ chức, đoàn thể trong xã hội. Trong đó bao hàm các giai cấp
cơng nhân, nơng dân, tiểu thương, doanh nhân, trí thức... Cấu trúc dọc là cấu trúc tầng
bậc cao thấp khác nhau trong xã hội, được xem xét ở ba dấu hiệu cơ bản khác nhau:
địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực), địa vị xã hội (uy tín).
Tầng lớp xã hội “ưu trội”
11


Trong bối cảnh đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế đa thành phần, phát triển kinh
tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế với những tác nhân kinh tế - xã hội khác nhau
(kể cả những tác nhân quốc tế bên ngoài cũng như những yếu tố nội sinh), bên trong,
mỗi giai cấp, tầng lớp, tổ chức xã hội đều không tĩnh tại mà biến đổi không ngừng. Sự

biến đổi này diễn ra trong nội bộ (trong lòng) mỗi giai cấp, tầng lớp, cũng như trong
mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp và trên bình diện toàn xã hội (xã hội tổng thể).
Biểu hiện nổi bật nhất là sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Đáng lưu ý là có
sự xuất hiện của tầng lớp xã hội “ưu trội”. Tầng lớp này không “nổi” lên như một lực
lượng xã hội, nhóm xã hội riêng rẽ mà bao gồm những người ưu tú, tài hoa nhất vượt
trội lên từ khắp các giai cấp, tầng lớp, tổ chức trong xã hội... Đó là những cơng nhân
với nhiều sáng kiến tìm tịi, làm việc có năng suất cao, tạo ra được nhiều sản phẩm
đẹp, tốt, có chất lượng, mang lại những lợi ích hữu dụng cho xã hội; những doanh
nhân tài ba, tháo vát, sản xuất kinh doanh giỏi, áp dụng được những cơ chế quản lý
mới, công nghệ - kỹ thuật tiên tiến mang lại nhiều lợi nhuận, giải quyết được nhiều
việc làm cho người lao động, tạo nhiều sản phẩm, hàng hóa độc đáo, đa dạng, chất
lượng tốt, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thương trường, trích nộp được nhiều
ngân sách cho nhà nước cũng như đóng góp nhiều nguồn tài chính cho các việc làm
thiện nguyện... Đó là những nhà quản lý giỏi, những nhà khoa học có nhiều phát minh,
sáng chế, đưa ra những quy trình cơng nghệ mới, những cơ chế quản lý ưu việt, những
đề xuất kiến nghị thiết thực mang lại nhiều lợi ích cho đất nước. Đó là những nông dân
làm ăn giỏi, những chủ trang trại dám nghĩ, dám làm, tháo vát, năng động, sáng tạo,
khai thác, tận dụng lao động dôi dư từ nông nghiệp, nơng thơn, tạo ra những sản phẩm
dồi dào, có giá trị cho xã hội. Những người thợ thủ công, phát huy bàn tay vàng với
những ý tưởng “vàng” tạo ra những sản phẩm độc đáo mang lại thương hiệu có uy tín
và lợi ích cao cho xã hội... Đó là những công chức đưa ra được nhiều ý tưởng cải cách,
hợp lý hóa, tối ưu hóa các giải pháp, thủ tục hành chính, mang lại nhiều tiện ích và sự
hài lòng cho người dân...

12


Tầng lớp xã hội yếu thế
 Song hành với sự hình thành của “tầng lớp xã hội ưu trội”, là sự xuất hiện một cách
tất yếu của tầng lớp “yếu thế”. Tầng lớp này cũng được hình thành từ khắp các giai

cấp, tầng lớp, tổ chức, nghề nghiệp, đoàn thể xã hội; đa số họ là những người vừa hạn
chế về các nguồn lực kinh tế, xã hội, văn hóa tổ chức, vừa có những yếu kém về thể
chất, tinh thần và gặp nhiều rủi ro, không may mắn trong cuộc sống.
Sự biến đổi của cơ cấu xã hội cũng hình thành một số nhóm xã hội khác trong đó có
nhóm xã hội (chưa thể định danh) mà hoạt động của họ tạo ra những bất ổn xã hội,
hoặc tạo ra mầm mống của những bất ổn (những người làm nghề mại dâm, bn
lậu...với con số lên đến hàng chục nghìn người); nhóm xã hội mà nguồn sống dựa chủ
yếu vào tiền của người thân đang sống và làm việc ở nước ngoài gửi về (số lượng hàng
vạn người, chủ yếu ở các thành phố phía Nam).

13


KẾT LUẬN
Như vậy, đặc điểm cơ cấu xã hội nước ta hiện nay là một xã hội đa cơ cấu - giai tầng
xã hội; trong mỗi giai cấp, tầng lớp lại có sự đan xen đa dạng, đa cấu trúc. Các giai cấp
và tầng lớp xã hội đang trong quá trình biến động, chưa định hình, khó xác định và
khó nhận diện. Quá trình đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập, phát triển kinh tế thị
trường đã dẫn đến nhiều biến đổi kinh tế- xã hội to lớn. Bên cạnh những thành tựu đạt
được có ý nghĩa lịch sử thì đó là q trình phân hóa, phân tầng xã hội mạnh mẽ. Q
trình đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế sẽ làm tăng
thêm sự biến động tính chất xã hội, kết cấu xã hội của các giai - tầng xã hội ở nước ta.
Do đó, các nhà khoa học, nghiên cứu lý luận rất cần quan tâm theo sát để có thể kiểm
sốt được sự biến động đó .

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học -Dành cho bậc đại học khơng chun lí luận
chính trị-H: Chính trị quốc gia Sự thật,2021.
2. Thơng cáo báo chí của tổng cục thống kê 2020: />3. Mục tiêu 2050 của Việt Nam: />
14




×