Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

25135 1612202023593632TT6

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (467.3 KB, 23 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ THU BÌNH

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN VÀ KHÁNG
VIÊM CỦA DỊCH CHIẾT ETHANOLTỪ CÂY SÀI ĐẤT
(Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.) TRÊN MƠ HÌNH CHUỘT
NHẮT TRẮNG DỊNG BALB/c BỊ GÂY VIÊM BẰNG
CARRAGEENAN

Đà nẵng - Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MƠI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ THU BÌNH

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN VÀ KHÁNG
VIÊM CỦA DỊCH CHIẾT ETHANOL TỪ CÂY SÀI ĐẤT
(Wedelia chinensis (Osbeck) Merr) TRÊN MƠ HÌNH CHUỘT
NHẮT TRẮNG DỊNG BALB/c BỊ GÂY VIÊM BẰNG
CARRAGEENAN
Ngành: Sư phạm Sinh học

Người hướng dẫn: ThS. NCS Nguyễn Công Thùy Trâm

Đà Nẵng – Năm 2018




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viêm thường xảy ra khi các vi sinh vật truyền nhiễm như vi khuẩn, vi
rút hoặc nấm xâm nhập cơ thể, cư trú trong các mô đặc biệt hoặc lưu thông
trong máu. Viêm cũng có thể xảy ra để đáp ứng với các q trình như tổn
thương mơ, chết tế bào, ung thư, thiếu máu cục bộ và thối hóa. Hầu hết, cả
đáp ứng miễn dịch bẩm sinh cũng như đáp ứng miễn dịch thích nghi đều liên
quan đến sự hình thành viêm. Hệ thống miễn dịch bẩm sinh là cơ chế bảo vệ
hàng đầu chống lại các vi sinh vật và tế bào ung thư xâm nhập, liên quan đến
hoạt động của các tế bào khác nhau bao gồm đại thực bào, dưỡng bào và tế
bào hình sao. Các hệ thống miễn dịch thích nghi liên quan đến hoạt động của
các tế bào chuyên biệt hơn như tế bào lympho B và lympho T chịu trách
nhiệm diệt trừ mầm bệnh xâm nhập và tế bào ung thư bằng cách tạo ra các thụ
thể và kháng thể cụ thể.
Nhiều chất trung gian gây viêm được tổng hợp và tiết ra trong các phản
ứng viêm của các loại khác nhau. Các chất gây viêm thường được chia thành
hai loại chính: các chất trung gian chống viêm và kháng viêm. Tuy nhiên, một
số chất trung gian như interleukin 12 (IL12) sở hữu cả hai đặc tính chống và
kháng viêm. Trong số các chất trung gian gây viêm và con đường tế bào đã
được nghiên cứu rộng rãi liên quan đến tình trạng bệnh lý là cytokine
(interferon, interleukin và yếu tố hoại tử khối u TNF-α), chemokine và yếu tố
nhân kappa B (NF-κB).
Từ thời cổ đại cho đến nay, các bộ phận khác nhau của nhiều loài thảo
dược được sử dụng trong hoạt động chống viêm. Chính vì vậy mà các nhà
khoa học đã chọn các loài thảo dược làm đối tượng nghiên cứu nhằm phân tích
về mặt hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của nó với mục đích tìm ra các
nhóm dược liệu có nguồn gốc từ tự nhiên sử dụng trong hổ trợ điều trị viêm.
Cây Sài Đất hay nhiều nơi còn gọi là Ngổ núi, Cúc Pháp, hoa Múc

(Wedelia chinensis (Osbeck) Merr. thuộc họ Cúc (Asteraceae), là một loài cây
được sử dụng nhiều trong các bài thuốc dân gian với tác dụng chữa mụn nhọt,


chốc, lở ngứa, đau mắt, viêm bàng quang, viêm tuyến vú, hạ sốt, giảm đau....
Theo Đông y, Sài đất vị ngọt, hơi chua, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, giải
độc, cầm ho, mát máu; thường được dùng chữa cảm mạo, sốt, viêm họng,
viêm phế quản phổi, ho gà, tăng huyết áp, trĩ rị, phịng sởi, mụn nhọt...Vì vậy,
Sài đất được xem là thảo mộc chữa bệnh đơn giản, hiệu quả.
Theo kết quả nghiên cứu của các cơng trình đã được cơng bố, trong thành
phần hóa học của cây bên cạnh các hợp chất: phytosterol, caroten, chlorophylle,
coumarin,

