Tải bản đầy đủ (.pdf) (321 trang)

MÔ TẢ CÁC LOÀI TRE TRÚC VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (22.41 MB, 321 trang )

VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM (FSIV)
VIỆN TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN THựC VẬT THẾ GIỚỈ (IPGRI)

NGUYỄN HOÀNG NGHĨA

VIỆT NAM

N H À X U Ấ T B Ả N N Ô N G N G H IỆ P


MƠ TẢ CÁC LỒI TRE TRÚC VIỆT NAM
CHI VẦU XANH - ACIDOSASA
1. Măng ngọt
Tên khác

: Vầu ngọt

Tên khoa học

: Acidosasa sp 1

Chi

: Vầu xanh (Acidosasa)

Măng ngọt là loài tre mọc tản, thân thẳng, cao 5-8 m, đường kính thân 4-5cm, vách
dày 0,8-1cm, lóng thân dài 45-48cm. Thân non có phủ một lớp phấn dày, thân già hơi
dẹp, có màu xanh nhạt, có một vịng ở đốt ngửa ra và cong xuống do vết mo rụng để
lại. Phân cành ngang, ngắn, ở gốc có một cành, lên trên 3 cành, ở ngọn nhiều cành.
Tán lá thưa.
Mo có dạng tam giác cụt, đáy dưới rộng, thót dần và nhỏ ở phía trên; mặt ngồi có


lơng màu nâu đen, dài và nằm; gân song song, dày và nổi rõ ở hai mép; ở giữa có
nhiều rãnh nhỏ, do vết lơng rụng để lại. Đáy dưới lượn sóng, mặt ngồi có nhiều lỏng
nâu, dày, rộng 19-21cm; cao 20-21cm; đáy trên bằng hay hơi tròn, rộng 2,5-3cm. Phiến
mo dạng trứng, đáy bằng, đầu hơi lõm, cao 5-6cm, rộng 1,4-1,6cm. Tai mo thấp và túm
lông ở mép dày, cao khoảng 0,5cm.
Phiến lá dạng elíp trứng, mép có răng cưa, mặt dưới có gân tam cấp nổi rõ, hai mép
lá men theo xuống cuống, dài 23-26cm, rộng 2-3cm. Gân lá 5-6 đơi. Gốc nhọn, có đáy
lệch. Bẹ lá có lơng hai mép ở phía trên. Tai lá nằm ở mép bẹ lá, đứng, cao 0,2-0,3cm,
rộng 0,1-0,2cm, có 6-8 lông màu bạc, dày, dài đến 1,1cm. Cuống lá dài 0,2cm, rộng 0,1cm.
Mùa ra măng vào khoảng tháng 6-9. Loài được thu mẫu tại Mường Phăng (Điện
Biên) cùng nơi với loài Bương lớn Điện Biên.
2. Mạy pau
Tên khoa học

: Acidosasa sp2

Chi

: Vầu xanh (Acidosasa)

Mạy pau là loài tre mọc tản điển hình giống như vầu đắng, thân cây cao tới 6-8 m,
thẳng đứng, thân nhỏ hơn vầu, đường kính khoảng 5-6cm.
Thân mầu hơi vàng và nhẵn. Cành thường phát triển từ nửa trên của thân. Mỗi đốt
có 3 cành, cành to ở giữa, 2 cành nhỏ bằng nhau mọc hai bên (đặc trưng phân cành
của chi Vầu đắng và vầu xanh).
Bẹ mo hình chng, đỉnh nhơ cao, đáy hơi x rộng, mật trong nhẵn, mặt ngồi có
nhiều lơng mấu đen. Phiến mo hình ngọn giáo ngắn. Mo rung sớm.
90



Phiến lá hình ngọn giáo, mầu hơi vàng, đầu vút nhọn, gốc nhọn. Phiến lá dài
T^-igcm, rộng 1,5-1,8cm, gân lá 4-5 đôi.
Mạy pau mọc rải rác trong rừng tự nhiên và rừng bị thối hố, được tìm thấy ở một
so nơi ở Sơn La.
May pau là loài tre vừa được sử dụng làm vật liệu xây dựng. Măng được dùng làm
■ndt phẩm, thường được ăn tươi. Được thu mẫu tại Bản Áng (Mai Sơn, Sơn La).
1 Nó khịm
Tén khác

: Khỗm, mạy khịm

Tên khoa học

: Acidosasa sp.3

Chi

: Vầu xanh (Acidosasa)

Nó khơm là loài tre mọc tản thưa, thân cây cao 3-4m, có khi tới 5-6m, thằng đứng,
ng kính thân 2,5-3cm, vách thân dày 0,5cm, lóng dài 40-45cm, trơng giống như
tnic. Đây là lồi đặc trưng cho các lồi mọc tản có kích thước thân nhỏ hơn vầu.
Thân mầu vàng, nhẵn bóng. Cành phát triển ngay từ thấp, phía dưới có 1-2 cành,
p tia trên có 3-4 cành. Mỗi đốt ở phần chính của cây có 3 cành, 1 cành to ở giữa,
2 àn h nhỏ bằng nhau mọc hai bên (đặc trưng phân cành của chi vầu xanh và vầu đắng).
Mép mo thân có lơng ở 1/3 phía trên, mặt ngồi có lơng dày ở đáy dưới. Đáy dưới
Use mo rộng từ8-9cm tới 16-18cm, đáy trên 1,4-1,7cm. Phiến mo rộng 0,6-0,8cm và cao
; 4-5cm. Tai mo thấp, có lơng thưa, cứng, dài đến 1,2cm; mặt trong có lơng mịn, dày.
Jjỡ i mo cao đến 0,2cm.
Phiến lá hình ngọn giáo, dài 30-32cm, rộng 5,5-5,8cm, mầu xanh, đầu nhọn, gốc

-nạn, 7-8 đôi gân lá. Lưỡi lá thấp 0,1cm; tai lá 0,1-0,4cm, có lơng trắng, dày, dài đến
1 tcm. Bẹ lá non có phấn trắng, mép bẹ lá có răng cưa. Cuống lá 0,3-0,4cm.
Măng Nó khơm có màu vàng tím, mùa ra măng tháng 4.
Nó khơm mọc rải rác trong vùng rừng bị thối hố, đồi thấp khơ cằn ở các tỉnh Tây
3ầc như Sơn La, Điện Biên và Lai Châu.
CHI TRÚC DÂY - AMPELOCALAMUS
Chi Trúc dây bao gốm một số lồi tre có kích thước nhỏ như A actinotrichus (Merrill
& Chun) Chen, Wen & Sheng; A. naibunensis (Hayata) Wen; A. patellaris (Gamble)
Slapleton. Các loài của chi này chủ yếu được phát hiện và định danh tại Trung Quốc.
4L Trúc dây
Tên khoa học
Chi

: Ampelocalamus sp.3
: Trúc dây (Ampelocalamus)

Trúc dây là loài tre moc cụm, là một dạng tre leo hoặc bò trườn, sống dựa vào vách
91


đá hoặc cây lớn xung quanh. Thân nhỏ bằng hoặc nhỏ hơn bút chì, thanh mảnh, tr~
đều, một thân, dài tới trên 5-6 m, rủ xuống hồ nước; lóng dài tới 40-60cm.
Mới chỉ tìm thấy trúc dây ở Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn)(22°24678’ vĩ độ Bắc
105°37232’ kinh độ Đông), độ cao 155 m so với mực nước biển. Trúc dây lụi vào mùa
đông và ra chồi mới vào mùa xuân. Dễ sống.
Loài đã được GS. Xia và GS. Li nhất trí xếp vào chinày songchưa được

định danb-

5. Mạy loi

Tên khác

: Loi

Tên khoa học

: Ampelocalamus sonlaensis

Chi

: Trúc dây (Ampelocalamus)

sp.nov.

Mạy loi là loài tre mọc cụm, thân dẻo, nhỏ như trúc, thanh mảnh, trịn đều, cao
thơng thường 6-9m, có khi tới trên 10m, thân cây có đường kính 2-3cm; lóng dài tới
40-60cm. Nhiều cành nhỏ, có khi tới 10-15 cành có kích thước gần bằng nhau phát
triển từ nhiều gốc.
Măng nhỏ, các mo thân có đầy lơng màu nâu đen. Mo thân rất đặc trưng bởi có các
lơng tua màu nâu, dài tới 3,4cm. Phiến mo to, dạng dải, có khi kéo dài, màu xanh lá
cây, trông giống như lá. Lưỡi mo cao khoảng 0,1-0,15cm, mép có lơng tua dàikhoảng
1cm. Cây rất dễ nhận biết bởi các đặc điểm trên.
Lá dài 18-21cm, rộng 1,1-2cm, gốc lá hình nêm, có 3 đơi gân lá. Bẹ lá có phủ túm
lơng thơ. Tai lá dạng lông tua dài 0,5-1cm. Cuống lá ngắn, chỉ dài khoảng 0,1-0,15cm.
Ra măng vào các tháng từ tháng 2 đến tháng 9. Có thể dùng để làm lạt, đan phên
và đan sọt gia dụng.
Loài mọc khá phổ biến trên núi đá vôi của Sơn La, trên độ cao 600-700m so với
mực nước biển và chịu được các điểu kiện khắc nghiệt của núi đá. Ngay trên các ngọn
núi của thị xã Sơn La, Mạy loi mọc gần như thuần loại, có xen một ít với Mạy lay. Trên
núi đá vơi nghèo thì cây nhỏ hơn song ở nơi ẩm hơn thì cây có thân to như ở Thuận Châu.

Lồi đã được GS. Xia và GS. Li nhất trí coi là loài mới, xếp vào chi Trúc dây và lấy
tên Sơn La để đặt cho loài.
6. Xả má
Tên khoa học

: Ampelocalamus sp3

Chi

: Trúc dây (Ampelocalamus)

Xả má (theo tiếng đồng bào HMơng ở Hà Giang) là lồi tre mọc cụm, một dạng tre
bò trườn, sống dựa vào vách đá hoặc cây lớn xung quanh. Thân nhỏ bằng bút chì,
thanh mảnh, trịn đểu, một thân, cao tới trên 4-5m, đường kính khoảng 0,3-0,5 hay hơn;
lóng dài tới 19-20cm. Cành nhỏ.
92


Bẹ mo nhỏ, có đáy rộng 1,2cm và cao 8,5cm.
Phiến lá dài 18-19cm, rộng 2,5-2,6cm, đáy ngang (bằng). Gân lá 4-5 đơi. Lưỡi lá
0.1cm; Cuống lá dài 0,1cm.
Mới chỉ tìm thấy xả má trên núi đá ở Khu bảo tồn Bát Đại Sơn (Quản Bạ) và Thài
I Riìn Tủng (Đồng Văn) tỉnh Hà Giang, trên độ cao 1000-1200m so với mực nước biển.

