Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

25137 16122020235936921TT12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (345.16 KB, 24 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG
PHÂN ĐẠM ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY BẠC HÀ ÂU

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng – Năm 2019


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG
PHÂN ĐẠM ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY BẠC HÀ ÂU
Ngành: SƯ PHẠM SINH HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN TẤN LÊ

Đà Nẵng – Năm 2019



1

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phân bón là nguồn dinh dưỡng thiết yếu đối với cây trồng. Trong sự
phát triển của nền nơng nghiệp hiện đại, phân bón đã khẳng định vai trị đối
với việc bón phân cân đối và hợp lí, giúp tăng năng suất và phẩm chất của cây
trồng. Trong đó, đạm có vai trị quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và
hình thành năng suất của thực vật nói chung và cây trồng nói riêng. Đạm có
mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trị quyết định trong
q trình trao đổi chất và năng lượng, đến các hoạt động sinh lí của cây.
Bạc hà Âu (Mentha piperita L.) là loài cây thảo mộc thuộc chi Mentha
và họ Lamiaceae. Đây là một loại cây thân thảo sống lâu năm, tồn thân cây
có mùi thơm, vị cay, mát, chứa tinh dầu Menthol. Hiện nay bạc hà được nhiều
quốc gia trên thế giới sử dụng rộng rãi trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm
và hương liệu [4]. Cây bạc hà mọc dại và được trồng nhiều trên thế giới và ở
Việt Nam. Ở nước ta, những năm vừa qua phong trào trồng bạc hà để sản xuất
tinh dầu đã phát triển ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên, quy trình
trồng trọt để sản xuất bạc hà mới chỉ tập trung vào các giống Mentha arvensis
L., chưa có quy trình canh tác giống bạc hà Âu (Mentha piperita L.). Do đó,
việc khai thác giá trị của giống bạc hà Âu ở nước ta chưa thật hiệu quả.
Cây bạc hà Âu ngày càng được sử dụng phổ biến và ưa chuộng ở hầu
khắp các nước trên thế giới với nhiều giá trị khác nhau, không chỉ là loại gia
vị nổi tiếng, loại thực phẩm tuyệt vời mà còn là một trong những loại dược
phẩm tự nhiên được lựa chọn hàng đầu trên thế giới. Vì vậy, để phát huy hết
tiềm năng của cây bạc hà Âu cần tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm các biện
pháp kỹ thuật canh tác. Ngoài các biện pháp như làm đất, bố trí thời vụ,… thì
xác định lượng phân bón thích hợp là biện pháp kỹ thuật quan trọng, trong đó



2
đạm là nguyên tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát
triển và năng suất cây trồng.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Nghiên
cứu ảnh hưởng của hàm lượng phân đạm đến sự sinh trưởng cây bạc hà
Âu”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu quá trình sinh trưởng của cây bạc hà Âu dưới ảnh hưởng của
hàm lượng đạm khác nhau.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Làm sáng tỏ vai trò của đạm đối với quá trình sinh trưởng của cây bạc
hà Âu.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần ứng dụng vào q trình thâm canh cây bạc hà Âu.
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Khảo sát các chỉ tiêu có liên quan đến sự sinh trưởng của cây bạc hà Âu
dưới ảnh hưởng của hàm lượng đạm khác nhau:
- Tỉ lệ sống sót của cây con.
- Chiều cao thân.
- Số nhánh.
- Số lá/cây.
- Diện tích lá/cây.
- Trọng lượng tươi và trọng lượng khô của cây.
- Hiệu quả tích lũy chất khơ của quang hợp.
- Năng suất thân lá tươi.


3


5. CẤU TRÚC KHĨA LUẬN
Nội dung khóa luận gồm những nội dung sau:
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


4

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG KHỐNG TRONG ĐỜI SỐNG
CÂY TRỒNG
1.1.1. Vai trị chung
a. Vai trị cấu trúc
b. Vai trị điều tiết các q trình trao đổi chất .
c. Vai trò điều tiết chiều hướng và cường độ trao đổi chất thông qua sự ảnh
hưởng đến tính chất keo của chất ngun sinh
1.1.2. Vai trị của Nitơ
a. Các nguồn nitơ cung cấp cho cây
b. Vai trị sinh lí của nitơ
- Nitơ là thành phần cấu trúc bắt buộc của axit amin, protein, axit
nucleic là những chất hữu cơ cơ bản của sự sống. Ngoài ra, nó cịn là thành
phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng tham gia điều tiết mọi quá trình
trao đổi chất của cơ thể thực vật như các enzim, coenzim NAD, NADP, FAD,
CoA... Nitơ tham gia xây dựng vòng pocphirin là nhân của diệp lục.
- Nitơ còn tham gia xây dựng nên các hợp chất có tác dụng điều tiết các
quá trình hấp thu và bài tiết của tế bào như photpholipit là thành phần bảo

đảm tính phân cực của màng gây ra tính hấp thu chọn lọc, tính bán thấm của
các hệ thống màng của bào quan và màng tế bào.
Nitơ có trong thành phần của một số vitamin vốn là nhóm hoạt động
của các enzim như vitamin B6, axit pantotenic (vitamin PP)...
Nitơ là thành phần bắt buộc của một số phytohocmôn như auxin,
xitokinin vốn là các tác nhân điều tiết các quá trình sinh trưởng và phát triển
của cơ thể thực vật.
Nitơ cũng còn là thành phần của các chất ancaloit và chất kháng sinh
trong cơ thể thực vật.


