CHƢƠNG I
ĐẶC ĐIỂM SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CỦA TRẺ EM
1. Nguồn gốc và bản chất hoạt động tạo hình của trẻ em
1.1. Sự cần thiết phải nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất hoạt
động tạo hình của trẻ em
- Tầm quan trọng của hoạt động tạo hình và vai trị của nó trong sự
phát triển toàn diện của trẻ em.
- Hứng thú đặc biệt của trẻ em đối với hoạt động tạo hình.
- Mối liên quan mật thiết giữa hoạt động tạo hình với hoạt động chủ
đạo của tuổi mẫu giáo - hoạt động vui chơi.
- Yêu cầu của khoa học tâm lý, khoa học giáo dục. Đi sâu nghiên cứu
nguồn gốc, bản chất hoạt động tạo hình để nắm được các đặc điểm, các quy
luật hình thành và phát triển hoạt động, ảnh hưởng của nó tới sự phát triển
nhân cách trẻ em để từ đó tìm ra những con đường, những biện pháp tối ưu,
nhằm định hướng cho sự phát triển thẩm mỹ, sự phát triển toàn diện nhân
cách của trẻ.
1.2. Một số quan điểm tâm lý học về nguồn gốc và bản chất hoạt
động tạo hình của trẻ em
Trẻ em vẽ gì ? - Đó là câu hỏi được đặt ra cho những nhà nghiên
cứu. Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ giúp các nhà nghiên cứu lý giải về
nguồn gốc sự nảy sinh, phát triển hoạt động tạo hình và bản chất hoạt động
tạo hình của trẻ em.
1.2.1. Quan điểm của trường phái Ưu sinh trong tâm lý học
Quan điểm ưu sinh trong tâm lý học cho rằng, hoạt động tạo hình
của trẻ như quá trình bộc lộ tự nhiên, theo họ trẻ vẽ những gì nó biết
(G.Kerschensteiner), nó nghĩ (V. Stern) chứ khơng phải nó nhìn thấy, tức là
năng lực sẵn có từ khi sinh ra.
Quan điểm trên có lí ở chổ: Khi sinh ra trẻ cần có sự hiểu biết thế
giới xung quanh để tồn tại và phát triển. Vì thế trẻ phải tìm cách bộc lộ
mình một cách tự nhiên, đó là nhu cầu và họ cho rằng, quá trình phát triển
khả năng tạo hình của một đứa trẻ sẽ có các giai đoạn giống như những giai
đoạn phát triển hoạt động đồ họa mà người tiền sử, tổ tiên chúng ta đã trải
qua.
1
Tuy nhiên, quan điểm trên cũng chưa hoàn toàn đúng vì trẻ có thể vẽ
khi nó được “nhìn” các sự vật hiên tượng. Bởi vì từ thực tế sinh động mà
đối tượng kích thích nó nảy sinh ý định mơ tả. Trẻ “vẽ những gì nó thấy,
thích” bằng sự “hiểu biết”, “suy nghĩ” của mình. Như vậy, thấy - thích - vẽ
bằng suy nghĩ của mình về thế giới xung quanh là khởi đầu của mọi hoạt
động, trong đó có hoạt động vẽ của trẻ. Đồng thời quan điểm trên đã phủ
nhận tác động tích cực của thế giới bên ngồi tới trẻ em và phủ nhận vai trị
hoạt động nhận thức tích cực của trẻ trong q trình phản ánh thế giới xung
quanh thơng qua hoạt động tạo hình.
1.2.2. Quan điểm của trường phái Tâm lý học hành vi
Các đại diện của trường phái này (J. Watson, E. Tolman, K. Hull,
B.F. Skiner, ...) đã có những ý kiến khá độc đáo về sự phát triển tâm lý
cùng các khả năng hoạt động của trẻ em.
J. Watson đã đưa ra những ý kiến rất tiến bộ so với quan điểm ưu
sinh khi cho rằng, con người tự xây dựng nên bản thân chứ không phải vốn
sinh ra con người đã là con người; nhân cách con người là sự sáng tạo của
chính con người chứ khơng phải là sự ban ơn của thượng đế.
Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm đó J. Watson lại có nhận định khá sai
lầm trong việc giáo dục trẻ nhỏ. Ông chủ quan khi coi giáo dục chỉ như một
quá trình điều khiển các hành vi của trẻ em và khẳng định rằng, với một
môi trường chuyên biệt cho việc giáo dục trẻ, người ta có thể biến mỗi đứa
trẻ thành “chuyên gia bất cứ loại nào” theo ý muốn của nhà giáo dục mà
không cần tính đến tài năng, thiên hướng, xu thế, năng lực, ước vọng của
trẻ, cũng như “khơng cần kể gì tới chủng tộc của ông cha chúng”. Biến trẻ
em như một hệ thống điều khiển được, như một chiếc máy sinh học hoạt
động theo các chương trình - điều này khơng thể áp dụng được vào việc
giáo dục thẩm mĩ, giáo dục nghệ thuật cho trẻ em.
1.2.3. Quan điểm của Tâm lý học cấu trúc
Khi nghiên cứu hoạt động tạo hình của trẻ em, các nhà tâm lý học
cấu trúc đã cho rằng “Trẻ em vẽ những gì chúng nhìn thấy”. Điều này cho
thấy tâm lý học cấu trúc đã khẳng định vai trò quan trọng của tri giác thị
giác (của “cái nhìn”) và vốn kinh nghiệm tri giác thị giác đối với sự hình
thành và phát triển hoạt động tạo hình của trẻ.
Quan điểm này là đóng góp rất lớn cho cơng tác giáo dục nghệ thuật,
nó chống lại lối dạy nghệ thuật theo phương pháp tiếp cận từng chi tiết, chỉ
dựa vào quy luật liên tưởng mà bắt người học ghi nhớ theo kiểu “tích cóp”,
nhồi nhét.