‘ hác Trúc dây, xả má không lụi vào mùa đơng. Dễ sống.
Lồi mới được chúng tơi tìm thấy ở Hà Giang và dự kiến xếp vào chi này do lồi
rũng có thân nhỏ và sống dựa vào vách đá xung quanh như Trúc dây.
CHI SẶT - ARUNDINARIA
Chi Sặt Arundinaria được biết đến từ sau Michaux vào năm 1803 và nó bao gồm
ằtìoảng 380 tên khác nhau cho các loài ở châu Á, Mỹ và Phi, chứng tỏ đây là chi rất

fcfiông thuần nhất. Munro (1868) cho là thế giới có 29 lồi, Gamble (1896) ghi nhận 28
Hồi của riêng vùng Himalaya cịn Camus ghi nhận 14 lồi của vùng Đơng Dương và
llađagaxca cịn McCLure vào năm 1973 đã loại bỏ khá nhiều tên lồi của châu Mỹ
í khỏi chi này (dẫn từ Seethalakshmi and Kumar, 1998). Sau này một số loài được
chuyển sang các chi khác như Sinarundinaria, Thamnocalamus, Racemobambos,
Chimonobambusa, Indosasa, Sinobambusa và Acidosasa. Như vậy việc xếp các loài
I rào chi này vẫn là một vấn đề khó khăn.
Chi bao gồm các lồi mọc tản, thân rỗng, có 3-7 cành trên mỗi đốt thân. Hoa tự
nhường hình chùm hoặc chùm kép (chuỳ), có từ ít tới nhiểu hoa nhỏ (spikeỉet), mỗi hoa
nhỏ có 2-8 hoa. Nhị 3. Vịi nhuỵ khơng chia với 3 đầu nhuỵ dài.
7. Sặt


Tên khác
Tên khoa học
Chi

: Sặt cầu Hai
: Arundinaria sp1
: Sặt (Arundinaria)

Sặt là lồi tre mọc tản có kích thước nhỏ. Thân có chiều cao 3-5m, đường kính thân
1-1,5cm, vách thân dày 0,4cm, lóng dài 27-28cm. Thân màu xanh, ruột có vách ngăn,
các vách ngăn cách nhau 0,4cm; dưới vòng mo phủ một vịng phấn trắng cao 0,2cm;
mép vịng mo có vịng lơng dài 0,2cm. Thường có ba cành nhỏ bắt nguồn từ mỗi đốt thân.
Bẹ mo có đáy dưới rộng 5,5cm, phủ lơng vàng nhạt dài 0,3cm, mặt ngồi ở đáy
dưới có lơng đúng cao đến 0,6cm; mép của bẹ mo phủ lông dài 0,15cm; đáy trên của
bẹ mo rộng 0,8cm. Phiến mo phần giáp bẹ mo rộng 0,4cm; giữa rộng 0,6cm; cao
3,6cm. Tai mo rộng 0,3cm; cao 0,15cm; mỗi bên mang 12 lông tua dài 0,9cm. Lưỡi mo
»lấp, mép có phủ lơng dài 0,1 cm.



Mép lá có răng cưa nhỏ, ngắn, sắc. Phiến lá dài 24,5-26cm, rộng 3,3-3,6cm. Gốc
nhọn, đi lá hình nêm. Gân lá 7 đôi. Lưỡi lá ngắn; tai lá rộng 0,25cm; cao 0,1cm;
bên tai lá mang 13 lông tua dài 1,3cm. Cuống lá dài 0,4cm; rộng 0,2cm.
Măng ra vào tháng 4-6 hàng năm.
Loài đã được thu thập về trồng tại cầu Hai từ lâu nên còn gọi là Sặt cầu Hai để co
cơ sở phân biệt với các địa danh khác.
8. Mạy reng
Tên khoa học

: Arundinaria sp2

Chi

: Sặt (Arundinaria)

Mạy reng là lồi tre mọc tản, thân cây cao 4-5m, thẳngđứng,

đường kính thâ

1,8-2,2cm, vách thân dày 0,4cm, lóng dài 32-39cm, thân non phủ lớpphấn trắng thưa.
Thân mầu xanh thẫm, nhẵn bóng; thân non màu tím, có phủ một lớp phấn trắng
thưa, thân già màu xanh thẫm; trong thân có các vách trắng xếp sát nhau (tương tựnh
Mạy pặt và Mạy chả). Cành phát triển từ nửa trên của thân cây; phía dưới có 1-2 cành
phía trên có 3 cành. Cành non có màu tím.
Bẹ mo màu tím đổ, phủ lơng thưa cứng, dài 11cm, rộng 6cm, mép mo thân ph’
lông cứng, đáy dưới có lơng dày màu nâu đen. Đáy dưới rộng 11-12cm đến 18-20cm,
đáy trên 0,3-0,4cm. Phiến mo phủ lông thưa, rộng 0,3cm và cao 1-2cm. Tai mo rất
thấp, có lơng tua uốn hình sừng trâu. Lưỡi mo gần trịn, dài 0,5cm, có lơng thưa.

Phiến lá hình dải, dài 13-14 tới 18-20cm, rộng 1-1,7cm, mẩu xanh, đầu nhọn,
gốc nhọn, 4-7 đôi gân lá. Lưỡi lá cao 0,1-0,2cm. Bẹ lá màu vàng xanh. Cuống lá dài
0,3-0,6cm. Tai lá thấp có lơng dài đến 0,2cm.
Đã thu được hoa của loài tre này vào năm 2004 ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang và đây
là cơ sở để định danh loài trong tương lai.
Măng May l'eng đắng, mùa ra măng tháng 3-8. Thân cây được dùng làm cần câu,
hàng rào.
Mạy reng mọc rải rác trong vùng rừng bị thoái hoá ở các tỉnh Tuyên Quang (Chiêm
Hoá), Quảng Ninh (Yên Tử, Miếu Trắng), Bắc Giang (Sơn Động). Tại Yên Tử, người ta
gọi chung các loài mọc tản (trong đó có Mạy reng) là Trúc, cịn ở Sơn Động, người địa
phương gọi Mạy reng là Tre đắng hoặc bần, song khi kiểm tra cấu tạo, hình thái và đặc
biệt là thấy tồn tại các vách ngăn giống nhau, nên chúng đều là Mạy reng.
9. Mạy chả
Tên khoa học

: Arundinaria sp3

Chi

: Sặt (Arundinarici)

Mạy chả là loài tre mọc tản, thân cây cao 2-3m, có khi tới 4-5m, thẳng đứng, đường
kính thân 2-2.5cm, vách thân dày 0,8cm, lóna dài 26-35cm.
94


Thân cây mầu xanh thẫm, trong thân có các vách trắng xếp sát nhau (tương tự như
pặt và Mạy reng) nhưng dày hơn Mạy pặt, màu hơi vàng. Cành phát triển từ nửa
của thân cây; phía dưới có 1-2 cành, phía trên có 3 cành.
Bẹ mo mặt ngồi phủ lơng mịn ở đoạn dưới và cứng ở đoạn trên, màu trắng, hai

mo có lơng trắng, dày ở 1/3 phần trên mo. Bẹ mo đoạn dưới thân có đáy dưới rộng
cm, đáy trên rộng 0,8-1 cm; bẹ mo đoạn thân trên có đáy dưới rộng 9-26cm và đáy
rộng 0,8-1cm. Phiến mo đoạn dưới rộng 0,6cm, cao 1cm; đoạn trên phiến mo rộng
và cao tới 7cm. Tai mo rộng 0,4cm, cao 1cm, có lơng thưa dài đến 0,6cm. Lưỡi
dải 0,1cm.
Mặt dưới lá có lơng mịn, mềm, phiến lá dài 19-23cm, rộng 3-3,2cm, gốc nhọn,
dõi gân lá. Lưỡi lá cao 0,1-0,2cm. Bẹ lá màu vàng xanh. Cuống lá dài 0,2-0,3cm, có
ỏ mặt trên. Tai lá cao 0,1cm, rộng 0,4cm, hơi lượn sóng, có lơng thưa cứng dài đến 1,2cm.
Mạy chả có mùa ra măng tháng 3-8.
Vạy chả mọc rải rác trong vùng rừng tự nhiên bị thoái hoá và dọc đường đi ở tỉnh
B ẽn Biên (Mường Phăng) cùng với Nó khơm.


Mạy pặt
Tên khác

: Pặt

Tên khoa học

: Arundinaria sp4

Chi

: Sặt (Arundinaria)

Mạy pặt là loài tre mọc tản, thân cây cao 1-3m, thẳng đứng, đường kính thân
15-2cm, vách thân dày 0,1-0,2cm, lóng dài 35-40cm.
Thân cây mầu xanh vàng, trong thân có các vách trắng xếp sát nhau (tương tự như
■fay chả và Mạy reng) nhưng thưa hơn mạy chả. Cành phát triển ngay từ gần mặt đất;

phía dưới có 1-2 cành, phía trên có 3 cành. Mắt nhỏ lồi, có hai vịng lồi ở đốt, khác với
Hãng dê là khơng có vịng trắng ở đốt.
Bẹ mo mặt ngồi ở gốc có lơng nâu, dày. Đáy dưới bẹ mo rộng 6-8cm, cao
12,5-22cm, đáy trên rộng 0,6-0,8cm; mép có lơng đen dài. Phiến mo rộng 0,6-0,8cm,
cao 5-5,5cm; hình mũi

giáo, hai mép cólơng thưa. Tai mo rất thấp, có lỏng cứng dài

đến 1,5cm. Lưỡi mo dài đến 0,2cm có răngcưa.
Phiến lá dài 22-25cm, rộng 3-3,5cm, gốc nhọn, 6-7 đơi gân lá. Bẹ lá khơng lơng. Tai lá
có lông dày, cứng, cao đến 0,5cm. Cuống lá dài 0,5-0,6cm.
Mạy pặt có mùa ra măng vào xuân hè. Năm 2005 đã thu được hoa của loài cây này.
Mạy pặt mọc rải rác trong vùng rừng bị thoái hoá, cùng với Măng dê, Mạỵ lay và
Uay lay lo ở tỉnh Sơn La.
95


11. Măng dê
Tên khác

: Nó bẻ

Tên khoa học

: Arundinaria sp5

Chi

; Sặt (Arundinaria)