5

1.1.3. Ngun tắc bón phân hợp lí
a. Xác định lượng phân bón thích hợp
b. Xác định tỷ lệ giữa các loại phân bón và thời kỳ bón phân
c. Phương pháp bón phân thích hợp
1.2. GIỚI THIỆU VỀ CÂY BẠC HÀ ÂU
1.2.1. Đặc điểm phân loại
Bạc hà có tên Việt Nam: bạc hà, kim tiền bạc, thạch bạc hà, liên tiền
thảo…; có nhiều loại:
- Bạc hà Âu (Mentha piperita L.) di thực của Nga, Đức; sản lượng kém
hơn bạc hà Nam, nhưng mùi vị thơm mát.
- Bạc hà Nam thường mọc hang ở nhiều nơi, chỗ ẩm ướt, và mọc thành
vùng tập trung ở Sơn La, Lai Châu, Vĩnh Phú (Tam Đảo), Lào Cai và thường
trồng ở vườn nhà từng khóm với các thứ rau thơm.
- Gần đây nước ta đã nhập một loại bạc hà Nhật Bản thuộc loại Mentha
arvensis L. có sản lượng tinh dầu và menthol khá cao. Các vùng sản xuất
trong nước hiện nay chủ yếu là loại bạc hà này.
Bạc hà Âu có tên khoa học: Mentha piperita L., có đơn vị phân loại

như sau:
Giới: Plantae
Ngành: Ngành Thực vật có hoa (Angiospermae)
Lớp: Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Bộ: Bộ Hoa Mơi (Lamiales)
Họ: Họ Hoa Mơi (Lamiaceae)
Chi: Chi Mentha
Lồi: Lồi piperita.
1.2.2. Đặc điểm sinh học
Theo các cơng trình nghiên cứu của Brike và Camus thì bạc hà Âu là
một loại cây lai tự nhiên giữa Mentha aquatica và Mentha spicata ở thể lai


6
thứ ba, vì một trong bố mẹ cũng là dạng lai giữa hai loại Mentha silvestris,
Mentha longifolia và loài bạc hà lá tròn Mentha rotundifolia. Cây này thường
mọc hoang trong tự nhiên với các loài cây bố mẹ của chúng ở Trung và Nam
châu Âu. Chúng lan tỏa và sinh sản vơ tính bằng rễ do nó khơng sinh sản hữu
tính bằng hạt.
Bộ rễ của bạc hà Âu có nhiều rễ tơ (rễ phụ) và nhiều thân ngầm tạo
thành từ gốc cây, chúng có thể ăn sâu tới 40cm.
Bộ phận khí sinh gồm thân cây phân cành mạnh, sống hàng năm, thân
vng và cao tới 100cm. Thân và cành có màu xanh thẫm đến đỏ tím, chúng
chứa rất ít tinh dầu và hồn tồn khơng có trong thời kỳ cây ra hoa. Đến cuối
mùa hè thì những đốt đầu tiên của thân cây tạo thành những thân ngầm đặc
trưng.
Về cấu tạo, thân ngầm rất giống với thân cây. Theo vị trí mà ở đó
chúng được tạo thành (từ những đốt nằm ở mặt đất hay dưới mặt đất), thân
ngầm được gọi là thân bò hay thân ngầm. Vào mùa xuân những mầm nách
của các đốt thân bò tạo thân cây mới. Sau khi cây ra rễ, thân bò này sẽ chết và

cũng như vậy, thân cây cũng chỉ sống một năm. Thân ngầm không chứa tinh
dầu.
Lá mọc đối, cuống ngắn, hình trứng, dài 4 - 9 cm, rộng 1,5 - 4 cm, màu
xanh thẫm hay đỏ tím nhưng mặt dưới luôn sáng màu hơn mặt trên. Phiến lá
xẻ răng cưa. Ở hai phía mặt lá là các túi tinh dầu, mặt trên số lượng túi nhiều
hơn.
Hoa nhỏ, hình chóp mọc trên các đầu cây và cành.
Bạc hà Âu cịn có tên gọi là bạc hà Anh hay “bạc hà Mitsam”, có hai
loại: loại đen - f. rubescens và loại trắng - f. pallescens.
Bạc hà đen có màu xanh thẫm ở thân, viền màu tím đỏ đến đỏ, ra hoa
chậm hơn bạc hà trắng. Cây khơng địi hỏi nhiều dinh dưỡng, khả năng chống