2
Tuy nhiên, do quá thiên về quy luật “bừng sáng’ và đánh giá q cao
về nó nhằm giải thích các hiện tượng sáng tạo trong hoạt động tạo hình như
là kết quả của sự “lóe lên” của “cấu trúc sinh học” mang tính tiền định là
một hạn chế. Vì nó đánh giá thấp hoạt động lao động sáng tạo, đặc biệt là
sáng tạo nghệ thuật vốn rất có ý thức của con người.
1.2.4. Quan điểm của Phân tâm học
Các nhà phân tâm học cho rằng, nguồn năng lượng trung tâm của các
hành vi của con người là năng lượng mang tính chất sinh học - năng lượng
tình dục.
Họ nghiên cứu khá nhiều tranh vẽ trẻ em, đặc biệt là các tranh vẽ
mang tính chất tượng trưng và có cách lý giải riêng về bản chất hoạt động
tạo hình của trẻ em. Chẳng hạn, họ cho rằng sự sáng tạo nghệ thuật chẳng
qua chỉ là biểu hiện của các bản năng vơ thức. Tình dục là nhu cầu bản
năng quan trọng nhất, bản chất nhất trong con người, song nó ln bị đè
nén bởi các tiêu chuẩn phẩm hạnh trong xã hội, vì vậy, nó phải thốt ra ở
dưới dạng được ngụy trang và một trong những sản phẩm được ngụy trang
đó chính là tranh vẽ.
Khi các nhà phân tâm học lý giải về bản chất tranh vẽ của trẻ, họ
khẳng định rằng, “Đứa trẻ vẽ những gì nó cảm thấy”. Cái “cảm thấy” ở
đây chính là các năng lượng sinh học bản năng.
Như trên ta thấy, với quan điểm của mình các nhà phân tâm học đã
sinh vật hóa tâm lý con người, làm cho con người mất đi tính chủ thể, tính
tích cực hoạt động và sự sáng tạo trong hoạt động tạo hình. Theo quan
điểm này thì hoạt động tạo hình đã mất đi bản chất xã hội.
Sự lý giải chỉ theo một quan điểm này hay một quan điểm khác ở
trên đều là phiến diện và đã chưa làm rõ được nguồn gốc, bản chất hoạt
động tạo hình của trẻ em.
1.2.5. Quan điểm của Tâm lý học duy vật biện chứng
Bản chất, nguồn gốc hoạt động tạo hình của trẻ em được các nhà tâm
lý học, giáo dục học Xơ viết xem xét từ góc độ của lý luận về sự phát triển
tâm lý trẻ (trong tâm lý học Xô viết). Cơ sở của lý luận này là luận điểm
mác xít về sự phát triển con người thơng qua q trình kế thừa mang tính
xã hội các tính chất tâm lý, các năng lực tâm lý đặc trưng cho con người;
qua quá trình lĩnh hội của cá thể nền văn hóa vật chất, tinh thần được đúc
kết trong lịch sử xã hội loài người.
3
Phát triển quan điểm trên, nhà tâm lý học Xô viết L.X.Vưgôtxki đã
chỉ ra rằng không phải tự nhiên mà trước hết là xã hội phải được xem như
là yếu tố quyết định hành vi của con người.
Trong các công trình nghiên cứu về bản chất hoạt động tạo hình của
trẻ, L.X.Vưgôtxki đã khẳng định rằng, sự lĩnh hội chức năng ký hiệu là một
hoạt động cơ bản và chung nhất của con người, phân biệt con người với
một con vật về mặt tâm lý. Ông đã nhấn mạnh nguồn gốc xã hội của ký
hiệu và vai trò của ký hiệu như một phương tiện giao tiếp, phát triển xã hội.
Theo ơng, trong q trình phát triển của mình, đứa trẻ phải tiếp thu các ký
hiệu xã hội, hiểu và nắm vững các quy định về việc sử dụng các ký hiệu xã
hội như những công cụ hoạt động tâm lý của con người. Và một trong
những hình thức ký hiệu xã hội mà đứa trẻ cần nắm được ở lứa tuổi của
mình - đó là tranh vẽ.
Khi tìm hiểu xem “trẻ em vẽ gì” các nhà tâm lý học duy vật biện
chứng đã nhận thấy tranh vẽ của trẻ em thể hiện các kinh nghiệm sau :
- Trước hết và nhiều nhất là các kinh nghiệm tri giác bằng thị giác về
các sự vật, hiện tượng, sự kiện trong thế giới xung quanh.
- Tiếp đó là các kinh nghiệm về sự vật xung quanh mà trẻ có được
khi tiếp xúc, tiếp nhận bằng các cơ quan cảm giác khác như xúc giác, cảm
giác vận động, thính giác, vị giác, khứu giác.
- Các khn mẫu đồ họa mang tính sơ đồ mà trẻ tiếp thu được từ
người lớn trong quá trình giao tiếp.
Sự thể hiện những kinh nghiệm trên có liên quan rất chặt chẽ với các
đặc điểm đặc trưng của khả năng tri giác, tư duy, tưởng tượng, xúc cảm,
tình cảm và thái độ rất riêng của từng đứa trẻ đối với thế giới xung quanh.
Tóm lại, các nhà tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định rằng,
hoạt động tạo hình của trẻ em là một hoạt động tổng hợp khá phức tạp. Qua
hoạt động đó trẻ bộc lộ các đặc điểm của một nhân cách đang được hình
thành. Sự phát triển hoạt động tạo hình chính là một khía cạnh của sự phát
triển tâm lý trẻ em. Nghĩa là nó cũng diễn ra thơng qua sự lĩnh hội của đứa
trẻ những phẩm chất, năng lực tâm lý đặc trưng cho con người mà những
phẩm chất, năng lực này đã được đúc kết trong lịch sử phát triển của loài
người và được in dấu trong nền văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội.
Như vậy, hoạt động tạo hình của trẻ em là một hoạt động có nguồn gốc xã
hội, mang bản chất xã hội rõ rệt.