Măng dê là lồi tre mọc tản, có kích thước nhỏ. Thân cây thẳng, cao 6-8 m, đường
kính thân 2,8-3cm, có khỉ hơn. Lóng dài 42-54cm. Trên mỗi đốt thân có nhiều cành
nhỏ, cành lớn nhất to 0,4cm. Thân non phủ phấn trắng. Đốt thân phình to hơn thân cây.
Bẹ mo hình thn, đầu thót nhọn. Gốc bẹ mo phủ lơng, lúc non màu vàng nhạt, già
có màu nâu, mép bẹ có lơng màu sáng, mặt bụng nhẵn bóng. Phiên mo rất nhỏ, gốc
phiến mo gần bằng đáy trên bẹ mo. Tai mo không rõ. Lưỡi mo cao khoảng 1mm. Có
lơng tua dài khoảng 3-4mm.
Phiến lá dài 9-18cm, rộng 1,2-2cm, gốc lá hình nêm, gân lá 6 đơi. Lưỡi lá cao khoảng
1-1,2 mm, nhìn thấy rõ, mặt lưng có lơng mịn trắng. Bẹ lá nhẵn hoặc hơi có lơng mịn. Tai
lá có vài lơng tơ nhỏ. Cuống lá dài 0,2-0,5cm.
Lồi chưa được đặt tên chính thức.
12. Tre đắng n TỬ
Tên khác

: Trúc Yên Tử

Tên khoa học

: Arundinaria sp6

Chi

: Sặt (Arundinaria)

Tre đắng Yên Tử là loài tre mọc tản, thân cây cao 4-5m, đứng thẳng, đường kính
thân 0,7-1cm, có khi cây to hơn, vách thân dày 0,2cm, lóng dài 23-25cm.
Thân cây mầu xanh vàng. Đốt thân thường to hơn thân, đường kính đốt 1,6-1,8cm.
Cành .phát triển từ nửa trên của cây; các đốt thường có 3 cành.
Bẹ mo mặt ngồi có lơng thưa đứng có màu tím. Đáy dưới rộng 5,5-7,0cm, cao
9,5-20,5cm. Đáy trên rộng 0,2-0,3cm. Phiến mo rộng 0,2-0,3cm, cao 2-2,5cm. Tai mo

thấp, có lơng dài 0,9cm; có 8-9 lơng trên mỗi tai mo. Lưỡi mo thấp, có dạng răng cưa.
Lá hình dải. Phiến lá dài 14-16,5cm, rộng 1,4-1,6cm, gốc nhọn, 4-5 đôi gân lá. Bẹ
lá không lông. Tai lá thấp, có lơng mềm dày, cao đến 1cm. Cuống lá rộng 0,2cm, cao
0,4cm. Khác với Trúc Yên Tử, đây là lồi tre có phiến lá nhỏ hơn.
Tre đắng n Tử -ra măng vào vụ xuân và được thu hái nhiều để bán cho khách
thập phương đi vãn cảnh Yên Tử. Măng nhỏ và dài như chiếc đũa và có màu tím hồng.
Tre đắng Yên Tử mọc rải rác trong vùng rừng bị thoái hoá, cùng với Mạy reng ở
dưới chân và lưng chừng núi Yên Tử (Quảng Ninh), phía trên có Trúc Yên Tử với đặc
trưng là phiến lá to hơn.

96


13. Trúc Yèn Tử
Tên khoa học

: Arundinaria sp7

Chi

: Sặt (Arundinaria)

Trúc Yên Tử là loài tre mọc tản, thân cây cao 2-3 m, đứng thẳng, đường kính thân
I 3-1cm, vách thân dày 0,3cm, lóng dài 29-36cm. Cây mọc gần như thuần loại ở phần
cao của núi Yên Tử (An Kỳ Sinh tới Chùa Đồng), cây thấp hơn, cao chỉ khoảng trên
: ứJỜ\ 1 m. Lá to hơn hẳn lá Tre đắng Yên Tử. Thân cây mầu xanh vàng. Đốt thân
|ị Hìinờng to hơn thân. Cành phát triển từ nửa trên của cây; các đốt thường có 3 cành.
Bẹ mo mặt ngồi có màu nâu tím. Đáy dưới rộng 4-4,5cm, cao 9-10,5cm. Đáy trên
! rông 0,3-0,4cm. Phiến mo rộng 0,3-0,4cm, cao 1,5-1,6cm. Mép phía trên của mo có
I ßng thưa mịn. Lưỡi mo 0,1-0,2cm, hình cầu.

Phiến lá dài 26-32cm, rộng 4,5-5,5cm, gốc nhọn, 7-8 đơi gân lá. Tai lá thấp, có
I fing. Cuống lá cao 0,2cm, rộng 0,5cm. Lá to hơn hẳn Tre đắng Yên Tử.
Trúc Yên Tử ra măng vào vụ xuân và được thu hái nhiều để bán cho khách thập
I phương như măng Tre đắng Yên Tử. Trúc Yên Tử mọc ở phía trên của núi n Tử với

©C trưng là cây thấp hơn, phiến lá to hơn và cây mọc gần như thuần loại.
*4. Sặt Cúc Phương
Tên khác
Tên khoạ

: vầu nhỏ Cúc Phương
học

Chi

: Arundinaria sp8
: Sặt (Arundinaria)

Vầu nhỏ Cúc Phương là loài tre mọc tản, thân cây cao 2-4m, đứng thẳng, đường
I n#i thân 1-2cm, lóng dài 30-35cm. Câỵ mọc gần như thuần loại ven đường đi.
Thân cây mầu xanh. Đốt thân thường to hơn lóng thân một chút. Cành phát triển từ
ịaủa trên của cây; các đốt thường có 3 cành. Trong thân cây có các vách ngăn đặc
TUhg cho các loài trong chi.
Đáy dưới bẹ mo rộng 7-8cm, cao 13-14cm, có vịng lơng nâu dày, vịng cao đến trên
Phiến mo hình ngọn giáo, cao 3-4,5cm, rộng 0,5-0,6cm.
Phiến lá dài 18-21cm, rộng 2,2-2,6cm; gốc lá nhọn; gân lả 6-7 đơi.
Được tìm thấy ở Vườn quốc gia Cúc Phương cùng với một số loài tre trúc khác như
»ầu đắng (Indosasa), vầu lớn Cúc Phương (Sinobambusa), Giang đặc (Melocalamus).

97



CHI TRE - BAMBUSA
Đây là chi có các lồi phân bố rộng rãi ở châu Á. Chi Tre (Bambusa) bao
gồm khoảng 100 lồi trên tồn thế giới trong đó Trung Quốc có 64 lồi (riêng Vân Nam
là 28 lồi) cịn Ấn Độ có 26 lồi (Yang et al., 1999; Seethalakshmi and Kumar, 1998).
Đặc điểm nổi bật để phân biệt chi Bambusa với các chi khác là bơng nhỏ (spikelet)
có nhiều hoa (3-10 flowers), một hoa ở đỉnh tiêu giảm (1-3) và lóng cuống bơng nhỏ
dài, có 3 mày cực nhỏ (lodicule), một mày trong kết cánh thuyền (keeled). Đặc điểm
lóng cuống bông nhỏ dài dùng để phân biệt với chi Dendrocalamus và Gigantochloa vì
lóng cuống bơng nhỏ của 2 chi này khơng kéo dài. Chi nứa Schizostachyum cũng có
lóng bơng nhỏ dài và 3 mày cực nhỏ, nhưng số lượng hoa (flower) giảm, bầu nhuỵ
nhẵn, vòi nhuỵ rỗng cứng (Wong, 1995). Một số loài trước đây ở trong chi này, nay đã
được chuyển sang các chi khác.
15. Lồ ô Trung Bộ
Tên khác

: Lồ ô Quảng Nam

Tên khoa học

: Bambusa balcoa

Chi

: Tre (Bambusa)

Roxb.

Lồ ơ Trung Bộ là lồi tre mọc cụm dày, thân cây cao 10-15m, thẳng, ngọn dài và

cong, đường kính 6-7cm, vách thân dày 1-1,5cm, lóng dài 30-40cm. Thân non có lơng
trắng dày ở gốc, có 2 vịng lơng màu trắng ở 2 phía của đốt cao đến 1,5cm, ở gốc có rễ
khí sinh. Tán lá dày, một cành to và nhiều cành nhỏ.
Mo thân dạng hình thang, mặt ngồi có lơng màu đen nằm, mo có màu xanh nhạt
xen lẫn với các sọc màu trắng lớn. Đáy dưới lượn sóng, hai mép nhơ ra và cong xuống,
rộng 19-21 cm; cao 18-20cm; đáy trên lõm, rộng 8-9cm. Phiến mo hình tam giác, đáy
lõm, mặt trong có nhiều lơng màu nâu và dày ở đáy, rộng 5-6cm, cao 7-8cm. Tai mo
cao đến 0,1cm, mép lượn sóng. Lưỡi mo cao đến 0,3cm.
Phiến lá dạng dải, thuôn dài, hai mép lá men theo xuống cuống, gốc lánhọn,đáy
lệch. Gân lá 9-10 đôi. Lưỡi lá cao đến 0,2cm. Tai lá dạng thìa ơrp lấy cuống lá. Bẹ lá
có lơng mịn và dày ở đoạn non. Cuống lá dài 0,6-0,8cm, rộng C,2-0,3cm, hai mặt có
lơng mịn và dày.
Mùa ra măng vào tháng 6-9 hàng năm. Măng lúc non có màu xanhnhạt và có
nhiều sọc màu trắng lớn. Lồi có phân bố rộng dọc theo miền Trung.