7
chịu với sâu bệnh hại cũng ít hơn. Lá khơ chứa tới 2,5% tinh dầu với hàm
lượng 48 - 68% mentola.
Bạc hà trắng cũng có nguồn gốc từ nước Anh, vùng Mitsam. Loại này
màu sắc của lá sáng hơn, xẻ răng cưa sâu hơn. Thân cây có màu xanh sáng,
hoa nở màu trắng. Mặc dù đòi hỏi điều kiện dinh dưỡng cao hơn nhưng khả
năng cho năng suất của bạc hà trắng lại thấp hơn. Tinh dầu của nó có mùi
thơm mát, chất lượng tốt hơn.
Tinh dầu chiếm 1 – 3% (tính trên dược liệu khơ tuyệt đối). Thành phần
hóa học chính của tinh dầu: 40 – 60% menthol tồn phần, 8 – 10% menthon,
lượng nhỏ menthofuran 1 – 2%.
1.2.3. Thành phần dinh dưỡng của bạc hà Âu
1.2.4. Vai trò của cây bạc hà Âu trong đời sống
a. Cây bạc hà Âu là một dược liệu phổ biến
Bạc hà là một vị thuốc rất phổ biến ở nước ta, được sử dụng rộng rãi cả
trong Tây y và Đông y. Bạc hà Âu được ghi trong nhiều dược điển các nước
thuộc châu Âu. Tinh dầu Bạc hà Âu có mùi thơm dịu, được dùng trong kỹ

nghệ dược phẩm.
Những lợi ích sức khỏe của tinh dầu bạc hà: Hỗ trợ tiêu hóa, chăm sóc
răng miệng, giảm căng thẳng, làm sạch đường hơ hấp, giảm đau, tăng cường
hệ miễn dịch, chăm sóc da… Bạc hà vị cay tính mát, vào Phế Can, có tác
dụng tán phong nhiệt, làm ra mồ hơi, giải cảm sốt nhức đầu và nôn mửa
không tiêu.
b. Cây bạc hà Âu làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm
Hương vị của bạc hà thường phù hợp với khẩu vị của nhiều người. Bạc
hà chứa nhiều khoáng chất và dinh dưỡng bao gồm mangan, sắt, magiê, canxi,
folate, kali và đồng. Bạc hà còn chứa các acid béo omega-3, Vitamin A và


8
Vitamin C. Thường được làm chất tạo gia vị trong trà bạc hà, kem, kẹo, kẹo
cao su và kem đánh răng.
c. Cây bạc hà Âu tác động đến côn trùng
Thu hút cơn trùng có lợi: Bạc hà giàu mật hoa và phấn hoa, những cụm
hoa nhỏ là thức ăn tuyệt vời cho ong, bướm...
Xua đuổi cơn trùng có hại: Kiến, ruồi, muỗi, sâu bắp cải, rệp, bọ
chét….
1.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY BẠC HÀ
1.3.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu về cây bạc hà trên thế giới
Bạc hà Âu có nguồn gốc ở châu Âu, phân bố từ nước Anh qua vùng
Bắc Âu và Nga.
Giống được ưa chuộng là bạc hà Mitcham (Anh), Milly và Maine et
Loire (Pháp). Bạc hà Âu hiện nay được trồng nhiều ở một số nước châu Âu, ở
Bắc Mỹ, Ấn Độ, các nước Bắc Phi. Sản lượng thế giới thống kê vào năm
1990 là 3.700 tấn, trong đó Hoa Kỳ là 3.410 tấn, Nga 200 tấn, Italy 50 tấn, Ấn
Độ 40 tấn.
Ở Mỹ, trồng 2 loại bạc hà Mentha piperita Huds và Mentha spicata L.

Thời trước chiến tranh thế giới lần thứ 2, cây bạc hà được trồng chủ yếu ở
Michigan và Indiana, hiện nay đang phát triển mạnh tại Washington, Oregan
và Wincosin. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tinh dầu bạc hà ở Mỹ là một
trong những loại tốt nhất thế giới.
Ở Italia, từ năm 1903 bắt đầu trồng bạc hà Mentha piperita Huds, tập
trung ở Panacaliori, Polongera, Vigon, Fole.
Tại Ba Lan trong những năm 50 của thế kỷ trước diện tích trồng bạc hà
đã lên đến vài chục nghìn hecta.
Tại Nam Tư, diện tích trồng bạc hà hằng năm dao động khoảng 20-50
nghìn hecta.