4
2. Sơ lƣợc về quá trình hình thành và phát triển hoạt động vẽ
của trẻ em
Để tìm hiểu về quá trình hình thành, phát triển hoạt động tạo hình
của trẻ em, chúng ta xem xét sự phát triển của một dạng hoạt động mang
tính tạo hình đặc trưng nhất và xuất hiện sớm nhất - đó là hoạt động vẽ.
Có nhiều quan điểm và nhiều cách phân loại khác nhau về các thời
kỳ phát triển của hoạt động tạo hình. Tuy nhiên, đứng từ góc độ giáo dục
mầm non, có thể phân quá trình phát triển hoạt động tạo hình của trẻ em,
mà cụ thể là hoạt động vẽ thành hai thời kỳ : thời kỳ tiền tạo hình và thời
kỳ tạo hình.
2.1. Thời kỳ tiền tạo hình
Thời kỳ này bắt đầu không giống nhau ở mỗi đứa trẻ, thường vào
cuối năm thứ hai. Thời kỳ này diễn ra qua nhiều giai đoạn.
- Giai đoạn đầu của thời kỳ tiền tạo hình, được gọi là giai đoạn của
những đường nét lộn xộn khơng có ý nghĩa, lúc này trẻ chưa có ý định thể
hiện một sự vật nhất định nào cả. Các nét “vẽ” ban đầu chỉ là kết quả của
sự thỏa mãn nhu cầu vận động, khám phá thế giới xung quanh, đồng thời là
kết quả của sự bắt chước các hành động mà trẻ nhìn thấy ở người lớn. Sự
ham thích thực hiện các “thao tác vẽ” ở giai đoạn này chính là những biểu
hiện của tính tích cực khảo sát - định hướng : một chức năng tâm lý được
hình thành trong quá trình vận động với đồ vật và giao tiếp với người lớn.
Lúc này trẻ vô cùng thỏa mãn khi nhận ra được sự xuất hiện của những dấu
vết hiện lên ở mọi nơi do chính mình tạo nên, càng ngày trẻ càng bị thu hút
mạnh mẽ vào những vận động tạo ra các đường nét và càng tích cực quan
sát sự xuất hiện các đường nét từ bàn tay của chính mình.
- Ở giai đoạn thứ hai, trẻ tích cực tìm cách thay đổi tính chất của các
đường nét. Nhờ khả năng tri giác tích cực các đường nét mà tính tích cực
quan sát - định hướng của trẻ dần dần có được nét đặc trưng mới : hướng
vào việc tạo nên các đường nét khác nhau và vạch kín bề mặt tờ giấy.
Các nét vẽ (vạch) của trẻ lúc đầu còn rất lộn xộn vì bàn tay cịn chưa
thể đi theo hướng mà trẻ muốn. Nhưng rồi các vận động dần dần mang tính
chủ định, chúng thường đi theo một hướng, rồi thay đổi tính chất tạo nên
các đường nét đa dạng : các nét gẫy khúc rồi bắt đầu xoay tròn, uốn lượn
rồi cắt chéo nhau,...
- Sang giai đoạn thứ ba, trẻ bắt đầu liên hệ giữa những tổ hợp ngẫu
nhiên của các đường nét với những sự vật quen thuộc xung quanh, trẻ liên
5
tưởng và nhận ra hình ảnh của sự vật quen thuộc xung quanh, đồng thời cố
gắng mô tả các sự vật trong hình vẽ phối hợp với các cử chỉ, âm thanh hoặc
gọi tên vật đó.
Đỉnh điểm của sự phát triển này ở thời kỳ tiền tạo hình là sự xuất
hiện ý định lặp lại các hình thù do trẻ đã tình cờ tạo nên (hoặc do người lớn
đã gợi ý). Đây là giai đoạn xuất hiện, hình thành một dạng định hướng mới
: định hướng vào hình thù của các dấu vết đồ họa - một khả năng tâm lý
quan trọng đối với sự phát triển của hoạt động tạo hình.
Ở giai đoạn này, đứa trẻ bắt đầu lĩnh hội chức năng ký hiệu - một
trong những khả năng tâm lý cơ bản của con người, nhờ vậy trẻ bắt đầu
hiểu về chức năng của các hình vẽ là được dùng như một loại ký hiệu để
biểu đạt cho vật thật nào đó. Các hình vẽ bâng quơ ban đầu này đã được
mang một ý nghĩa cụ thể nào đó - Vẽ được cái mà trẻ thấy, trẻ biết. Nhờ có
khả năng này mà trẻ ngày càng tích cực vẽ. Xét kết quả về hình thức thì
tranh vẽ của trẻ lúc này không tiến bộ nhiều hơn so với tranh ở các giai
đoạn trước, song xét về khả năng tư duy và xúc cảm thì sự phát triển của trẻ
đã nhảy vọt : trẻ đã chủ tâm thể hiện hình ảnh nào đó mà nó chú ý, thích
thú, có cảm tình. Do sự yếu kém, khơng rõ ràng và khó hiểu của hình thức
tranh vẽ của trẻ em mà các nhà tâm lý học gọi giai đoạn này là giai đoạn
của những “hình vẽ khơng hình thù”.
Sự xuất hiện chức năng ký hiệu làm biến đổi mạnh mẽ toàn bộ hoạt
động vẽ, thúc đẩy sự chuyển biến của nó từ thời kỳ tiền tạo hình sang thời
kỳ tạo hình và chính bản thân chức năng ký hiệu cũng được hồn thiện dần
trong tiến trình của hoạt động tạo hình.
Tuy nhiên, xuất hiện chức năng ký hiệu khơng có nghĩa là hoạt động
vẽ của trẻ đã mang tính tạo hình thực sự. Chức năng ký hiệu còn xuất hiện
đồng thời trong nhiều hoạt động khác nhau ở trẻ như : hoạt động ngôn ngữ,
hoạt động vui chơi, học tập và trong đời sống hàng ngày.
Để phát triển khả năng hoạt động tạo hình và chuyển sang thời kỳ tạo
hình, đứa trẻ phải trải qua một giai đoạn phát triển cao hơn nhằm hình
thành một cơ sở định hướng mới đặc trưng cho hoạt động tạo hình - đó là
khả năng xây dựng các hình ảnh đồ họa trong đầu để tự điều khiển q
trình tạo hình bên ngồi.