9S


16. Tre là ngà Nam Bộ
Tên khác

: Tre lộc ngộc, Tre nghệ, Tre gai rừng, Lộc ngộc Thái Lan

Tên khoa học

: Bambusa bambos (L.) Voss

Tên dồng nghĩa : Arundo bambos L.
Bambusa arundinacea Retz.
Chi


: Tre (Bambusa)

Là ngà Nam Bộ là loài tre mọc cụm, thân thẳng, cao trung bình 15-18m, có khi tới
30m và đường kính trung bình 6-8cm, có khi đạt tới 15cm. Vách thân dày. Có cành
nhánh trên mọi đốt thân, cành trên đốt thấp thường cong xuống phía dưới và cành của
các đốt trên thường cong lên và có gai. Lóng dài 21-23cm, xanh nhạt. Đốt hơi phình to,
các đốt dưới có thể có rễ khí sinh. Thường có 3 cành được tạo thành trong đó có một
cành chính to và hai cành nhỏ hơn. Đường kính cành đạt tới 2,5cm, có nhiều gai, cành
toả rộng ra xung quanh tới 2-3 m khỏi gốc. Thân non phủ lông trắng.
Mo thân nhẵn hoặc có lơng tơ nhỏ. Đáy dưới bẹ mo rộng 28-30cm, cao 19-20cm;
đáy trên có hai vai hơi lệch, rộng 13-14cm, mặt trong có lơng đen dày, lõm sâu và lượn
sóng ở hai đáy. Phiến mo rộng 5,5-6,0cm, cao 3,5-4,0cm, mũi nhọn cứng, khi khô
giống mỏ chim. Tai mo có lơng đen dày ở mặt trong, mép lượn sóng, hai tai khơng bằng
nhau dài 3-5cm, cao 1-1,5cm. Lưỡi mo cao 0,1-0,2cm có lỏng cứng thưa cao 0,2cm.
Lá dạng dải, mặtdưới lá có lơng mịn. Phiến lá hẹp và có kích thước biến động,
thon, hẹp dẩn và có mũi nhọn, dài 10-12cm, rộng 0,7-0,9cm. Gốc nhọn, 4-5 đôi gân lá,
khơng rõ. Bẹ lá có lơng thưa, cuống lá rất ngắn.
Ra hoa theo chu kỳ và chu kỳ ra hoa biến động: 30-34, 30-45 và 44-49 năm, gần
dày nhất là vào các năm 1981, 1984-1985, 1991-1992. Mỗi bụi ra hoa có thể cho
50-100 kg hạt với 70.000-85.000 hạt/kg. Hạt có thể giữ được khả năng nảy mầm tới 6 tháng.
Là ngà Nam Bộ có phân bố kéo dài từ Ấn Độ qua Thái Lan tới Nam Trung Quốc.
Loài cũng được trồng nhiều ở Đông Nam Á như đông Gia-va, Singapo, Thái Lan,
Valaixia và Philipin. Loài ưa đất ẩm, hoặc sinh trưởng dọc sông và thung lũng, lên đến
độ cao 1000 m so với mực nước biển.
Loài được dùng làm nguyên liệu cho sản xuất giấy và bột giấy, ván nhân tạo, làm
bè mảng, nguyên liệu làm nhà và nhiều dụng cụ gia dụng khác. Măng và hạt ăn được.
Lá cịn có thể làm thức ăn chăn ni và làm thuốc.
Lồi được đưa về trồng ở vườn
Thất trí đinh danh.


SƯU

tập tre cầu Hai và đã được GS. Xia và GS. Li

17. Lộc ngộc
Tên khoa học

: Bambusa bicorniculata sp.nov.

Chi

; Tre (Bambusa)

Lộc ngộc là loài tre mọc cụm, được trồng nhiều ở vùng Trung tâm Bắc Bộ và Đông
Bầc Bộ. Thân cây thẳng, cao 18-22m, đường kính thân đạt 12-16cm, lóng dài 28-32cm.
99


Mơi đốt thân thường có 3 cành (1 cành to và 2 cành nhỏ hơn), có nhiều gai song cành
thưa hơn Tre là ngà và Lộc ngộc Thái Lan.
Đáy dưới bẹ mo rộng 40-52cm, cao 33-39cm. Đáy trên 10-13cm, có hai đầu nhô
cao đến 1,3cm, nhọn. Phiến mo rộng 6,5-7cm, cao 8-1 Ocm,mặt phiếnmo có lơng cứng
theo sọc, hai mép có lơng thưa cao 0,5cm. Tai mo lõm ở giữa, caoở hai đầu, dài 2cm,
cao 0,5cm, có lơng cứng thưa dài đến 1cm. Lưỡi mo hình răng cưa, cao 1,5cm.
Lá non hình nêm, lá già hình dải. Phiến lá dài 30-35cm, rộng 4,5-5cm, gốc lá nhọn,
hơi lệch, gân lá 8-9 đơi. Lưỡi lá 0,1cm. Bẹ lá non có lơng màu trắng thưa. Tai lá
0,3-0,2cm, có lơng mịn dài đến 0,2cm. Cuống lá cao 0,5cm, rộng 0,4cm, mặt trên và
mặt dưới có lơng thưa.
Lộc ngộc là lồi tre to thường được dùng làm cột nhà, cột điện tạm thời, đồng bào

vùng cao dùng làm máng dẫn nước; ngồi ra cịn được dùng làm nguyên liệu cho công
nghiệp sản xuấi giấy.
Măng Lộc ngộc to, ăn ngon. Mùa măng vào các tháng 5-9. Lồi đã được GS. Xia và
GS. Li nhất trí xác định là lồi mới.
18. Mạy bói
Tên khác

: Nó bói

Tên khoa học

: Bambusa burmanica Gamble

Chi

: Tre (Bambusa)

Mạy bói là lồi tre mọc cụm, thân đứng thẳng, cao tới 10-15m, đường kính thân đạt
tới 5-8cm, màu xanh lá cây, cứng; vách dày; lóng thân dài khoảng 32-37cm. Đốt thân có
vịng lơng và phấn trắng. Mỗi đốt thân có một cành to và 2 cành nhỏ hdn cùng với 8-10
cành nhỏ khác. Vòng mo nổi rõ. Thân non màu xanh, thân già màu xanh xám có các
đốm địa y màu trắng.
Mo thân màu xanh lá cây khi non, pha màu vàng dọc theo viền, có lơng màu nâu
thẫm hoặc nâu vàng phủ phía ngồi, ở hai bên phía trên giáp lưỡi mo. Phiến mo hình
tam giác, thẳng đứng, gốc rộng gần bằng đầu (đáy trên) bẹ mo, nối liền với tai mo. Tai
mo tương đối lớn, có lơng tua ở mép dài khoảng 0,5cm, một bên phẳng, một bên nhăn.
Lưỡi mo nhọn gấp. Khơng có lơng tua.
Phiến lá hình thon dài, dài 10-17cm, rộng 1-2cm. Gốc lá bằng hay có hình nêm, có
4-6 đơi gân. Bẹ lá ráp. Tai lá có mấy chiếc lông tua dài khoảng 0,3cm. Cuống lá 0,1cm.
Măng nhỏ màu xanh. Mùa măng vào mùa mưa. Được biết loài đã ra hoa vào năm

1890 ỞMianma.
Mạy bói có họ hàng thân thuộc với lồi Mạy bơng (Bambuss tulda Roxb.) và Lồ ơ
(Bambusa polymorpha Munro) vì cùng có tai mo lớn trên mo thân.
Có phân bố tự nhiên ở vùng bắc Mianma, Thái Lan, vùng Assam (Ấn Độ) và Việt
Nam. Thường gặp lồi này trên dốc núi khơ ở Mianma.
100


Mạy bói được thấy mọc tự nhiên và được trồng ở vùng Tây Bắc (Sơn La). Tại
Dhiềng Sinh, thị xã Sơn La, Mạy bói gặp cùng với một số lồi tre khác như Mạy bơng,
Nó bẻ (Măng dê).
Là lồi tre có kích thước trung bình, khơng gai, được sử dụng trong xây dựng nhà
pàm mái) và đan lát. Măng ngon nên thường dùng để làm thực phẩm.
Loài đã được GS. Xia và GS. Li nhất trí định danh,
ts . Tre gai
Tên khác

: Tre nhà, Tre hoá, Mạy phiều, Tre là ngà

Tên khoa học

: Bambusa blumeana J. A. et J. H. Schultes

Tên đống nghĩa : Bambusa stenostachya Hackel
Bambusa spinosa sensu BI. Ex Nees
Chi

: Tre (Bambusa)

Cây mọc thành cụm rất dày, gồm nhiều thân cây cao 15-20m, đường kính thân

ỉat 8-10cm, thân khí sinh có ngọn cong ngắn, lá nhỏ, rất nhiều gai. Lóng thân dài
*j-15cm. Vách thân dày 1,8-2cm.
Thân khơng được thẳng. Đốt thân hơi phình, vịng mo rõ, có vịng phấn trắng ở trên
vã dưới vịng mo. Những đốt phía dưới gốc thường có rễ khí sinh. Mỗi đốt thân có
3 cành chính (1 cành to và 2 cành nhỏ), đùi gà cành to có nhiều rễ, cành dầy đặc ngay
lừ gốc. Trên cành có nhiều gai cong, cứng sắc, nhất là những cành ở gần gốc.
Vịng mo hơi nhơ cao. Bẹ mo hình thang có cạnh hai bên hơi cong, mặt ngồi nhiều
gàn dọc và phủ một lớp lơng cứng màu nâu đen. Đáy dưới bẹ mo rộng 28cm, đáy trẽn
•ộng 8-1 Ocm, cao 20cm. Phiến mo hình ngọn giáo, đỉnh vút nhọn, mặt trong có nhiều
lỏng. Phiến mo rộng 3,5cm, dài 0,6cm, mặt trong có gân nổi rõ và phủ lơng cứng ngắn,
mặt ngồi nhẵn. Lưỡi mo có lỏng tua, lưỡi mo cao 0,4-0,45cm, ở giữa khơng có lơng,
la i bên có lơng tua cao 0,7cm.
Lá hình ngọn giáo, dài 20-25cm, rộng 1,5-2,5cm, đầu vút nhọn, gốc lá trịn. Lá có
cuống, tai lá rõ rệt. Gân lá 6 đơi. Lưỡi lá ngắn, có lơng tua mềm dài 0,6cm ở hai bên tai
¡á. Tai lá không rõ. Cuống lá cao 0,15cm; rộng 0,1cm.
Ra măng tháng 6-9. Là loài cây có thân ngầm mọc cụm, phát triển dần lên trên mặt
đất, là lồi điển hình của hiện tượng nâng bụi. Măng ăn được. Mỗi đốt thường mang
Thiều cành nhánh trong đó có một cành chính lớn hơn, là lồi tre to có nhiều gai nên
được đặt tên cho lồi.
Là lồi cây trồng rất nổi tiếng và thông dụng khắp cả nước. Thường được trồng
cjuanh làng xóm, quanh vườn nhà, dưới chân đồi, ven sông, chân đê để phát huy vai trị
phịng hộ, bảo vệ đổng ruộng, chơng xói lở, chắn sóng. Tre gai là lồi cây đặc trưng nổi
bật của làng quê Việt Nam.
101


Tre ưa khí hậu ấm, thốt nước, đất sâu ẩm, ưa sáng. Trên đât xâu, khô căn Tre
thường nhỏ, khẳng khiu, cứng cây; trên đất tốt đủ ẩm cây Tre gai thường to và
màng hơn.
Măng ở thế hệ thứ 3-4 mọc khoẻ, nhiều, sau đó giảm dần. Cây 3-4 tuổi là khai thác

được, chất lượng tốt. Mùa măng từ tháng 5 đến tháng 10. Mới thấy Tre gai ra hoa theo khóm
Tre gai là lồi cây có nhiều cơng dụng và phổ biến nhất ở vùng nông thôn nước ta
Thường được dùng làm vật liệu xây dựng, làm nhà và chơn xuống dưới đất làm mói
nhà, đan lát thúng, mủng, rổ rá, làm nguyên liệu giây và nhiều vật dụng khác; Lá tre g
có thể làm thuốc giải cảm. Măng ăn ngon, được dùng làm thực phẩm.
Trước đây tre gai được đặt cho các tên khoa học khác nhau và chúng tơi nhất trí lấy
tên đã được GS. Xia và GS. Li thống nhất đặt cho.
20. Tre sọc trắng
Tên khoa học

: Bambusa cf. heterostachya Holttum.