tanin,

flavonoids,

Sài

đất

còn

chứa

wedelolactone



demethylwedelolactone đây là những hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Chính vì

vậy, Sài đất đã thu hút sự quan tâm chú ý nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nhằm
mục đích tách chiết các thành phần hợp chất có trong Sài đất và khảo sát hoạt tính
sinh học của nó với mục đích chứng minh và sử dụng trong hỗ trợ điều trị bệnh.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tơi tiến hành chọn đề tài: Nghiên cứu
hoạt tính, kháng khuẩn và kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất
(Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.) trên chuột nhắt trắng dòng BALB/c bị gây
viêm bằng carrageenan.
2. Mục tiêu đề tài
Xác định hoạt tính kháng khuẩn và kháng viêm của dịch chiết ethanol
từ cây sài đất nhằm bổ sung nguồn nguyên liệu dược liệu sử dụng trong điều
trị viêm.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp các số liệu về tác dụng kháng
viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất, đây là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp
theo nhằm bổ sung nguồn nguyên liệu dược liệu sử dụng trong hỗ trợ và điều
trị viêm.


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về viêm
1.1.1. Khái niệm viêm.
1.1.2. Cơ chế quá trình viêm
1.2. Tổng quan về cây Sài đất (Wedelia chinensis (Osbeck) Merr.)
1.2.1. Đặc điểm thực vật và phân bố của cây Sài đất
1.2.2. Các bài thuốc dân gian về cây Sài đất
1.2.3. Các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây
Sài đất
1.3. Tổng quan về chuột nhắt trắng
1.3.1. Đặc điểm sinh học
1.3.3. Vòng đời và sức sinh sản



CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên liệu nghiên cứu
2.1.1. Nguyên liệu thực vật
Lá cây Sài đất được thu hái tại thành phố Đà Nẵng. Mẫu được xác định
bằng phương pháp so sánh hình thái theo khóa phân loại thực vật của Phạm
Hồng Hộ. Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại phịng thí nghiệm Di truyền – Giải
phẫu sinh lý động vật, khoa Sinh – Môi trường, đại học Sư Phạm, Đà Nẵng.
2.1.2. Nguyên liệu động vật:
Chuột nhắt trắng dịng BALB/c có khối lượng từ 20-25 gram, chỉ gồm
giống đực, được cung cấp bởi Viện Pasteur Nha Trang và được ni trong
phịng thí nghiệm Di truyền - Giải phẩu - Sinh lý động vật thuộc khoa Sinh Môi trường, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. Chuột được cho ăn
thức ăn tiêu chuẩn và nước uống tự do.
2.1.3. Các chủng vi khuẩn:
Chủng vi khuẩn Escherichia coli và Samonella sp được phân lập và lưu
giữ tại phịng cơng nghệ vi sinh – hóa sinh thuộc khoa Sinh - Môi trường,
trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
2.1.4. Nguyên liệu hóa chất, dụng cụ thí nghiệm:
Carrageenan; indomethacin; NaCl; NaOH; chì Acetate; FeCl3 ethanol
96%; DMSO; máy cô quay chân không; máy siêu âm; tủ cấy,... và các hóa
chất, dụng cụ thí nghiệm thơng thường khác.
2.1.5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên cây Sài đất thu hái tại thành phố
Đà Nẵng. Hoạt tính kháng viêm và kháng khuẩn của cao chiết ethanol từ cây
Sài đất được đánh giá thông qua các phép thử hoạt tính in vitro, in vivo trên


chuột nhắt trắng tại phịng thí nghiệm Di truyền - Giải phẫu - Sinh lý động vật

thuộc khoa Sinh - Môi trường, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát nồng độ gây độc tính cấp của cao chiết ethanol từ cây Sài
đất.
- Đánh giá hoạt tính kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất
trên chuột nhắt trắng thông qua các chỉ số huyết học (số lượng bạch cầu, tỷ
lệ phần trăm bạch cầu trung tính và bạch cầu lympho) mức độ ức chế phù ở
chân chuột nhắt trắng và khối lượng tăng viên u hạt.
- Đánh giá mức độ kháng khuẩn từ cao chiết ethanol từ cây Sài đất.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp chiết dịch nghiên cứu
2.3.2. Phương pháp khảo sát sơ bộ các thành phần trong cao chiết
2.3.3. Phương pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn
2.3.4. Phương pháp thử độc tính cấp
2.3.5. Nghiên cứu tác dụng chống viêm cấp của cao chiết ethanol từ cây Sài
đất
2.3.6. Phương pháp xác định công thức bạch cầu
2.3.7. Phương pháp xử lý số liệu
2.3.8. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1.