2.2. Thời kỳ tạo hình
Đây là thời kỳ miêu tả có chủ tâm, có ý định rõ rệt.
6
- Giai đoạn đầu của thời kỳ tạo hình được gọi là giai đoạn sơ đồ :
giai đoạn này diễn ra khoảng từ 2 - 4 tuổi.
Đây là nét đặc trưng khá rõ nét của thời kì này, do sự hạn chế nguồn
dự trữ vốn biểu tượng hình tượng mà trẻ tiếp thu, tích lũy được trong q
trình tri giác.
- Loại thứ nhất, gồm các hình vẽ sơ đồ được trẻ bắt chước một cách
máy móc và sử dụng như những ký hiệu đơn thuần mang tính khái quát.
- Loại thứ hai, là các hình vẽ sơ đồ có nguồn gốc bắt chước, song
được trẻ độc lập xây dựng trong quá trình chúng quan sát, liên hệ với hình
ảnh của các sự vật thật. Đây là loại ký hiệu mang tính tạo hình được tạo
thành trên cơ sở sự kết hợp của Tri giác - Cảm xúc - Tưởng tượng sáng tạo
ban đầu. Các sơ đồ này sẽ dần được phát triển, sinh động hóa, cụ thể hóa
thành hình tượng nghệ thuật. Loại sơ đồ này là cơ sở nền tảng vững chắc
cho sự phát triển của tranh vẽ, của hoạt động tạo hình.
Tính sơ đồ trong tranh vẽ của trẻ ở giai đoạn đầu của thời kỳ tạo hình
là một hạn chế, làm cho tranh vẽ của trẻ có vẻ sơ sài, thiếu hấp dẫn, nhưng
nét đặc trưng này lại có một ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển tâm lý,
phát triển khả năng nhận thức của trẻ. Chính tính sơ đồ là yếu tố thúc đẩy
sự phát triển và từng bước hoàn thiện khả năng lĩnh hội và sử dụng chức
năng ký hiệu của trẻ.
- Giai đoạn sau của thời kỳ tạo hình được gọi là giai đoạn phân hóa :
Cùng với sự phát triển của tri giác, tư duy và các quá trình nhận thức
khác, tranh vẽ của các em từng bước chuyển sang giai đoạn phát triển, phân
hóa: các hình vẽ sơ đồ được biến đổi dần, ban đầu về số lượng, dần dần tới
chất lượng của hình vẽ. Các hình vẽ của trẻ ở giai đoạn này bắt đầu có hình
thức gần gũi với vẻ ngoài chân thực, phong phú, đa dạng của các sự vật,
hiện tượng trong cuộc sống, thể hiện những kinh nghiệm tiếp xúc giữa trẻ
với thế giới bên ngồi.
Nội dung và hình thức tranh trẻ em thể hiện ngày càng rõ các chuẩn
mực thẩm mĩ và đạo đức đặc trưng cho nền văn hóa của xã hội cụ thể nơi
trẻ đang sống, đặc biệt là các phương thức biểu lộ thái độ, tình cảm, quan
hệ của trẻ đối với những gì được miêu tả thơng qua các phương tiện tạo
hình.
Tùy mức độ nắm vững các phương pháp miêu tả, các kinh nghiệm
tạo hình được đúc kết trong nền văn hóa lịch sử cụ thể mà tranh vẽ của trẻ
ở các nền văn hóa khác nhau, các dân tộc khác nhau thì khơng giống nhau.
7
Như vậy, cùng với sự phát triển nhân cách của trẻ, nội dung tranh vẽ của
chúng ngày một rõ quan hệ riêng của đứa trẻ với thế giới tự nhiên và xã hội
xung quanh, phảng phất tính dân tộc, tính lịch sử cụ thể.
3. Một số đặc điểm cơ bản của hoạt động tạo hình ở tuổi mầm
non
Hoạt động tạo hình của trẻ chưa phải là một hoạt động sáng tạo nghệ
thuật thực thụ nhưng nó thể hiện các đặc điểm của một nhân cách đang
được hình thành. Hoạt động tạo hình của trẻ em khơng nhằm mục đích tạo
nên những sản phẩm phục vụ xã hội, cải tạo thế giới hiện thực xung quanh.
Mục đích và kết quả to lớn nhất của q trình hoạt động chính là sự biến
đổi, phát triển của chính bản thân chủ thể hoạt động (trẻ em).
Một đặc điểm rất rõ nét trong hoạt động tạo hình của trẻ em đó là
tính duy kỷ. Xem tranh vẽ của trẻ nhỏ ta thấy cái mà trẻ quan tâm hơn cả
trong q trình vẽ đó là việc “vẽ cái gì” chứ khơng phải “vẽ như thế nào”.
Tranh vẽ của trẻ nhỏ dường như là một câu chuyện đồ họa. Khi kể “câu
chuyện” ấy, cũng như khi kể chuyện bằng lời nói, trẻ thường vẽ bắt đầu từ
một chi tiết nào đó, sau đó thêm dần các chi tiết mới. Đôi khi trẻ liên kết
vào một bức tranh tới vài hành động, vài sự kiện xảy ra với cùng một nhân
vật (nhân vật đó được vẽ nhiều lần, ở nhiều vị trí, tư thế trong bức tranh) và
kết quả là tạo nên một bố cục rất thoải mái. Khi vẽ tranh, trẻ thường khó
phân biệt sự vật, nhân vật chính và chưa biết cách làm cho chúng nổi bật,
những gì trẻ muốn thể hiện thường được liệt kê theo luồng suy nghĩ còn
chưa mạch lạc của trẻ. Chú tâm vào thể hiện nội dung các ý tưởng, trẻ
thường vẽ rất say sưa nhưng khác với người lớn, vẽ xong từng chi tiết trẻ
hầu như không xem xét lại, không quan tâm tới chúng nữa và không biết
sửa sang, tơ vẽ lại. Trẻ càng nhỏ càng ít quan tâm tới sự đánh giá thẩm mĩ
của người xem mà chỉ cố gắng truyền đạt, giúp người xem hiểu được
những suy nghĩ, thái độ, tình cảm của mình qua những gì được miêu tả. Bởi
vậy, sự hạn chế của khả năng tạo hình thường được trẻ bù đắp rất tích cực
bằng âm thanh, lời nói, cử chỉ, điệu bộ,... Như vậy tính duy kỷ làm cho trẻ
nhỏ đến với hoạt động tạo hình một cách dễ dàng : trẻ sẵn sàng vẽ bất cứ
cái gì, khơng biết sợ, khơng biết tới khó khăn trong miêu tả. Càng nhỏ tuổi,
trẻ càng dễ lựa chọn đối tượng miêu tả bởi lẽ đối tượng đó thường là cái nó
thích, nó muốn chứ khơng phải là cái dễ vẽ.