9
Tại Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 đã phát triển trồng bạc hà Mentha
arvensis Linn, var piperaseens Holms, tập trung ở Uren, Xinao, Amoto,
Hiroshima, Hokaido và đã đưa Nhật Bản lên vị trí hàng đầu sản xuất tinh dầu.
1.3.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu về cây bạc hà tại Việt Nam
Nhìn chung ở Việt Nam bạc hà đã được di thực từ nước ngoài vào
nhưng chưa được phát triển.
Năm 1955, cây bạc hà được đưa vào trồng ở Hưng Yên và vườn bạc hà
thí nghiệm của trường Đại học Dược Hà Nội.
Năm 1972, đã sản xuất được 60 tấn tinh dầu bạc hà và 1 tấn menthol
tinh thể.
Năm 1974, hai giống bạc hà Mentha arvensis BH974 và BH975 được
đưa vào Việt Nam.
Năm 1997, Công ty Dược liệu TW1 đã di thực giống bạc hà mới SK33
và đến năm 2004 đã trồng thành cơng với diện tích 700 ha.


10


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Cây giống Bạc hà Âu, tên khoa học: Mentha piperita L., cây con được
nhập về từ Mộc Nhiên Farm - tỉnh Bình Thuận, đã được thuần ở xứ nóng.
Cây con lúc mới nhập về có chiều cao trung bình 15cm, chưa có nhánh,
số lá trung bình là 15 – 20 lá/cây.
Phân bón sử dụng: phân đạm (46% N), phân lân nung chảy Ninh Bình
(15 – 17% P2O5), phân Kali (60% K2O).
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp trồng cây trong chậu.
Dùng chậu nhựa có đường kính 20 cm, chiều cao chậu 15 cm.
Đất trồng cây được sử dụng là nền đất thịt pha cát kết hợp với trấu hun
với tỉ lệ 2/3 đất : 1/3 trấu hun. Đất phơi khô, tán nhỏ rồi trộn đều với trấu hun.
Tất cả các chậu đều chứa lượng đất như nhau.
Cây con nhập về được trồng vào chậu, mỗi chậu trồng 3 cây.
Các chậu được sắp xếp ngẫu nhiên và đồng đều về chế độ chiếu sáng,
lượng nước tưới.
- Nền phân bón lót và bón thúc cho mỗi chậu được sử dụng như sau:
+ Bón lót: 1g phân K + 2g phân lân + 10g phân hữu cơ vi sinh.
+ Bón thúc: 1g phân K + 10g phân hữu cơ vi sinh. Cây được bón thúc
sau 45 ngày trồng cây.
- Phân đạm được dùng trong thí nghiệm dưới dạng urê, được chia thành
3 mức:
Mức 1: Nền + 1,5 g phân đạm (CT1)
Mức 2: Nền + 2,25 g phân đạm (CT2)



11
Mức 3: Nền + 3 g phân đạm (CT3)
- Thí nghiệm được bố trí xen kẽ, 3 lần nhắc lại theo sơ đồ sau:
CT1

CT2

CT3

CT3

CT1

CT2

CT2

CT3

CT1

Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 05/10/2018 và kết thúc vào ngày
05/01/2019 và đặt tại Trại thực nghiệm khoa Sinh - Môi trường, trường Đại
học sư phạm, Đại học Đà Nẵng.
2.2.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu cụ thể
Phương pháp khảo sát các chỉ tiêu được thực hiện theo cách cân, đo,
đếm thông thường:
- Chiều cao cây (cm) được tính từ cổ rễ đến chồi ngọn.
- Số nhánh được tính là các nhánh cấp 1.
- Số lá/cây được đếm trực tiếp, khơng tính các lá vàng, rụng.

- Tính diện tích lá/cây (cm2) bằng cách cân gián tiếp.
- Trọng lượng tươi (g): cân trực tiếp trọng lượng của cây tươi.
- Trọng lượng khô (g): Lá và thân sau khi thu hoạch được đem đi phơi
nắng, sau đó đem cân để tính trọng lượng khơ.
- Hiệu quả tích lũy chất khơ trong quang hợp là trọng lượng khô của
cây qua các giai đoạn sinh trưởng.
- Năng suất thân lá tươi (g/cây) là năng suất của thân, lá tươi được tính
vào giai đoạn thu hoạch.
2.2.3. Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí theo phương pháp thống kê sinh học.


12

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. TỈ LỆ SỐNG SÓT CỦA CÂY CON
Giai đoạn cây con là giai đoạn rất non nớt của cây. Ở giai đoạn này, cây
đâm rễ và đâm chồi mạnh mẽ và rất dễ bị tác động của các yếu tố môi trường,
đặc biệt là phân bón. Vì vậy, việc theo dõi tỉ lệ sống sót của cây con là điều
hết sức ý nghĩa trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây sau này.
Theo dõi khả năng sống sót của cây con sau 7 ngày trồng vào chậu,
chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 3.1:
Bảng 3.1. Tỉ lệ sống sót của cây bạc hà Âu sau 7 ngày trồng ở các mức
phân N khác nhau
Công thức

Tỉ lệ sống (%)