Chi

: Tre (Bambusa)

Tre sọc trắng là lồi tre mọc cụm dày, có ngoại hình giống như Tre gai song khơng
có gai. Thân cây cao 15-16m, đường kính 5-6,5cm, lóng thân 40-50cm, vách dày 11,8cm. Thân non có phủ lơng màu nâu, thân già và cành có sọc. Thường có một cành
to và nhiều cành nhỏ. Đặc điểm khác biệt nổi bật so với các loài tre khác là các lóng
thân và cành thường có một số sọc trắng nên loài đã được đặt tên theo đặc điểm này.
Mo thân hơi thn dài, mặt ngồi có lơng đen dày, sớm rụng. Bẹ mo có đáy dưới
hơi lượn sóng, rộng 15-17cm, cao 21-18cm; đáy trên rộng 6-7cm. Phiến mo có hình tam
giác, đáy lõm, có lơng ở hai mặt, rộng 4-4,5cm, cao 8,5-9,5cm. Tai mo 0,1 X 1,5cm. Lưỡi
mo cao đến 0,4cm, có lơng sớm rụng để lại dạng răng cưa trên phiến.
Lá hình thn dài. Phiến lá dài 28-34cm, rộng 1,4-1,5cm. Gốc iá nhọn, hơi iệch.
Gân lá 10-11 đôi. Lưỡi lá cao đến 0,2cm. Tai lá thấp có lơng thưa, 0,1 X 0,2cm. Bẹ lá
khơng lơng, có mép lượn sóng ở gần lá. Cuống lá 0,4 X 0,5cm.
Lồi được tìm thấy trên đường từ TP. Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, tại xã Lộc Nga, Bảo
Lộc, Lâm Đồng.
21. Hóp Phù Yên

Tên khác

: Đót (Mường)

Tên khoa học

: Bambusa cf tultoides Munro

Chi

: Tre (Bambusa)

Hóp Phù n là lồi tre mọc cụm, có ngoại hình giống như các lồi hóp khác. Thân
cây cao 10-12m, đường kính 4-5cm, lóng thân 31-32cm, vách dày 2cm. Thường có một
cành to và hai cành nhỏ mọc hơi ngang hoặc hơi nghiên xuống, nhưng có thêm hai
cành nhỏ nữa ở phía dưới cong xuống như râu. Đây cũng là đặc điểm khác biệt với hóp
nước (cành cong lên) và hóp đá (cành ngang hoặc cong xuống không nhiều bằng).


Bẹ mo thường nhẵn; đáy dưới rộng 14-20cm, cao 14-16cm; đáy trên rộng 8-11cm.
Phiến mo có hình tam giác cân hơi lệch, rộng 4,5-8cm, cao 4-5,5cm, mặt trong có lơng
ờ đáy phiến mo. Lưỡi mo cao đến 0,1cm, có lơng thưa.
Phiến lá hình thn, dài 6-9cm, rộng 1,2-1,5cm. Gốc lá nhọn, lệch. Gân lá 5-6 đơi.
T lá thấp, cao 0,1-0,2cm, có lơng thưa mềm dài 0,5cm. Bẹ lá khơng lơng, cuống lá dài
0,1-0,2cm.
Loài được phát hiện trên đường đi Sơn La, tại Bản Bó 2, Phù Yên của đồng bào dân
lộc Mường. GS. Xia cho rằng nó giống như lồi Bambusa tultoides Munro, nên thống
nhất tạm đặt tên cho là Bambusa cftultoides Munro mà chưa có điều kiện xác định tên
kỹ hơn.
22. Tre ven

Tên khác

: Hóp gai Long Thành

Tên khoa học

: Bambusa flexuosa Schultes

Chi

: Tre (Bambusa)

Tre ven là loài cây mọc cụm dày, thân có chiều cao 10-12m, đường kính thân đạt
6-8cm, có hình dáng và kích thước giống như Tre gai hoặc nhỏ hơn một chút, lóng thân
đài 25-30cm. Các cành ở đoạn thân dưới có nhiều gai nhọn sắc.Thường có một cành
to và hai cành nhỏ mọc ra từ mỗi đốt thân. Thân và cành cómàu xanh thẫm.
Mo thân mặt ngồi có lơng đen, mịn. Bẹ mo đáy dưới rộng 38-42cm, cao 28-29cm;
đáy trên 21-22cm, hơi lõm ở hai tai, ở giữa cao đến 2cm. Phiến mo có lông ở hai mặt,
rộng 13cm, cao 23cm, hai mép ở gần đáy có lơng cứng dày, dài đến 0,6cm. Tai mo có
lóch thước 0,7 X 4cm, lượn sóng, có lơng cứng dày, dài đến 1cm. Lưỡi mo cao đến
I1 cm , có lơng cứng dày, dài đến 1cm, ngắn và thưa dần ở giữa.
Lá dạng dải. Phiến lá dài 20-22cm, rộng 1,6-1,9cm. Gốc lá nhọn, đáy lệch. Gân lá
6-7 đôi. Tai lá thấp, có lơng mảnh dài đến 1,2cm. Bẹ lá có lơng dày ở hai mép. Cuống
lá dài 0,1-0,2cm.
Đây là loài tre mọc tự nhiên, đặc trưng của vùng Long Thành (Đồng Nai) và đã
được GS. Phạm Hoàng Hộ (1999) ghi tên là Bambusa flexuosa Schultes.
23. Luồng may
Tên khoa học

: Bambusa gibba McClure


Chi

: Tre (Bambusa)

Luồng may là loài tre mọc cụm, thân cây cao 8-10m, đường kính thân 3,5-4,5cm,
vách thân dày 0,8-1cm, lóng thân dài 38-42cm. Thường có một cành to và nhiều cành nhỏ.
Mo thuôn dài, đáy rộng, thót dần và nhỏ ở đáy trên, mặt ngồi có lông nâu ở đáy
irên và nâu đen ở đáy dưới, có nhiều phấn trắng. Đáy dưới có hai mép nhơ ra và lõm ở
giữa, rộng 12-14cm; cao 18-19cm; đáy trên nhô cao ở giữa, lõm dần và nhô cao ở hai
103


mép, rộng 4-4,5cm. Phiến mo dạng dải, thuôn dài, mặt trong có lơng mịn màu nâu và
dày ở đáy, rộng 1,5-2,5cm, dài 6,5-7cm. Lưỡi mo nhô cao ở giữa và thấp dần ở hai
mép, giữa cao đến 0,6cm và xẻ thuỳ. Tai mo nhơ cao, lượn sóng và ơm lấy phiến mo,
rộng 1-1,3cm, cao 0,4-0,5cm, có lơng thưa cứng và cao đến 1,2cm.
Lá có dạng hình nêm, mặt dưới có lơng mịn màu bạc, dài 14-16cm, rộng 1,2-1,4cm,
gốc lá có đáy trịn hay bằng, hơi lệch. Gân lá 4-5 đơi. Tai lá dài 0,1cm, rộng 0,1cm,
đứng và nhơ ra ngồi, có lơng thưa cứng, cao đến 1,3cm. Bẹ lá có lông màu bạc, đứng.
Cuống lá rộng 0,1cm, dài 0,2cm, mặt trên và dưới có nhiều lơng mịn.
Mùa ra măng vào khoảng tháng 8-9. Loài được thu mẫu tại Sơn Thuỷ (Quan Sơn,
Thanh Hoá).
24. Tre lạt
Tên khoa học

: Bambusa intermedia Hsueh et Yi

Chi


; Tre (Bambusa)

Tre lạt là loài tre mọc cụm dày, có ngoại hình giống như

hóp.Thân câycao

10-15m, đường kính 5-6cm, vách dày 2cm, lóng thân 45-50cm. Thường có một cành to,
hai cành nhỏ hơn và nhiều cành nhỏ hơn, cành ngắn thường có lá tập trung ở gần thân.
Mo thân dạng cầu vồng hay hình thang. Mo phù ở đốt, mặt ngồi có lơng màu tím
đen, cứng. Bẹ mo có đáy dưới hơi lượn sóng, hai mép nhơ ra, rộng 24-28cm, cao
17-21cm; đáy trên lõm, một vai nhô cao và nhọn, một vai thấp và hơi xuôi xuống, rộng
3,5-4cm. Phiến mo hơi thn, mặt trong có lơng màu nâu đen dày ở đáy, rộng
1,8-2,1cm, cao 4~5cm. Tai mo xuất hiện ở một mép có vai thấp, rộng 1,5-1,9cm, cao
0,2-0,3cm, có lơng dài đến 1cm. Lưỡi mo cao đến 0,1cm, có lông màu bạc dày và cứng
cao đến 1,5cm. Măng CD màu tím đen.
Lá hình nêm, mặt dưới ở gần gốc có lơng mịn màu bạc, mép lá men theo cuống.
Phiến lá dài 12-16cm, rộng 1,8-2cm. Đáy bằng hay lõm, hơi lệch. Gân lá 6-7 đơi. Lưỡi
lá thấp có lơng màu trắng dày cao đến 0,5cm. Cuống lá dài 0,2cm, rộng 0,1cm.
Lồi được tìm thấy dọc đường từ Lào Cai đi Lai Châu, Điện Biên và mẫu vật được
thu tại Sa Pa (Lào Cai) trên độ cao 1500m.
25. Dùng phấn
Tên khác

: Dùng nhà

Tên khoa học

: Bambusa (Lingnania) chungii McClure
Lingnania chungii (McClure) McClure


Chi

: Tre (Bambusa)