Cùng với tính duy kỷ, tính không chủ định cũng là một đặc điểm tâm
lý rất đặc trưng cho sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ vẻ hấp dẫn riêng.
Do tính khơng chủ định mà trong q trình tạo hình, trẻ mẫu giáo chưa có
khả năng độc lập suy tính cơng việc sắp tới một cách chi tiết, các ý định
8
miêu tả của trẻ thường nảy sinh một cách tình cờ. Để thực hiện ý định tạo
hình trẻ cũng phác ra kế hoạch chung, song các kế hoạch đó thường dễ bị
thay đổi bởi các yếu tố ngẫu nhiên xuất hiện trong q trình quan sát, trong
hoạt động của trí nhớ hay cảm xúc.
Tóm lại, khi nghiên cứu các tranh vẽ tự do của trẻ người ta nhận thấy
chúng thể hiện ở đó phần nhiều là những gì nó nhìn thấy, nó biết, nó nghĩ,
theo cách cảm nhận của trẻ thơ chứ chưa hẳn là những gì giống như cái mà
chúng ta nhìn thấy. Đây là một đặc điểm đáng lưu ý, một điều kiện thuận
lợi mà người ta đã tận dụng để đi sâu tìm hiểu tâm lý trẻ em. Tuy nhiên, cứ
để lặp lại hiện tượng này thì có thể là một nhược điểm gây cản trở cho sự
phát triển hoạt động tạo hình của trẻ, hạn chế sự phát triển của hình tượng
nghệ thuật. Để khắc phục nhược điểm này, cần giúp trẻ bổ sung cho nội
dung tranh vẽ của mình bằng những kinh nghiệm thu được từ quá trình
quan sát, từ các sự vật, hiện tượng có trong hiện thực, những hình tượng
trong các tác phẩm nghệ thuật.
4. Đặc điểm ngơn ngữ tạo hình trong tranh trẻ em
Ngơn ngữ tạo hình của trẻ ở đây có thể hiểu như các phương tiện
truyền cảm mang tính tạo hình mà trẻ biết sử dụng để thể hiện những hiểu
biết, suy nghĩ, tình cảm của mình qua các hình ảnh, hình tượng,
Trẻ nhỏ làm quen và tìm kiếm các phương tiện truyền cảm rất sớm,
ngay từ thời kỳ tiền tạo hình. Khi đứa trẻ có điều kiện sử dụng bút, giấy,
màu, ... trước mắt nó mở ra một thế giới của những cấu trúc đồ họa, những
sắc màu, ánh sáng - ở đó các đường nét và màu sắc hòa quyện với nhau tạo
ra những phối hợp rất đa dạng, hấp dẫn gây cho trẻ những xúc cảm, tình
cảm phong phú, kích thích và làm thỏa mãn các nhu cầu khám phá, tìm
kiếm thế giới đang khơng ngừng nảy sinh ở trẻ.
4.1. Đặc điểm khả năng thể hiện bằng đường nét, hình dạng
Đường nét, hình dạng là những dấu hiệu đầu tiên của hình vẽ giúp trẻ
nhận ra và hiểu được mối liên hệ giữa sự vật thật với hình ảnh biểu đạt sự
vật đó. Tính chất của các dấu vết khác nhau do vận động của tay với bút để
lại giúp trẻ hiểu được khả năng thông báo và khả năng biểu cảm rất dồi dào
của đường nét và hình dạng.
Đối với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé, đường nét, hình dạng
được xem là phương tiện tạo hình cơ bản và được trẻ sử dụng triệt để. Tuy
nhiên, trẻ nhỏ sử dụng chúng không như người lớn. Khi dựng hình, người
họa sĩ sử dụng tích cực vốn biểu tượng, hình tượng mà mình có và lựa chọn
cẩn thận từ đó các yếu tố cần thiết, thích hợp để sắp xếp, tạo nên hình
9
tượng nghệ thuật. Trẻ nhỏ lại thường tạo nên hình tượng của mình từ
những chi tiết ngẫu nhiên nào đó mà chúng liên hệ từ những đường nét,
hình thù méo mó, lộn xộn đã được chúng tạo nên, hoặc đã ghi lại trong trí
nhớ. Tiếp đó, trẻ tìm cách bổ sung dần dần và làm cho “hình tượng nghệ
thuật” của mình trở nên đầy đủ hơn, và có nội dung rõ hơn bằng các
phương tiện “phi tạo hình” như âm thanh, lời nói, các tên gọi, các cử chỉ,
điệu bộ...
Khả năng thể hiện tính truyền cảm của đường nét, hình dạng trong
tranh vẽ của trẻ được phát triển theo từng lứa tuổi.