CT1


88,89

CT2

100,00

CT3

77,78

Từ tỉ lệ trên cho thấy, ở CT2 tỉ lệ sống của cây bạc hà Âu con là cao
nhất, ở CT1 và CT3 thì tỉ lệ sống thấp hơn. Ở CT2 với nồng độ phân N vừa
đủ cho dinh dưỡng cây bạc hà Âu, nếu thấp hơn hoặc cao hơn sẽ khơng có
hiệu quả.
3.2. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC PHÂN N KHÁC NHAU ĐẾN CHIỀU
CAO THÂN CÂY BẠC HÀ ÂU Ở CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG
Thân là cơ quan vận chuyển nước, muối khoáng và các chất hữu cơ đến
các bộ phận khác nhau để ni cây. Thân cịn có nhiệm vụ nâng đỡ các bộ
phận trên cây như cành, lá. Chiều cao cây là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp sự
sinh trưởng phát triển của cây qua từng giai đoạn khác nhau. Cây càng cao


13
chứng tỏ cây sinh trưởng tốt, đẻ nhánh nhiều và mang nhiều lá, từ đó chiều
cao cây quyết định việc tích lũy chất dinh dưỡng trên thân lá.
Sự tăng trưởng chiều cao thân cây bạc hà Âu qua các giai đoạn sinh
trưởng được trình bày ở bảng 3.2. và hình 3.1.
Bảng 3.2. Chiều cao thân (cm) của cây bạc hà Âu ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau

Sau 30 ngày

Sau 60 ngày

Sau 90 ngày

Công thức

trồng

trồng

trồng

CT1

25,15 ± 2,05

36,75 ± 2,83

40,07 ± 3,76

CT2

26,83 ± 1,87

34,28 ± 2,57

45,36 ± 3,84


CT3

22,15 ± 2,41

30,85 ± 2,80

35,27 ± 2,75

Như vậy, qua kết quả trình bày ở bảng 3.2. và hình 3.1., chúng tơi nhận
thấy ở CT2 qua các giai đoạn sinh trưởng đều cho kết quả cao hơn so với CT1
và CT3.
Chiều cao trung bình của các cây con lúc mới trồng là 15cm, sau 30
ngày, chiều cao cây trung bình ở CT2 là 26,83cm trong khi ở CT1 là 25,12cm
và CT3 thấp nhất là 22,15cm, chứng tỏ cây đã thích nghi với mơi trường sống
mới và hấp thu tốt các chất dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng của thân.
Giai đoạn từ sau 30 ngày đến 60 ngày là thời kỳ cây tăng trưởng chiều
cao nhanh. Điều này có thể giải thích là ở thời kỳ này bộ rễ cây bạc hà đã phát
triển khá hồn thiện, có khả năng hấp thụ dinh dưỡng từ đất tốt để tăng cường
chất hữu cơ nên tốc độ sinh trưởng chiều cao diễn ra mạnh.
Sau khoảng thời gian 60 ngày sau khi trồng thì tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm hơn so với giai đoạn trước.
Kết quả này chứng tỏ ở CT2 với mức phân đạm hợp lí sẽ tạo điều kiện
dinh dưỡng để cây sinh trưởng tốt nhất về chiều cao, ở CT1 với mức phân
đạm thấp hơn nên chưa đủ nhu cầu cần thiết cho cây sử dụng và ở CT3 với


14
hàm lượng đạm cao hơn nhu cầu của cây nên làm sự trao đổi chất giữa cây và
môi trường không thuận lợi, dẫn đến sự tăng trưởng chiều cao thân không
hiệu quả.

3.3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC PHÂN N KHÁC NHAU ĐẾN KHẢ
NĂNG ĐẺ NHÁNH CỦA CÂY BẠC HÀ ÂU Ở CÁC GIAI ĐOẠN SINH
TRƯỞNG
Cành là bộ phận mang lá của cây. Trên cành cấp 1 sẽ nảy sinh ra các
cành cấp 2, cành cấp 3… Cây càng có nhiều cành thì khả năng mang lá và
tích lũy sinh khối sẽ cao hơn.
Số cành (cấp 1) của cây bạc hà Âu qua các giai đoạn sinh trưởng được
trình bày ở bảng 3.3. và hình 3.2.
Bảng 3.3. Số cành cấp 1 của cây bạc hà Âu ở các giai đoạn sinh trưởng
khác nhau
Sau 30 ngày

Sau 60 ngày

Sau 90 ngày

Công thức

trồng

trồng

trồng

CT1

5,63

9,24


12,61

CT2

5,52

11,70

15,33

CT3

4,58

8,35

10,34

Như vậy, qua kết quả trình bày ở bảng 3.3. và hình 3.2., chúng tôi nhận
thấy:
Ở CT1, khoảng thời gian 30 ngày sau khi trồng thì số cành cấp 1 trung
bình là 5,63 cành và sau 60 ngày trồng thì số cành cấp 1 trung bình tăng thêm
3,61 cành. Sau 90 ngày, số cành cấp 1 vẫn tăng lên và đạt trung bình 12,61
cành.
Ở CT3, số cành cấp 1 tăng lên qua các giai đoạn, khoảng thời gian 30
ngày sau khi trồng đến sau 60 ngày thì số cành cấp 1 trung bình tăng lên 3,77