Kết quả khảo sát sơ bộ các thành phần trong cao chiết ethanol từ
cây Sài đất
Kết quả khảo sát sơ bộ thành phần hóa học trong cao chiết ethanol từ

cây Sài đất được trình bày qua bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát sơ bộ các thành phần trong cao chiết

ethanol từ cây Sài đất
Nhóm hợp chất

Thuốc thử và cách

Kết quả

thực hiện
Phản ứng NaOH 10%

+

FeCl3 5%

+

Saponin

Phản ứng tạo bọt

+

Ancaloid

Dragendorff

+

Bouchardat


+

Coumarin

Mở đóng vịng lacton

_

Tannin

FeCl3 5%

+

Chì acetace

+

Flavonoid

Qua bảng 3.1 ta thấy: cao chiết ethanol từ cây Sài đất cho phản ứng
dương tính với các thuốc thử nhóm lớp chất: flavonoids, saponin, ancaloid và
tannin.
- Trong thử nghiệm phản ứng giữa dung dịch FeCl3 5% vào hỗ hợp
dịch chiết ethanol của cây Sài đất (cao chiết + nước), kết quả dung dịch
chuyển thành màu xanh đen đặt trưng cho thấy sự có mặt của flavonoids trong
cao chiết. Kết quả này một lần nữa được khẳng định trong thử nghiệm phản
ứng giữa cao chiết với NaOH 10%. Khi cho NaOH 10% vào hỗn hợp dung



dịch cao chiết, dung dịch cao chiết chuyển sang màu vàng, tiếp tục nhỏ acid
hydrochloric và dung dịch, màu vàng của dung dịch sẽ nhanh chóng mất đi.
- Trong thử nghiệm định tính saponin sau khi tiến hành thử nghiệm
xuất hiện cột bọt kéo dài hơn 15 phút điều này chứng tỏ trong thành phần cao
chiết có mặt các hợp chất thuộc lớp chất saponin.
- Sau khi tiến hành thử nghiệm phản ứng với thuốc thử Bouchardat, kết
quả thu được là kết tủa nâu đỏ, điều này chứng tỏ trong thành phần hóa học
của cao chiết có các hợp chất thuộc lớp chất ancaloid. Kết quả này một lần nữa
được khẳng định qua phản ứng của cao chiết với thuốc thử Dragendoff.
- Cùng với kết quả thử nghiệm chuyển thành màu xanh đen khi nhỏ 3
giọt dung dịch FeCl3 5% vào dịch chiết. Kết quả thử nghiệm dịch chiết với chì
acetate dung dịch tạo ra kết tủa vàng chứng tỏ rằng trong thành phần cao chiết
cây Sài đất có các hợp chất thuộc lớp chất tannin.
Như vậy, trong cao chiết cây sài đất có các hợp chất thuộc lớp chất
saponin, tannin, ancaloid và flavonoid.
3.2. Kết quả khảo sát độc tính cấp của cao chiết ethanol từ cây Sài đất
trên chuột thí nghiệm
Độc tính cấp được xác định theo phương pháp của Bộ Y tế ban hành
với mục tiêu nhằm xác định LD50 của cao chiết ethanol từ cây Sài đất. Sau khi
cho chuột uống cao chiết, quan sát, theo dõi biểu hiện và hoạt động của chuột
trong thời gian 24h và 72h.
Kết quả thí nghiệm kiểm tra độc tính cấp của mẫu cao chiết ethanol từ
cây Sài đất được trình bày ở bảng 3.2.