Trẻ 2 - 3 tuổi :
Trẻ ở tuổi này chưa thể tạo nên những hình ảnh rõ ràng, đầy đủ
nhưng đã có khả năng liên tưởng, liên hệ giữa các dấu hiệu của đối tượng
tri giác với những hình vẽ được thể hiện ra trên giấy. Trẻ ở tuổi này đã có
khả năng thể hiện tưởng tượng tái tạo, biểu cảm bằng cách sử dụng một số
chấm, vạch, đường nét khác nhau bổ sung vào các hình do người lớn vẽ sẵn
hoặc hình vẽ do trẻ tình cờ tạo nên trước đó (vẽ “những tia nắng”, “những
giọt mưa rơi”, “những chiếc lá bay”, “dòng nước chảy”, ...), làm cho các
hình vẽ “có vẻ” hồn thiện hơn, “hình tượng” có vẻ trọn vẹn hơn.
Trẻ 3 - 4 tuổi :
Khả năng sử dụng đường nét, hình dạng như những phương tiện
truyền cảm của trẻ mẫu giáo bé thể hiện chủ yếu ở mức độ tích cực và
tương đối chuẩn xác trong việc thể hiện các sự vật có dạng hình trịn, hình
vng, hình tam giác và đặc biệt là ở tính tích cực, linh hoạt vận dụng
phương thức vẽ các hình hình học cơ bản này để thể hiện các sự vật đơn
giản mà trẻ quan sát được trong môi trường xung quanh. Mặc dù các hình
vẽ mà trẻ ở độ tuổi này tạo nên còn thật sơ lược, ấu trĩ và khó hiểu đối với
người lớn, nhưng trong con mắt của trẻ chúng lại rất sống động và “như
thật”. Đây là một đặc điểm mà người lớn, cần chú ý tận dụng để phát triển
hứng thú, tư duy và tưởng tượng sáng tạo của trẻ trong tạo hình.
Trẻ 4 - 5 tuổi :
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu hiểu
được chức năng thẩm mĩ của các đường nét, các hình dạng. Ở tuổi này, trẻ
có khả năng phân biệt và học điều chỉnh đường nét để vẽ nhiều loại hình
hình học có quan hệ gần gũi với nhau như hình trịn - hình ô van, hình
vuông - hình chữ nhật, các dạng hình tam giác, như cây, nhà, ô tô, con vật...
Khả năng này tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng mở rộng phạm vi các đối tượng
miêu tả tự chọn. Tuy nhiên, các hình vẽ của trẻ 4 - 5 tuổi cịn mang nặng
10
tính lắp ráp và cịn gần gũi với các hình hình học cơ bản. Trong hoạt động
tạo hình, trẻ 4 - 5 tuổi rất dễ tiếp thu và hình thành các khuôn mẫu sơ đồ
“đông cứng”. Hiện tượng này xảy ra là do mâu thuẫn giữa một bên là sự
phát triển mạnh của khả năng bắt chước trong vận động, của nhu cầu giao
tiếp, biểu cảm với bên kia là sự hạn chế của khả năng tri giác và vốn kinh
nghiệm tri giác thẩm mĩ.
Trẻ 5 - 6 tuổi :
Do sự phát triển nhanh về thể lực, cơ bắp và độ khéo léo của vận
động, trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng tạo nên các đường nét với tính chất
khác nhau khá phức tạp. Cùng với sự tăng lên ngày càng phong phú hơn
của các kinh nghiệm nhận thức, các ấn tượng, xúc cảm, tình cảm, trẻ mẫu
giáo lớn bắt đầu nhận ra được sự hạn chế và vẻ thiếu hấp dẫn của các hình
vẽ khái quát với những đường nét đơn điệu, sơ lược. Với trình độ phát triển
chung của năng lực nhận thức thẩm mĩ và kỹ năng vận động, trẻ ở tuổi này
đã có thể cảm nhận được tính ngun thể của các hình ảnh đối tượng miêu
tả và biết dùng các đường nét liền mạch, mềm mại, uyển chuyển để truyền
đạt hình dáng trọn vẹn của mọi vật trong cấu trúc hợp lý, đồng thời thể hiện
tư thế vận động, hành động phù hợp với nội dung sáng tạo. Đặc biệt trẻ
5 - 6 tuổi đã khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của đường
nét và hình để thể hiện vẻ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng sự vật cụ
thể.
4.2. Đặc điểm khả năng thể hiện bằng sắc màu
Trong tranh vẽ trẻ em, hình dạng là dấu hiệu hàng đầu để tạo nên
hình ảnh sự vật, nhưng màu sắc mới là yếu tố mang lại hiệu quả thẩm mĩ
cho hình ảnh và gây tác động thẩm mĩ mạnh nhất tới “họa sĩ tí hon” cũng
như tới người xem tranh. So với hình dạng thì dấu hiệu màu sắc trong các
sự vật được trẻ mẫu giáo nhận biết, phân biệt nhanh hơn, song khi vẽ chúng
lại thường rất ít quan tâm tới sự thể hiện màu sắc.
Khả năng miêu tả, biểu cảm qua phương tiện màu sắc phát triển ở
các độ tuổi của trẻ với các mức độ rất khác nhau.
Trẻ dưới 3 tuổi :
Ở thời kỳ tiền tạo hình và giai đoạn sơ đồ của thời kỳ tạo hình, khi vẽ
trẻ thường tập trung chú ý, nỗ lực nhiều hơn vào sự vận động để biến đổi
các đường nét và tạo nên các hình thù. Bởi vậy, trẻ thường ít quan tâm tới
màu sắc và thường vẽ bằng bất kỳ loại bút màu nào mà chúng tình cờ vớ
được.
11
Trẻ 3 - 4 tuổi :
Ở tuổi mẫu giáo bé, tuy đã bắt đầu chú ý tới sự khác biệt của các loại
bút màu, nhưng nhìn chung màu sắc vẫn chưa được trẻ xem như phương
tiện thẩm mĩ để tạo nên “giá trị nghệ thuật” của sản phẩm tưởng tượng sáng
tạo : trẻ chơi với bút màu như một loại đồ chơi mới và có thể bơi tất cả các
màu vào tranh vẽ hoặc chỉ dùng một màu mà nó cảm thấy thích và lựa
chọn.