15
cành, tốc độ phân cành cao hơn so với CT1 nhưng sau 90 ngày trồng thì tốc

độ phân cành giảm và số cành cấp 1 trung bình đạt 10,34 cành.
Ở CT2, sau 30 ngày trồng thì số cành cấp 1 trung bình là 5,52 cành và
tăng 6,18 cành sau 90 ngày trồng. Số cành cấp 1 trung bình vẫn tăng và đạt
15,33 cành sau 90 ngày trồng, vượt trội hơn so với CT1 và CT3.
Qua kết quả này có thể nhận thấy tốc độ phân cành cấp 1 tăng chậm khi
bắt đầu trồng đến sau 30 ngày và tăng nhanh ở giai đoạn từ sau 30 ngày trồng
đến 60 ngày. Ở giai đoạn sau, số cành cấp 1 vẫn tăng nhưng với tốc độ chậm
hơn, vì trong giai đoạn này từ các cành cấp 1 đã nảy sinh ra các cành cấp 2,
cành cấp 3…
Ở CT2 số cành cấp 1 nhiều hơn và tốc độ phân cành cao hơn hẳn so với
CT1 và CT3. Điều này chứng tỏ, với mức phân đạm hợp lí sẽ tạo điều kiện
dinh dưỡng cho cây, thúc đẩy cây phân cành, từ đó khả năng mang lá và sinh
khối của cây sẽ cao hơn.
3.4. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC PHÂN N KHÁC NHAU ĐẾN TỔNG
SỐ LÁ CỦA CÂY BẠC HÀ ÂU Ở CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG
Lá là cơ quan quang hợp chính tạo ra chất dinh dưỡng cho sự sinh
trưởng phát triển của cây. Cây càng nhiều lá thì hiệu suất quang hợp càng cao,
cây tích lũy chất hữu cơ càng nhiều, góp phần tăng năng suất. Đặc biệt, đối
với cây bạc hà Âu thì lá chiếm phần lớn hàm lượng tinh dầu và các chất dinh
dưỡng.
Tổng số lá / cây (lá) của cây bạc hà Âu qua các giai đoạn sinh trưởng
được trình bày ở bảng 3.4. và hình 3.3.


16
Bảng 3.4. Tổng số lá / cây (lá) của cây bạc hà Âu ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau
Sau 30 ngày

Sau 60 ngày


Sau 90 ngày

Công thức

trồng

trồng

trồng

CT1

35,62 ± 2,26

71,33 ± 3,43

154,27 ± 4,50

CT2

41,74 ± 2,39

94,35 ± 3,57

185,61 ± 3,68

CT3

33,36 ± 2,28


62,66 ± 3,37

112,05 ± 3,55

Như vậy, qua kết quả trình bày ở bảng 3.4. và hình 3.3., chúng tơi nhận
thấy:
Ở CT1, khoảng thời gian 30 ngày sau khi trồng thì tổng số lá/cây trung
bình là 35,62 lá. Sau 60 ngày tổng số lá trung bình tăng thêm 35,71 lá trong
khi đó sau 90 ngày số lượng lá tăng lên rất nhanh và mức tăng là 82,94 lá.
Tổng số lá tối đa trung bình trên cây ở CT1 là 154,27 lá.
Ở CT2, tổng số lá trung bình tăng lên qua các giai đoạn, đặc biệt là giai
đoạn sau ngày thứ 60 cho đến ngày 90 tổng số lá tăng lên là 91,26 lá. Sau 90
ngày, tổng số lá/cây trung bình đạt 185,61 lá.
Ở CT3, số lá cũng tăng chậm trong giai đoạn đầu sau đó tăng nhanh
dần và đạt cực đại trong khoảng thời gian 60-90 ngày sau khi trồng, số lá tối
đa trên cây ở công thức này là 112,05 lá, thấp hơn so với CT1 và CT2.
Kết quả này chứng tỏ, khi sử dụng lượng phân đạm hợp lí thì nguồn
đạm bón vào vừa dùng để cung cấp chất hữu cơ cho cây và vừa tham gia bổ
sung hình thành các phân tử diệp lục, tạo cơ sở vật chất cho bộ máy quang
hợp, từ đó tạo tiềm năng về gia tăng sinh khối của cây.