Bảng 3.2 Kết quả khảo sát độc tính cấp của cao chiết ethanol từ cây Sài đất
trên chuột thí nghiệm
Cao chiết



ethanol từ
cây Sài đất
(mg/kgP/lần)

Số chuột chết/
số chuột sống
(sau 72 giờ)

Biểu hiện chức năng trong vòng
24 giờ

Chuột khoẻ mạnh, di chuyển và
1

125

0/6

ăn uống bình thường, phản xạ với
ánh sáng và âm thanh tốt.

Chuột khoẻ mạnh, di chuyển và
2

250

0/6

ăn uống bình thường, phản xạ với
ánh sáng và âm thanh tốt.


Chuột khoẻ mạnh, di chuyển và
3

500

0/6

ăn uống bình thường, phản xạ với
ánh sáng và âm thanh tốt.

Chuột khoẻ mạnh, di chuyển và
4

1000

0/6

ăn uống bình thường, phản xạ với
ánh sáng và âm thanh tốt.

5

Đối chứng
sinh lý

Chuột khoẻ mạnh, di chuyển và
0/6

ăn uống bình thường, phản xạ với

ánh sáng và âm thanh tốt.


Kết quả trên cho thấy, sau khi uống cao chiết ethanol từ cây Sài đất
chuột ở các nhóm thuộc các lơ 1,2,3 và 4 đều có biểu hiện tốt, ăn uống bình
thường khơng có sự khác biệt so với nhóm đối chứng sinh lý ở lơ 5. Trong q
trình khảo sát không ghi nhận dấu hiệu chuột bị chết hay ngộ độc.
Từ kết quả khảo sát độc tính cấp cho thấy cao chiết ethanol từ cây Sài
đất an toàn cho chuột ở các nồng độ thực nghiệm, chưa xác định được độc tính
cấp và chưa xác định được giá trị nồng độ gây chết LD50 của cao chiết.
Dựa vào kết quả trên, chúng tơi tiến hành bố trí thí nghiệm đánh giá tác
dụng kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất.
3.3. Kết quả khảo sát hoạt tính kháng viêm trên chuột nhắt trắng dòng
BALB/c
3.3.1. Kết quả khảo sát hoạt tính kháng viêm trên mơ hình gây phù chân và
gây u hạt trên chuột nhắt trắng dòng BALC/c
Để khảo sát hoạt tính kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất,
chúng tơi sử dụng mơ hình gây viêm cấp ở chân bằng carrageenan và mơ hình
gây u hạt ở nách phải chuột nhắt trắng dòng BALB/c. Các kết quả thu được
trong 2 mơ hình nghiên cứu này cho phép đánh giá sơ bộ hoạt tính kháng viêm
của cao chiết ethanol từ cây Sài đất.
❖ Kết quả hoạt tính kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất trên
mơ hình gây phù chân chuột
Sau khi gây phù chân chuột bằng dung dịch carrageenan, thể tích bàn
chân chuột được đo ở thời điểm trước khi gây viêm và ở các thời điểm 2h, 4h,
6h và 24h sau khi gây viêm. Tính độ tăng thể tích chân chuột và % ức chế phù
ở các lơ chuột, từ đó đánh giá hoạt tính kháng viêm của cao chiết ethanol từ
cây Sài đất.
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của cao chiết ethanol từ cây Sài đất đối với
mức độ tăng thể tích và tỉ lệ phần trăm ức chế phù chân chuột được thể hiện

qua hình 3.1. và 3.2.


100%
90
80
70

lô 1 - liều 500mg/kgP

60

lô 2 - liều 250mg/kgP

50

Lô 3 - liều 125mg/kgP

40

lơ 4 uống indomethacin

30

lơ đối chứng

20
10
0


2h

4h

6h

24h

Hình 3.1. Ảnh hưởng cao chiết ethanol từ cây Sài đất đối với mức độ tăng
thế tích chân chuột (V%)
70%
60

`

50

lơ 1 - uống CCCSĐ liều
500mg/kgP

40

lô2- uống CCCSĐ liều
250mg/kgP

30

lô 3- uống CCCSĐ liều
125mg/kgP


20

lô 4 - uống indomethacin

10
0
2h

4h

6h

8h

thời gian theo dõi

Hình 3.2. Tỉ lệ phần trăm ức chế phù (I%) của các lô chuột thực nghiệm.
Từ kết quả hình 3.1. và 3.2. cho thấy cao chiết ethanol từ cây Sài đất có
tác dụng giảm viêm trên mơ hình viêm cấp thực nghiệm bằng carrageenan.
- Tại các thời điểm 2h, 4h, 6h, 24h mức độ tăng thể tích chân chuột ở lơ
5 (lơ đối chứng) lớn hơn so với mức độ tăng thể tích chân chuột của các nhóm
chuột ở lơ 1, lơ 2 và lơ 3 (lơ thí nghiệm). Kết quả này cho thấy cao chiết
ethanol từ cây Sài đất có tác dụng giảm viêm.