Trong q trình quan sát, tri giác tranh, nếu có hướng dẫn của người
lớn, một số trẻ 3 - 4 tuổi đã có thể biết nhìn nhận màu sắc như một dấu hiệu
“làm đẹp” cho bức tranh. Ở một số trẻ đã bắt đầu có thái độ khác nhau đối
với các sắc màu, chúng bắt đầu phân biệt màu đáng yêu (đỏ, vàng, da cam,
xanh lục, xanh lam sáng), màu đáng ghét (đen, nâu, tím,...). Ở tuổi này, trẻ
có thể tập sử dụng các màu sắc đó để thể hiện quan hệ tình cảm của mình
đối với các đối tượng miêu tả. Trẻ mẫu giáo bé thường có xu hướng tự do
thể hiện “màu khơng bắt chước”, nghĩa là tơ màu theo ý thích, khơng nhất
thiết giống với màu sắc của vật thật. Vì đặc điểm này mà xem tranh trẻ em
chúng ta có cảm nhận rằng trẻ thường “phá vỡ” hình ảnh trọn vẹn của sự
vật thành những bộ phận rời rạc khi chúng vẽ mỗi bộ phận, mỗi chi tiết của
hình vẽ bằng một màu khác nhau. Điều này khơng có gì đáng trách, cần tôn
trọng các “cảm nhận” của trẻ.
Trẻ 4 - 5 tuổi :
Cùng với cách vẽ “màu không bắt chước”, trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu
tập sử dụng “màu bắt chước”, nghĩa là vẽ màu tương ứng với màu của mọi
vật trong hiện thực. Trong quá trình học vẽ, trẻ bắt đầu nhận biết, phân biệt
màu sắc thật của một số đồ vật, hoa quả như một dấu hiệu bắt buộc, như
nét đặc thù của mọi vật và vẽ các hình bằng những màu “quy định bắt
buộc” đó mà khơng cần quan tâm tới sự biến đổi màu sắc rất sinh động do
đặc điểm chiếu sáng, đặc điểm thời gian, không gian trong hiện thực.
Việc dạy cho trẻ biết vẽ màu theo mẫu chuẩn quy định cho các mọi
vật là một việc làm cần phải được chú ý, cân nhắc : một mặt nó là bước đi
rất cần thiết nhằm giúp trẻ tập nhận biết màu sắc, tập tách màu sắc ra khỏi
tên riêng của mọi vật và hiểu nó như một loại dấu hiệu đặc trưng cho một
hoặc một nhóm vật thể. Nhờ đó mà trẻ dễ dàng thâm nhập vào thế giới
xung quanh, tập phân loại và hiểu sâu sắc hơn trật tự cùng các quy luật đơn
giản của các sự vật, hiện tượng xung quanh. Tuy nhiên, việc lặp đi lặp lại
nhiều lần cách miêu tả, thể hiện màu sắc theo các mẫu chuẩn quy định sẵn
sẽ không có lợi, thiếu thực tế khách quan, hình thành các khuôn mẫu trong
12
tranh vẽ trong khi trẻ vẽ màu theo cảm nhận riêng và màu sắc luôn biến đổi
theo sự chiếu sáng, theo quan hệ trong một tổng thể. Điều này khiến cho trẻ
lười quan sát, bó hẹp tầm nhìn của trẻ, hạn chế sự phát triển của khả năng
tri giác thẩm mĩ, khả năng tưởng tượng tích cực và làm trì trệ sự phát triển
tính sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình.
Trẻ 5 - 6 tuổi :
Sang tuổi mẫu giáo lớn, trẻ tiếp tục sử dụng đồng thời cả hai cách vẽ
màu : “màu không bắt chước” và “màu bắt chước”. Tình trạng vẽ màu chưa
suy nghĩ vẫn cịn khá phổ biến. Điều này có nghĩa là, trẻ có thể vẽ “màu bắt
chước” kiểu thuộc lòng các màu quy định theo chuẩn mẫu hoặc trẻ vẽ “màu
không bắt chước” kiểu tự do, ngẫu nhiên, hồn tồn khơng liên hệ với nội
dung ý đồ miêu tả. Hiện tượng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của
tranh vẽ, làm giảm sức truyền cảm của hình tượng đã được trẻ tạo nên và
làm giảm hứng thú và niềm say mê của trẻ khi hoạt động tạo hình.
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, một số trẻ đã có vốn hiểu biết khá phong phú
về cảm giác màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ linh
hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực
và làm quen qua quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc. Tính
tích cực quan sát, nhận thức chính là điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu
sắc một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tranh vẽ,
qua đó mà biểu lộ suy nghĩ, tình cảm, ước mơ của mình.
4.3. Đặc điểm khả năng xây dựng bố cục
Ngồi đường nét, hình dạng, màu sắc, trẻ mẫu giáo còn sử dụng
trong hoạt động vẽ một phương tiện truyền cảm khác đó là sự sắp xếp vị trí
các hình ảnh trong khơng gian tranh hay cịn gọi là xây dựng bố cục.
Do đặc điểm của lứa tuổi, của trình độ tri giác không gian và tư duy
không gian mà trong q trình vẽ, trẻ nhỏ khơng sao chụp cách sắp xếp
khơng gian giống như chúng ta nhìn thấy trong thực tế. Trẻ ln tìm cách
bố trí hình ảnh các sự vật trong phạm vi tờ giấy cho phù hợp với nội dung
mà chúng nghĩ. Bố cục tranh vẽ của trẻ nhỏ khác biệt rất rõ với bố cục
tranh vẽ của người lớn ở mối quan hệ giữa ý tưởng với cấu trúc đồ họa.
Tính duy kỷ, tính khơng chủ định trong các quá trình tâm lý thường làm
cho mối quan hệ giữa nội dung với hình thức của tranh trẻ em trở nên lỏng
lẻo. Bởi vậy, bố cục tranh của trẻ thường có vẻ “mất trật tự” trong con mắt
người lớn. Tuy vậy, khi xem xét kỹ tranh vẽ của trẻ chúng ta cũng đã thấy
“sự có mặt” của các yếu tố gây truyền cảm bằng sự bố trí, sắp xếp hình
ảnh, đó là việc tạo nhịp điệu và tạo thế cân xứng của các thành tố trong một
13
bố cục. Phương thức tổ chức tranh vẽ như vậy tuy còn rất sơ đẳng nhưng đã
là mầm mống để hình thành khả năng sử dụng bố cục như một phương tiện
tích cực thể hiện ý định tưởng tượng sáng tạo.