17
3.5. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC PHÂN N KHÁC NHAU ĐẾN DIỆN
TÍCH LÁ CỦA CÂY BẠC HÀ ÂU Ở CÁC GIAI ĐOẠN SINH
TRƯỞNG
Đối với cây ăn lá, bộ lá đóng vai trò quan trọng trong việc quang hợp
và tạo năng suất. Số lá trên cây càng nhiều thì thu hoạch càng có kết quả
nhưng kích thước, diện tích của lá cũng là chỉ số rất quan trọng. Chỉ số diện

tích lá đặc trưng cho khả năng tận dụng năng lượng ánh sáng mặt trời để tạo
năng suất. Đồng thời đối với cây ăn lá, lá còn là bộ phận chứa tồn bộ chất
dinh dưỡng cần thiết của cây.
Tổng diện tích lá / cây của cây bạc hà Âu qua các giai đoạn sinh trưởng
được trình bày ở bảng 3.5. và hình 3.4.
Bảng 3.5. Tổng diện tích lá / cây (cm2) của cây bạc hà Âu ở các giai đoạn
sinh trưởng khác nhau
Sau 30 ngày

Sau 60 ngày

Sau 90 ngày

Công thức

trồng

trồng

trồng

CT1

53,43 ± 1,83

102,66 ± 2,27

322,81 ± 3,15

CT2


66,78 ± 2,41

152,01 ± 2,12

483,95 ± 3,05

CT3

45,70 ± 2,72

92,78 ± 3,36

268,74 ± 2,25

Như vậy, qua kết quả trình bày ở bảng 3.3. và hình 3.2., chúng tơi nhận
thấy:
Ở CT1, sau 30 ngày trồng thì diện tích lá trung bình là 53,43cm2, sau
30 ngày tiếp theo thì diện tích lá tăng thêm 49,23cm2 và tăng nhanh trong 30
ngày tiếp sau đó (từ ngày thứ 60 đến 90), tăng thêm 220,15 cm2. Sau 90 ngày,
tổng diện tích lá trung bình trên một cây đạt được là 322,81cm2.
Ở CT2, kết quả thu được rất cao. Tốc độ tăng trưởng nhanh nhất bắt
đầu sau ngày thứ 60 đến ngày thứ 90, trong khoảng thời gian này tổng diện


18
tích lá tăng lên được 331,94cm2. Khi thu hoạch thì tổng diện tích lá trung bình
trên một cây ở cơng thức này đạt được là 483,95cm2.
Ở CT3, tổng diện lích lá trung bình trên một cây thấp hơn so với CT1
và CT2. Tốc độ tăng trưởng nhanh nhất diễn ra vào khoảng sau ngày thứ 60

nhưng cũng chỉ đạt được 92,78cm2 và tổng diện tích lá sau 90 ngày ở cơng
thức này cũng chỉ đạt 268,74cm2.
Ngồi ra, chúng tơi cịn nhận thấy diện tích lá cũng có sự tăng trưởng
rõ rệt qua các giai đoạn sinh trưởng và đạt cao nhất sau 90 ngày. Điều này có
thể giải thích rằng ở giai đoạn trước do cây chưa đạt số lá tối đa nên tổng diện
tích lá cịn thấp, giai đoạn sau cây đã ổn định nên số lượng và kích thước lá đã
tăng lên tối đa làm cho tổng diện tích lá trên cây đạt cao nhất. Với hàm lượng
phân đạm thích hợp ở CT2 đã tạo điều kiện để tổng diện tích lá trên cây đạt
vượt trội.
3.6. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC PHÂN N KHÁC NHAU ĐẾN
TRỌNG LƯỢNG TƯƠI VÀ TRỌNG LƯỢNG KHÔ CỦA CÂY BẠC
HÀ ÂU Ở CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG
Sinh khối của cây trồng đóng vai trị quan trọng trong q trình sinh
trưởng của cây. Đặc biệt đối với cây ăn lá, tổng sinh khối ở giai đoạn thu
hoạch của phần thân lá cũng chính là năng suất thu hoạch. Sinh khối tươi
chính là nguồn thực phẩm, dược liệu… cho con người. Sinh khối khô là khả
năng tích lũy các chất hữu cơ cần thiết trong cây, là tiềm năng của cây.
Sinh khối tươi và sinh khối khô của cây bạc hà Âu qua các giai đoạn
sinh trưởng được trình bày ở bảng 3.6. và hình 3.5, hình 3.6.