Dùng phấn là loài tre mọc cụm và tạo thành bụi thưa. Cây cao 10 -18m, đường kính
6-7cm. Tồn thân có phấn trắng dày che phủ làm bụi Dùng phấn nổi bật. Lóng dài
45-50cm, có khi hơn (tới 80cm), vách thân mỏng (0,4cm). Vịng mo khi non có lớp lông
104


màu nâu quay đầu xuống, về sau nhẵn. Khác với một số loài tre khác là Dùng phấn
"nỗi đốt thân mang nhiều cành, tức là có nhiều cành nhỏ phát triển từ một gốc giống
như nứa.
Mo cứng, màu vàng nhạt, khi rụng để lại dấu vết ở vòng mo. Mặt ngồi mo thân có
lơng đen dày, đáy dưới bẹ mo rộng 23-26cm, cao 27-30cm, đáy trên rộng 5,5-6,5cm,
hai đầu nhô cao. Phiến mo màu vàng nhạt, hình trứng, rộng 2,5-3,5cm, cao 9-12cm,
lé p cuộn, mặt trong có lơng ở gốc. Thìa lìa thường khơng xẻ răng, trên mép có hàng
llõng. Tai mo ít phát triển, có dạng lượn sóng, cao 0,2-0,3cm, dài 2-2,5cm, trên mép có
"rót hàng lơng thơ cứng cao 1,2cm. Mặt trong tai mo lông dày mềm, đứng. Lưỡi mo cao 0,1cm.
Lá non hình nêm, lá già hình dạng dải. Mặt trên lá phần trên có lơng. Phiến lá đầu
nhọn, đi trịn hay gần trịn, dài 18-20cm, rộng 1,8-2cm, hơi dày. Gân lá 5-6 đôi. Lưỡi
tá 0,1cm. Bẹ lá khơng lơng. Tai lá thấp có lơng cứng thưa, 5-6 chiếc, dài 1,5cm.
Ra măng mùa thu. Măng ăn được.
Phân bố ở vùng Đông Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Được trồng khá phổ biến
ỡvùng Đông Bắc như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh.
Thân nhiều sợi dai, dùng để làm lạt buộc, dây thừng, đan lát. Dáng cây thẳng đẹp,
Hhản có phấn trắng, có thể trồng làm cảnh.
Lồi đã được GS. Xia và GS. Li nhất trí định danh và ghép vào chi này.
26. Dùng cầu Hai
Tên khoa học


: Bambusa (Lingnania) sp.nov.

Chi

: Tre (Bambusa)

Dùng Cầu Hai là lồi tre mọc cụm có gặp trong rừng tự nhiên và cũng được trồng ở
wing Trung tâm Bắc Bộ, tập trung nhiều ở Thanh Hoá, Nghệ An. Để phân biệt với
Bung phấn (Bambusa (Lingnania) chungii McClure) và Lùng Thanh Hoá (Bambusa
ỊỊUngnania) sp.nov.), loài được gọi là Dùng cầu Hai. Đây là loài đã được GS. Xia và
GS. Li coi là lồi mới (sp.nov.). cấu tạo hình thái giống như Lùng Thanh Hố.
Thân cây trung bình, trịn đều, cao 12-13m, đường kính thân- 4-5,8cm, vách thân
:ày 0,7cm, lóng thường khá dài dài, 50-55cm, song khơng dài bằng lóng của Lùng
Thanh Hố. Vịng mo nhơ cao, phủ một lớp lơng hung dày cao 0,4cm. Dưới vịng mo có
«ơng phấn trắng cao 0,5cm. Mỗi đốt mang nhiều cành to gần như nhau, có khi tới
I 4cm. Thân màu xanh, thân non phủ phấn trắng ở các đốt phía trên.
Mo thân dễ rụng, đáy dưới rộng 21,7cm, đáy trên rộng 11,2cm. Phiến mo rộng
:,5cm, cao 21cm, mỏng. Phiến mo thường cụp vể phía sau. Tai mo rộng 3,5cm, cao
m a trong 0,4cm, ở mép ngồi thị dài 2cm, cao 0,8cm, có một hàng lơng tua dài 1cm.
_jJ0i mo nhô cao ở giữa, cao 0,15cm, mép có răng cưa thấp 0,05cm.
Lá hình ngọn giáo, đầu nhọn, gốc lá trịn hay hình tim lệch. Phiến lá dài 22-24cm,
lộng 2,4-2,5cm. Gân lá 6 đôi. Tai lá một bên to (rộng ũ,4cm, mang 9 lơng dài 1,1cm).
•một bên nhỏ, rất thấp, mang 7 lông dài 1cm. Cuống lá dài 0,2cm, rộng 0,2cm.


Mùa ra măng tháng 6-8.
Dùng là lồi tre có kích thước trung bình và lóng dài nên được dùng để đan phên
cót, làm mành, làm lạt. Có thể dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến ván ép,
làm sợi, làm giấy. Măng được lấy ăn tươi nhưng không được ngon.

27. Lùng Thanh Hóa
Tên khác

: Vầu (Thanh Hố)

Tên khoa học

: Bambusa (Lingnania) longissima sp.nov.

Chi

: Tre (Bambusa)

Lùng là loài tre mọc cụm có nhiều trong rừng tự nhiên và cũng được trồng ở Bắc
Trung Bộ và Trung Tâm Bắc Bộ, tập trung nhiều ở Thanh Hoá, Nghệ An nên để phân
biệt với Dùng phấn (Bambusa (Lingnania) chungii McClure) và Dùng cầu Hai
(Bambusa (Lingnania) sp.nov.), lồi được gọi là Lùng Thanh Hố. Đây là loài đã được
GS. Xia và GS. Li coi là lồi mới (sp.nov.).
Thân cây trung bình, trịn đều, lóng thường rất dài, 60-80cm, đơi khi trên 100cm.
Vịng mo nhơ cao, mỗi đốt mang nhiều cành chính.
Mo thân dễ rụng, đầu bẹ mo rất rộng, bằng hay hơi nhô lên. Lá mo thường cụp về
phía sau.
Lá hình ngọn giáo, đầu nhọn, gốc lá hơi nhọn. Phiến lá dài 18-20cm, rộng 2,9-3cm.
Cuống dài 0,1cm. Bẹ lá có lơng bạc ở nửa phía trên. Tai lá có 9-10 cặp lơng nhơ ra
ngồi, tai lá màu bạc, dài 0,1 cm. Lông ở tai lá dài 1,2cm. Cọng lá màu tím, gân lá 8-9 đơi.
Lùng là lồi tre có kích thước trung bình và lóng dài nên được dùng để đan phên
cót, làm mành. Có thể dùng làm ngun liệu cho cơng nghiệp chế biến ván ép, làm sợi,
làm giấy. Măng được lấy ăn tươi nhưng khơng được ngon.
28. Hóp sào
Tên khác


: Hóp cần câu

Tên khoa học

: Bambusa multiplex (Lour.) Raeuschel ex J.A. et J.H.Schultes

Tên đồng nghĩa

; Arundo multiplex Lour.
Ludolfia glaucescens Willd.
Arundinaria glaucescens (Willd.) Beauv.
Bambusa nana Roxb.
B. glaucescens (Willd.) Sieb. ex Munro
B. dolichomerithalla Hayata
Leleba dolichomerithalla (Hayata) Nakai

Chi

: Tre (Bambusa)

Hóp sào là lồi tre mọc cụm dày, thân cao 2-4m, đường kính 1,5-2,5cm, nhẵn, màu
106


xanh lá cây khi non và ngả vàng khi thân già, có nhiều cành ngay từ gốc. Mỗi đốt thân
có một cành chính to và nhiều cành nhỏ. Lóng dài 20-40cm. Măng thanh mảnh, mo
măng màu xanh lá cây hơi vàng.
Mo thân cao 10-15cm, rộng 5-8cm, có màu xanh lá cây khi non và ngả vàng khi
già, thon nhỏ dần lên phía trên và có đỉnh trịn. Phiến mo hình tam giác, cao 5-8cm,

hẹp và nhọn.
Phiến lá thường dài 5-10cm, rộng 0,8-1,3cm, hẹp và nhọn, gốc nhọn.
Các thông báo cho biết loài đã ra hoa ở Đức vào các năm 1808 và 1839; Bănglađét
/ào năm 1851 và 1879; Xri Lanca và năm 1863; Calcutta vào năm 1890, Singapo năm
1892 và ra hoa lại ở Bănglađét lẻ tẻ vào các năm 1977-1985.
Cây bản địa của Trung Quốc và Nhật Bản, song được trồng rộng rãi ở nhiều nước
ctiàu Á. Được biết loài được đưa vào Vườn thực vật Calcutta, Ấn Độ vào năm 1794 và
vào châu Âu trước năm 1800.
Cây sống trên nhiều dạng đất khác nhau và trên độ cao tới 1500 m so với mực
TƯỚC biển. Lồi có thể chịu đựng được sương giá.
Cây có ở một số tỉnh phía Bắc, thường được dùng làm sào thuyền, cán nơng cụ,
Thà cửa v.v. Có hai giống được trổng làm cảnh, hàng rào ở một số nơi, đó là:
Tre sọc vàng: Bambusa multiplex (Lour.) Raeuschel cv. Alphonso-karri R.A.Young
Tre hàng rào: Bambusa multiplex (Lour.) Raeuschel cv. Fernleaf R.A.Young
29. Hóp Củ Chi
Tên khác
Ten khoa học
Chi

: Trúc Củ Chi
: Bambusa mutabilis McClure
: Tre (Bambusa)

Hóp Củ Chi là loài tre mọc cụm, được trồng từ lâu ở một số tỉnh Nam Bộ và Nam
~mng Bộ. Cây cao khoảng 3-5 m, đường kính thân 2-2,5cm. Thân non có màu xanh
mhat. Thân trịn đều, đứng thẳng. Lóng dài 20-30cm, có khi hơn.
Bẹ mo có đáy dưới rộng 9-1 Ocm, cao 11-13cm; đáy trên tù, rộng 2,3 - 2,6cm. Phiến
mo hình tam giác, rộng 1,3-1,5cm, cao 1,8-2cm. Tai mo rộng 0,5-1cm, cao 0,2-0,4cm,
có lơng thưa, mảnh, dài đến 0,3cm. Lưỡi mo cao đến 0,1 cm có lơng cứng thưa, khỉ rụng
'để lại các vết dạng răng cưa.

Lá hình dải, mặt dưới có lơng mịn, dày. Phiến lá dài 16-18cm, rộng 1,4-1,7cm, gốc
!ã nhọn, đáy lệch, gân lá 6-7 đơi. Tai lá 0,1 X 0,2cm, có 5-7 lơng dài đến 0-,3cm. Be lá
lơng mịn, thưa. Cuống lá dài 0,3cm.
Hóp Củ Chi là lồi tre nhỏ, lóng dài, mỏng, và khá mềm nên được dùng làm nan
đan thúng, mủng, sọt đựng rau quả hay rổ rá, phên liếp.