Nhịp điệu là cơ sở ban đầu của sự tổ chức không gian trong bố cục
tranh trẻ em, khả năng cảm nhận nhịp điệu và thể hiện tính nhịp điệu cùng
thế cân bằng trong cách tổ chức không gian tranh vẽ được phát triển theo
các lứa tuổi cùng với khả năng nhận thức (tri giác, tư duy, tưởng tượng,...)
của trẻ.
Trẻ 2 - 3 tuổi :
Ở tuổi này, trẻ chưa có khả năng thể hiện tranh với bố cục gợi sự
hình dung về khơng gian ba chiều. Trong q trình vui chơi - tạo hình, trẻ
có thể cảm nhận bằng các giác quan (thị giác, xúc giác, vận động,...), tính
nhịp điệu của sự sắp xếp các đường nét, các dấu chấm, vạch, các hình thể
cùng nhịp điệu của các vận động tay. Khi trẻ cùng người lớn bổ sung các
hình vẽ và mô tả các hiện tượng đơn giản bằng các vận động và sự sắp xếp
hình ảnh trực quan theo nhịp như vẽ “mưa rơi”, “lá rụng”,..., chúng có thể
tập định hướng trên không gian hai chiều của mặt phẳng tranh và làm quen
với tính nhịp điệu của bố cục.
Trẻ 3 - 4 tuổi :
Trẻ ở tuổi này đã có thể “đọc tranh” và tập định hướng trong không
gian tranh, định hướng trong không gian hai chiều của tờ giấy vẽ. Khi bố trí
các hình ảnh trong khơng gian tranh, trẻ đã có khả năng thể hiện nhịp điệu
trong sự sắp xếp lặp đi, lặp lại các chi tiết, các sự vật đơn lẻ cùng loại về
hình dạng, về kích thước trên khắp bề mặt tờ giấy (vẽ những “quả chín trên
cành”,...) hay có thể sắp xếp các hình ảnh, sự vật thành hàng (vẽ những
“dây cờ”, những “xâu hạt”,...).
Trẻ 4 - 5 tuổi :
Tri giác không gian và tư duy khơng gian phát triển giúp trẻ ở tuổi
này có thể liên hệ giữa không gian ba chiều của khung cảnh hiện thực với
không gian hai chiều trên tờ giấy vẽ, trẻ tập sắp xếp các hình ảnh, trong đó
đã phân biệt đối tượng miêu tả chính trên nền của các thành phần thứ yếu.
Từ sự thể hiện nhịp điệu của sự lặp đi, lặp lại các yếu tố giống nhau, trẻ bắt
đầu quan sát và làm quen với cách sắp xếp theo nhịp xen kẽ giữa các yếu tố
khác nhau : từ xen kẽ chính xác đều đặn kiểu hoa văn trang trí tới sự xen kẽ
nhưng khơng theo trình tự chặt chẽ, gần gũi với hiện thực sinh động. Ví dụ
vẽ đường phố : thể hiện sự sắp xếp xen kẽ giữa các loại nhà, cây,... với các
kích thước, kiểu dáng, quãng cách khác nhau,...
14
Trẻ 5 - 6 tuổi :
Ngoài khả năng tạo nhịp điệu, trẻ mẫu giáo lớn đã biết tạo nên bố
cục tranh với thế cân bằng qua các cách sắp xếp đối xứng và khơng đối
xứng (các hình ảnh khơng đồng đều : to - nhỏ, cao - thấp). Để tạo mối liên
hệ chặt chẽ giữa nội dung với hình thức của tranh, nhiều trẻ đã biết dùng
cách sắp xếp thể hiện sự vận động, hành động và các mối quan hệ giữa các
sự vật, nhân vật để tạo ra một khơng gian có chiều sâu với nhiều tầng cảnh.
Tính nhịp điệu trong bố cục tranh vẽ của trẻ 5 - 6 tuổi được thể hiện ở
nhiều vẻ : bằng sự sắp xếp lặp đi, lặp lại của các hình ảnh cùng loại, bằng
sự sắp xếp đan xen các hình ảnh không cùng loại, bằng sự phân biệt, thể
hiện quan hệ chính - phụ,...
Tóm lại, hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện tạo hình trong
tranh vẽ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tri giác hình tượng, vào
sự lựa chọn góc độ nhìn và khả năng cảm nhận vẻ đẹp đa dạng, sinh động
của thế giới xung quanh (hay là khả năng tri giác mang tính thẩm mĩ), đồng
thời, phụ thuộc vào khả năng tưởng tượng sáng tạo, biến đổi hình tượng và
vào mức độ phong phú sâu sắc của các xúc cảm, tình cảm thẩm mĩ ở trẻ.
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP
1. Tại sao khi xem xét quá trình hình thành và phát triển hoạt động vẽ của
trẻ em, người ta có thể khẳng định rằng hoạt động tạo hình có nguồn gốc
xã hội, mang bản chất xã hội ?
2. Tại sao nói giai đoạn sơ đồ của thời kỳ tạo hình có một ý nghĩa rất to lớn
đối với sự phát triển tâm lý và khả năng tạo hình của trẻ ?
3. Hoạt động tạo hình của trẻ mầm non có những đặc điểm cơ bản nào ?
4. Từ các đặc điểm tâm lý ngơn ngữ tạo hình của trẻ, các nhà sư phạm cần
có định hướng như thế nào trong việc tổ chức giáo dục trẻ thơng qua
hoạt động tạo hình ?
5. Thu thập tranh vẽ trẻ em và phân tích, đánh giá khả năng sử dụng các
phương tiện truyền cảm.
15
16