19
Bảng 3.6. Trọng lượng tươi và trọng lượng khô / cây (g) của cây bạc hà
Âu ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau
Sau 30 ngày

Sau 60 ngày

Sau 90 ngày


trồng

trồng

trồng

CT1

5,15 ± 0,15

7,27 ± 0,21

9,82 ± 0,17

CT2

5,17 ± 0,12

9,31 ± 0,15

11,78 ± 0,13

CT3

5,04 ± 0,11

7,81 ± 0,13

9,19 ± 0,16


Công thức
Trọng lượng tươi / cây

Trọng lượng khô / cây
Sau 90 ngày trồng
CT1

3,38 ± 0,13

CT2

4,75 ± 0,14

CT3

3,02 ± 0,11

Như vậy, qua kết quả trình bày ở bảng 3.6. và hình 3.5.; 3.6, chúng tôi
nhận thấy:
Sau 30 ngày trồng, trọng lượng tươi của các cây ở 3 cơng thức chưa có
sự chênh lệch nhiều, ở CT1 là 5,15g, CT3 là 5,04g và ở CT2 cao hơn là 5,17g.
Sau 60 ngày, trọng lượng tươi của cây vẫn tiếp tục tăng lên và tăng lên
nhanh hơn trong khoảng thời gian từ sau 60 ngày đến 90 ngày. Sau 90 ngày,
trọng lượng khô ở CT2 đạt cao nhất là 11,78g trong khi đó ở CT1 là 9,82g và
CT3 là 9,19g.
Đối với trọng lượng khô, sau 90 ngày thì ở CT2 đạt cao nhất là 4,75g
cịn ở CT1 là 3,38g và CT3 là 3,02g.
Kết quả trên chứng tỏ ở CT2 với mức phân đạm hợp lí sẽ tạo điều kiện
dinh dưỡng cho cây, từ đó quyết định năng suất và chất lượng của cây trồng.



20
3.7. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC MỨC PHÂN N KHÁC NHAU ĐẾN HIỆU
QUẢ TÍCH LŨY CHẤT KHƠ VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY BẠC HÀ
ÂU
3.7.1. Hiệu quả tích lũy chất khơ
Sự tích lũy chất khô trong quang hợp là kết quả của q trình quang
hợp có liên quan đến các q trình sinh lý trao đổi chất trong cây như hấp thu,
vận chuyển, phân giải và tổng hợp các chất. Hiệu quả tích lũy chất khơ trong
quang hợp cũng chính là trọng lượng khô của cây qua các giai đoạn sinh
trưởng.
Quan sát bảng 3.6. và biểu đồ 3.6. có thể thấy được ở CT2 đạt được
sinh khối khô cao nhất và đây cũng chính là hiệu quả tích lũy chất khơ ở giai
đoạn thu hoạch sau 90 ngày trồng, ở các CT1 và CT3 cho giá trị thấp hơn.
3.7.2. Năng suất
Đối với cây sử dụng thân lá, phần thân lá tươi khi thu hoạch chính là
năng suất kinh tế, thể hiện hiệu quả của việc trồng cây. Năng suất là một chỉ
số rất quan trọng cần phải đánh giá để đo lường giá trị kinh tế.
Năng suất kinh tế của cây bạc hà Âu ở giai đoạn thu hoạch được thể
hiện qua bảng 3.7. và hình 3.7.
Bảng 3.7. Năng suất thân lá tươi (g/cây) của cây bạc hà Âu ở giai đoạn
thu hoạch
Cơng thức

Năng suất thân lá tươi

CT1

9,05


CT2

10,88

CT3

8,19

Kết quả trình bày cho thấy ở CT2 năng suất thân lá tươi đạt cao nhất.
Bón phân N cao hơn hoặc thấp hơn đều cho năng suất thân lá tươi giảm đi.


21
Như vậy, qua quá trình trồng cây bạc hà Âu dưới tác động của các mức
phân, chúng tôi nhận thấy khi bón phân N hợp lí sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình sinh trưởng và trao đổi chất trong cây, từ đó dẫn đến các chỉ tiêu
như chiều cao thân, số nhánh, diện tích lá,… đều có kết quả tốt hơn. Bón N ở
mức thấp hơn thì chưa cung cấp đủ N so với nhu cầu cần thiết của cây. Bón N
ở mức cao hơn sẽ tạo nồng độ cao trong đất, rễ khó hấp thụ để thực hiện q
trình chuyển hóa, mặt khác sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế do tăng giá
thành trong đầu tư phân bón cũng như lời được cơng chăm sóc.


22

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Qua q trình trồng thí nghiệm cây bạc hà Âu ở các mức bón phân N
khác nhau, chúng tơi có thể rút ra các kết luận sau:
1) Hàm lượng phân N ở mức 2,25 g/chậu có tác dụng làm cho cây bạc hà Âu

sinh trưởng tốt hơn mức phân cao hơn và thấp hơn.
2) Ở mức phân N 2,25 g/chậu có xu hướng làm cho tỉ lệ cây con sống sót cao
nhất, chiều cao cây, số nhánh cấp 1, số lá/ cây, diện tích lá /cây, trọng lượng
tươi /cây và trọng lượng khô/cây, hiệu quả tích lũy chất khơ, năng suất thân lá
tươi đạt kết quả cao hơn khi bón các mức phân cao hơn và thấp hơn.
Kiến nghị
Tiếp tục theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu về sinh lý, sinh hóa, chất lượng
thu hoạch để có một kết luận đầy đủ và chính xác hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×