107


30. Lục trú c
Tèn khoa học

: Bambusa oldhamii Munro

Tên đỏng nghĩa : Dendrocalamopsis oldhami (Munro) Keng f.,
Leleba oldhamii (Munro) Nakai
Sinocalamus oldhamii (Munro) McClure.
Chi

: Tre (Bambusa)

Lục trúc là loài tre mọc cụm thưa cây, có kích thước nhỏ, khơng gai, lávừa,thân k
sinh có ngọn cong. Thân tre cao 8-9m, đường kính 3-7cm. Lóng dài 30-36cm, vách
thân dày 1,0cm. Thân cây khơng thật thẳng, trịn đều, nhẵn. Cây non mầu xanh có
phấn trắng. Cây già mầu xanh thầm. Mắt ngủ nhỏ, rộng 1,5cm, cao 1cm.
Đốt thân khơng nổi rõ. Mỗi đốt có 1 cành to, 2 cành nhỏ và một số cành phụ. Đùi
gà cành to có khả năng phát triển mầm măng và rễ.
Bẹ mo hình chng, đáy rộng. Đáy dưới rộng 25cm, cao 15,7cm; đáy trên rộng
6,4cm. Phiến mo phần giáp bẹ mo rộng 4,3cm; cao 5,5cm, phần giữa rộng 4,4cm. Lưỡ
mo cao 0,15cm, bằng; mép có răng cưa ngắn.

Mép lá có răng cưa nhỏ, sắc. Phiến lá hình mũi giáo thuôn dài, dài 27-32cm, rộng
4,8-6,3cm, đầu vút nhọn, gốc trịn, gân lá 12 đơi. Lưỡi lá cao 0,1cm, tai lá rộng 0,2cm,
cao 0,1cm, mép lưỡi lá có một hàng lông cao 0,6cm. Cuống lá dài 0,5cm; rộng 0,4cm.
Măng ra vào tháng 6-8 hàng năm. Măng ăn ngon và xuất khẩu tốt. Thân cây có thể
làm nguyên liệu giấy.
Lục trúc có nguồn gốc ở Nam Trung Quốc. Giống gốc Lục trúc được nhập từ Đài
Loan vào Việt Nam, được trồng lần đầu tiên trên 20 ha tại đổi Lộc Ninh, xã Ngọc Châu,
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang từ đầu năm 1996. Ngày nay Lục trúc đã được nhập về trồng ở
nhiều nơi khác.
Có thể trồng Lục trúc lấy măng trên nhiều vùng có khí hậu và đất đai khác nhau
nhưng phải thực hiện thâm canh. Măng lục trúc nhỏ nên cần phải trồng tập trung mới
đáp ứng được yêu cầu kinh doanh.
31. Hóp Sơn Động
Tên khác
Tên khoa học
Chi

: Dùng
: Bambusa papillata Q.H.Dai
: Tre (Bambusa)

Hóp Sơn Động là lồi tre mọc cụm dày. Thân cây cao 6-1 Om, đường kính 2,5-3cm,
lóng thân dài 50-70cm nên đồng bào địa phương Sơn Động cịn gọi là cây dùng. Vách
thân dày 0,8cm. Thường có một cành to và hai cành nhỏ.

108


Bẹ mo mặt ngồi có lơng đen nằm dày; đáy dưới rộng 6-8cm, cao 14-15,5cm; đáy
trên lõm, sâu 0,3-0,4cm, rộng 3-4cm. Phiến mo có hình tam giác cân, rộng 1,5-2cm,

cao4-5cm. Tai mo cao 0,2-0,3cm, dài 1-1,5cm, có mép lượn sóng, có lơng cứng thưa
cao đến 0,6cm. Lưỡi mo cao 0,2cm, có lơng thưa dài 0,3cm.
Lá hình lưỡi mác. Phiến lá dài 18-20cm, rộng 1,5-1,8cm. Gốc lá nhọn, hơi lệch. Gân
» 5 - 6 đôi. Lưỡi lá cao 0,1cm. Bẹ lá khơng lơng. Tai lá thấp có lơng thưa dài đến 0,5cm.
Ouống lá 0,1-0,2cm.
Mùa ra măng vào các tháng 3-6. Măng phủ đầy lông màu đen.
Thông tin cho biết cây ra hoa ở 50 tuổi và thường chết sau đó như ở Nam Trung
'Quốc. Khơng cho nhiều hạt.
Lồi thường mọc dọc đường đi ven sông ở Sơn Động (Bắc Giang) và đã được
C5S- Xia và GS. Li nhất trí định danh.
12- LỒ ô Trường Sơn
Tên khác

: Lồ ô Tenon

Tên khoa học

: Bambusa polymorpha Munro

Chi

: Tre (Bambusa)

Lồ ơ TrườngSơn là lồi tre mọc cụm thưa, thân thẳng cao 8-10 m, đường kính thân
5-ßcm, vách dày 0,5-0,7cm, lóng thân dài 45-50cm. Một cành to, nhiều cành nhỏ, tán
day. phía trên và dưới lóng có hai vịng phấn trắng, cao đến 1,5cm.
Mo có dạng hình thang, mặt ngồi có lơng màu nâu đen dày; hai mép bẹ mo ở đáy
duới lệch nhau, một mép hơi cong và một một mép thẳng; đáy dưới hơi lượn sóng, rộng
26-28cm; cao 19-21cm; đáy trên lõm, rộng 8-9cm, nhơ cao ở giữa đáy của phiến mo.
Phiến mo hình tam giác, đầu có mũi nhọn ngắn, mặt ngồi có gân nổi rõ, mặt trong có

ỏng màu nâu đen, dày ở đáy, cao 4-5cm, rộng 3,5-4cm. Lưỡi mo cao đến 0,2cm, có
lãng cứng thưa, cao đến 0,3cm. Tai mo lệch nhau, một tai nhơ ra ngồi và cong xuống
đạng liềm, rộng 3,5-4cm, cao 1-1,2cm, có lơng thưa cao đến 0,4cm; một tai to hơn, nhơ
ra ngồi và có đầu cong xuống theo mép bẹ mo, rộng 3-3,5cm, cao đến 1,5cm, có lơng
cứhg thưa, cao đến 0,4cm.
Phiến lá thn hay elip trứng, hai mép có răng cưa nhỏ, mặt dưới ở gần đáy có
lõng dài và đứng, màu bạc, dài 20-24cm, rộng 2,1-2,6cm. Gân 7-8 đơi. Gốc lá trịn hay
tiơĩ nhọn, đáy lệch. Bẹ lá có lơng màu bạc, dày và đứng. Tai lá to dần từ trong ra ngoài
■nép, rộng 0,3-0,4cm, cao đến 0,2cm, có lơng thưa, đứng dài đến 0,3cm. Cuống lá dài
đến 0,3cm, rộng đến 0,2cm.
Loài được biết là ra hoa theo chu kỳ và cả không theo chu kỳ nào. Ghi chép lâu nhất
ềé ra hoa loài này là vào năm 1854-1860 ở Mianma. Ra hoa sau đó là vào năm 1914 và
do vậy ước đốn chu kỳ ra hoa là 55-60 năm. Giai đoạn 1929-1930, loài ra hoa ở những
nơi khô hạn. s ố lượng hạt là khoảng 21.000-40.000 hạt/kg tuỳ theo vùng với tỷ lệ nảy
■ mầm khoảng 40%.
109


Phân bố tự nhiên của loài là ở Ấn Độ, Băngỉađét, Mianma đến Việt Nam. Lồ õ
Trường Sơn là loài tre có trong rừng tự nhiên và được sử dụng khá phổ biến ở các tỉnh|
miền Trung nước ta như Quảng Nam, Kon Tum.
Lồ ơ Trường Sơn thích hợp cho việc chế biến làm ván ép, nguyên liệu sản xuất
giấy, vật liệu xây dựng nhà, làm đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đến lấy măng làm thúc
ăn. Người Mianma sử dụng làm tường, sàn và mái nhà cịn người Inđơnêxia cũng dùng
để xây dựng nhà cửa. Trong số 27 loài tre được sử dụng làm thức ăn thì lồi này đượcỊ
người dân Puerto Rico coi là tốt nhất vì có vị ngọt đặc biệt.
Mùa măng vào khoảng tháng 6-9. Đặc trưng của măng là lúc non có lơng dày, màu
đen. Loài thường thấy dọc đường Trường Sơn từ Kon Tum đi Quảng Bình. Mau được
thu tại Tenon (Kon Tum).
33. Lồ ò Bình Long

Tên Khoa học

: Bambusa procera A. Chev. et A. Cam.

Tên đống nghĩa : Schizostachyum zollingeri steudel
Chi

: Tre (Bambusa)

Lồ ơ Bình Long là lồi tre to, khơng gai, lá vừa, mọc cụm vừa, thân khí sinh có ngọn
rủ. Thơng thường thân thẳng; khi bị chặt phá, bị đè chèn (thối hố) thì cây ở dạng trườn.
Thân Lồ ơ Bình Long cao 15-16m, đường kính thân 5-7cm, lóng dài 50-80cm, vách
thân dầy 0,8-1cm. Thân tròn đều, nhẵn, vòng mo nổi rõ. Cành chính to dài, đùi gà phát
triển và ít cành nhỏ. Thân lúc non có mầu xanh bạc do có lớp lơng trắng sớm rụng:
càng về già, thân có mầu xanh đậm với những đốm loang lổ.
Bẹ mo hình thang cân, rộng 24-28cm, cao 18-19cm; đáy trên 5-6cm; hai vai lõm
xuống, mặt ngồi có lơng hung mịn. Phiến mo hình mũi giáo.
Phiến lá thn dài, dài 25-27cm, rộng 5-5,5cm, đầu nhọn, gốc lá tù hay trịn. Gân lá
6-8 đơi. Lưỡi lá dài đến 0,1cm, có lơng thưa dài đến 0,8cm. Bẹ lá khơng lơng. Cuống lá
dài 0,2-0,3cm.
Lồ ơ Bình Long phân bố tự nhiên ở vùng có khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt.
Thường gặp ở độ cao 100-400 m so với mực nước biển. Lồ ô mọc nhiều ở vùng Đông
Nam Bộ và Lâm Đồng, song tập trung nhiều ở tỉnh Bình Phước.
Rừng Lồ ơ Bình Long đựơc hình thành trong quá trình diễn thế sau khai thác rừng
gỗ; cây mọc tập trung nhất là ở sườn và đỉnh đồi; mọc tự nhiên thành từng vùng lớn
thuần loại hoặc có thể hỗn giao với một số loài cây gỗ.
Măng ra từ tháng 6 đến tháng 10, song tốt nhất là tháng 7-8.
Lồ ơ Bình Long có lóng dài thích hợp để làm ván ép. Ngồi ra Lồ ơ Bình Long cịn
được làm các đồ dùng sinh hoạt (làm đũa, đan lát) và khai thác măng ăn.
110



34. Tre là ngà
Tên khoa học

: Bambusa sinospinosa McClure

Tên đóng nghĩa : Bambusa blumeana Schult. & Schuct. f.
Bambusa arundo Blanco
Bambusa pungens Blanco.
Bambusa spinosa Blume ex Ness,
Bambusa stenostachya Hack.
Chi

: Tre (Bambusa)

Tre là ngà là lồi Tre mọc thành cụm dày, có kích thước lớn, rất nhiều gai nhọn, lá
nhỏ, thân thẳng có ngọn cong.
Thân cây tre là ngà cao tới 22m, đường kính thân 11-13cm, lóng dài 20-23cm. Có
một cành to và hai cành nhỏ. Cành phát triển ngay từ gốc, mọc ngang, vươn dài cách
thản 3-4m, đầy gai nhọn sắc.
Thân thẳng, tròn đều, thon dần từ gốc lên ngọn (phần thân sát đất có thể nhỏ hơn
đoạn giữa thân). Thân cây non thường xanh bóng, thân cây già xanh mốc. Lóng có vết
lõm chỗ mắt cành.
Cành có ngay từ những đốt gần sát đất mà đặc trưng là có rất nhiều tầng gai to,
cứng và sắc, rất khó tiếp cận đến thân cây.
Bẹ mo hình thang, đáy lớn rộng 35cm, đáy bé chỉ rộng 1,5cm, cao 22cm. Bẹ mo
rụng sớm. Phiên mo có hình tam giác, mặt trong nhiều lơng đen. Tai mo hình lưỡi hái
phát triển và nhẵn, có lông mầu trắng bạc cứng dài.
Phiến lá dài 17-20cm, rộng 1,4-1,6cm, thn dài, đầu vút nhọn, gốc lá hình nêm

hoặc nhọn, hơi lệch. Gân lá 6 đối. Mặt trên xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt và bóng
láng. Lưỡi lá ngắn. Cuống lá dài 0,1cm, rộng 0,15cm.
Tre là ngà là loài tre mọc cụm, thường có mặt trong rừng tự nhiên, mọc hoang ven
đường đi, ven sông suối lớn suốt từ Bắc tới Nam và được trồng rộng rãi ở Nam Bộ. Đỏi
khi gặp một số cây trong bụi ra hoa.
Tre là ngà là loài tre to thường được dùng làm vật liệu xây dựng, có thể dùng làm
nguyên liệu giấy và chế biến ván ép. Mùa măng vào các tháng 5-9. Măng to và ăn
ngon.
35. Tre trẩy
Tên khoa học

:

Chi

:

Bambusa surrecta sp.nov.
Tre (Bambusa)

Tre trẩy là loài tre mọc cụm thưa, thân cây thẳng, có màu xanh bóng. Thân cây cao
8-12m, đường kính thân 5-7cm, lóng dài 40 - 46cm, vách thân dày 1cm. Thường có một
cành to và 2 cành nhỏ, trên cành to có rễ ở gốc. Thân màu xanh, vịng mo nổi rõ. Mo
rụng, mép vịng mo có vịng lông nhung mịn, mắt nổi rõ, rộng 2,1cm; cao 0,8cm

111


Bẹ mo mặt ngồi có lơng cứng đứng sớm rụng, riêng phần bẹ mo phía dưới có lơng
cứng nằm. Đoạn dưới của thân, đáy dưới bẹ mo rộng 14-15cm, cao 14,5-17,5cm, đáy

trên bẹ mo rộng 1,5-1,8cm, hơi lõm ở hai vai. Đoạn trên của thân, đáy dưới bẹ mo rộng
và cao 21-23cm, đáy trên rộng 4,5-5,5cm, hơi lõm ở hai vai. Phiến mo đoạn thân dưới
rộng 0,6-0,8cm, cao 3,5-3,8cm; phiến mo đoạn thân trên rộng 4-4,2cm, cao 6-7,5cm.
Tai mo có kích thước 0,2-0,3cm, có lơng thưa dài đến 0,6cm, mặt trong có lơng ở đáy.
Lưỡi mo 0,1-Ọ,2cm, có lơng thưa cứng dài đến 1,2cm.
Lá hình nêm. Phiến lá dài 10-15cm, rộng 1,5-2,8cm, gốc tù, gân lá 8-9 đôi. Lưỡi lá
dài 0,1cm, có lơng tơ dài đến 0,5cm. Cuống lá khơng lơng.
Là lồi tre được trồng khá rộng rãi khắp cả Nam và Bắc. Tre trẩy thu mẫu ở cầu
Hai được GS. Xia và GS. Li đặt tên cho là B. surrecta. Tre trẩy thu được mẫu ở Bình
Định được coi là phân loài (subspecies) hoặc giống (variety) của cùng loài.
36. Hóp
Tên khoa học

: Bambusa textilis McClure

Chi

: Tre (Bambusa)

Hóp là lồi tre mọc cụm, kích thước trung bình, thân cây cao 6-1 Om, đường kính
3-5cm. Thân cây thẳng, lóng thân đều và dài.
Lồi có phân bố tự nhiên ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến (Trung
Quốc) và một số nơi ở Việt Nam. Trung tâm phân bố của loài ở Trung Quốc được coi là
ở Quảng Đông với rừng tự nhiên đạt tới 63.700 ha (Fu Maoyi, 1999).
Thường sống trên các vùng đất phù sa ven sông hoặc sườn núi.
Được sử dụng cho đan lát và làm giấy.
Có một số giống có chung nguồn gốc được trồng nhiều nơi, đó là:
B. textilis var. fasca McClure,
B. textilis var. gracilis McClure,
B. textilis var. glabra McClure,

B. textilis var. maculata McClure,
B. textilis var. purpuascens McClure.
Chúng được trồng cho mục tiêu kinh tế hoặc làm cảnh.
37. Mạy bông
Tên khoa học

: Bambusa tulda Roxb.

Tên đống nghĩa

: Dendrocalamus tulda (Roxb.) Voigt.

Chi

: Tre (Bambusa)

Mạy bơng là lồi tre mọc cụm, thân cao 7-15m, đường kính 5-7cm, nhẵn, màu xanh
lá cây khi non và xanh lá cây xám khi trưởng thành, đơi khi có sọc vàng. Phần thân
dưới thường khơng có cành. Lóng dài 40-70cm, có một vịng trắng dưới đốt. Vách mỏng.
112


I|

Bẹ mo có gốc bẹt, đáy rộng, cao 15-20cm, đỉnh trịn hoặc cắt ngang. Lưỡi mo hẹp.
Hai tai mo khơng đều nhau, tai mo to gắn liền với phiến mo. Một bên bẹ mo có nếp
nhăn rất đặc trưng và dễ nhận biết.
Phiến lá hình thn hẹp hay thn, dài 15-25cm, rộng 2-4cm.
Ra hoa theo chu kỳ trên một vùng lớn và chu kỳ ra hoa được thông báo là 30-60
năm. Gần đây nhất ra hoa vào năm 1986 ở Dehra Dun (ấn Độ). Sau khi ra hoa thì cả

bụi và các bụi của cả vùng đều chết. Tái sinh lại bằng hạt trên tồn vùng.
Có phân bố tự nhiên từ Ấn Độ, Bănglađét, Mianma, Thái Lan và Việt Nam. Mạy
oỏng được trồng nhiều ở vùng Tây Bắc, nhất là Sơn La. Cây được dùng cho nhiều mục
đích như sản xuất đồ gia dụng, làm mành, thu hoạch măng ăn.
38. Tre đùi gà
Tên khác
Tên khoa học
Chi

: Trúc đùi gà
: Bambusa ventricosa McClure
: Tre (Bambusa)

Là loài tre mọc cụm, cây cao 9-11m và đường kính đạt 4-6,2cm khi được trồng trên
■--ng và thường cao 1-2m, đường kính 1-2,5cm khi được trồng làm cảnh. Cây mọc thẳng
và các đốt thân khơng phình khi được trồng trên rừng, song khi trồng làm cảnh, đốt
ữìân thường phình to ở gốc giống như những đùi gà nên lồi được mang tên là Trúc đùi
gà. Vịng đốt hơi nhô cao. Thân màu xanh thẫm, khi già ngả sang màu hơi vàng. Dưới
ià trên vòng mo phủ một vịng lơng mịn màu trắng, cao 0,6cm. Vách thân dày 1cm,
Sóng dài 29-33cm. Thường có một cành to và nhiều cành nhỏ.
Mo thân ở đầu bẹ hơi rộng, nhô lên thành hình cung đối xứng. Bẹ mo có đáy dưới
'ông 19cm, đáy trên rộng 7,5cm; bẹ mo ở giữa nhô cao, hai bên thấp hơn ở đáy trên.
\lậ t ngoài phiến mo và bẹ mo tạo thành một mặt phẳng, rộng 8cm, cao 8,3cm. Tai mo
phát triển, rộng 0,7cm, cao 0,15cm, mép phủ lông dài 0,2cm. Lưỡi mo ở giữa cao
: 3cm, hai bên cao 0,2cm, có răng cưa ngắn.
Lá hình trứng hoặc hình ngọn giáo, đầu lá nhọn, đuôi lá bằng, dài 22-24cm, rộng
2,1-2,7cm. Gân lá 7 đôi. Lưỡi lá thấp, tai lá rộng 0,1cm, cao 0,15cm, mỗi bên mang 7
ồng, một bên lỏng ngắn dài 0,8cm, một bên lơng dài 1,2cm. Cuống lá dài 0,2cm, rộng 0,2cm.
Có phân bố tự nhiên ở Quảng Ninh (Móng Cái), Lạng Sơn của Việt Nam và Nam
Trung Quốc.

Cây thường được trồng làm cảnh, cây trang trí trong vườn hoa và tại nhà riêng.
Thân cây còn dùng làm gậy chống hoặc batoong.
Khi trồng làm cảnh, cây thường cho măng phát triển thành hai loại thân. Một loại
g ù nguyên các đốt thân phình to, loại khác có các đốt thân ít phình hoặc khơng phình to.
113


×