- So sánh mức độ tăng thể tích chân chuột ở lô 1, lô 2 và lô 3 cho thấy
tại các thời điểm nghiên cứu, mức độ tăng thể tích chân chuột giảm từ lô 1
giảm đến lô 3.
+ Tại thời điểm 2h, mức độ tăng thể tích chân chuột trung bình ở lơ 1
là: 26,48%; lơ 2 là: 34,1% và lô 3 là 37,01%.

+ Tại thời điểm 4h, mức độ tăng thể tích chân chuột trung bình ở lơ 1
là: 34,13%; lô 2 là: 45,03% và lô 3 là 47,03%.
+ Tại thời điểm 6h, mức độ tăng thể tích chân chuột trung bình ở lơ 1
là: 36,88%; lơ 2 là: 50,37% và lô 3 là 53,37%.
+ Tại thời điểm 24h, mức độ phù chân chuột trung bình ở lơ 1 là:
25,46%; lô 2 là: 35,06% và lô 3 là 37,12%.
Kết quả so sánh cho thấy khả năng kháng viêm của cao chiết ethanol từ
cây Sài đất phụ thuộc vào nồng độ. Cao chiết ethanol từ cây Sài đất ở nồng độ
500mg/kgP có khả năng kháng viêm tốt hơn ở nồng độ 250mg/kgP và
125mg/kgP.
- Khi so sánh mức độ tăng thể tích chân chuột ở lơ 1, lơ 2 và lô 3 với lô
uống indomethacin cho thấy: mức độ tăng thể tích chân chuột ở lơ uống
indomethacin thấp hơn so với lô 2 và lô 3 nhưng cao hơn so với lô 1. Khi so
sánh phần trăm giảm phù của chân chuột ở các lô cho thấy phần trăm giảm
phù chân chuột ở lô 2, 3 thấp lô uống indomethacin. Trong khi đó phần trăm
giảm phù của lơ 1 cao hơn so với lô uống indomethacin.
Kết quả so sánh này một lần nữa cho thấy cao chiết ethanol từ cây Sài
đất có hoạt tính kháng viêm và hoạt tính khả năng kháng viêm phụ thuộc vào
nồng độ. Ở các nồng độ thử nghiệm, nồng độ cao chiết càng cao thì hoạt tính
càng mạnh.
Carrageenan là một polysacarid mạch thẳng sulfat hóa, được chiết từ
loài rong sụn và rong đỏ và thường được sử dụng để gây viêm cấp tính.
Carrageenan gây phản ứng viêm qua 2 giai đoạn: giai đoạn đầu tiên là do giải


phóng histamine và serotonin; giai đoạn thứ hai là do sự giải phóng bradykinin
protease, prostaglandin và lysosome.
Như cậy, cao chiết ethanol từ cây sài đất có thể thơng qua hoạt động ức
chế q trình giải phóng các chất trung gian ở giai đoạn đầu hoặc ức chế
cyclo-oxygenase ở giai đoạn tiếp để kháng viêm.

Theo kết quả khảo sát sơ bộ về thành phần hóa học cho thấy trong cao
chiết ethanol từ cây Sài đất có các hợp chất thuộc lớp chất flavonoid, ancaloid,
tannin và saponin. Theo kết quả nghiên cứu đã được công bố các hợp chất
thuộc các lớp này có hoạt tính kháng viêm.
+ Hoạt động kháng viêm của flavonoid có thơng qua hoạt động ức chế
các hoạt động COX và LOX, sinh tổng hợp eicosanoid và khử bạch cầu trung
tính.
+ Ancaloid có khả năng tham gia hoạt động kháng viêm thông qua hoạt
động ức chế các yếu tố gây viêm như các chất trung gian hóa học, cytocin,….
+ Hoạt tính kháng viêm của tannin cũng đã được chứng minh thơng qua
2 mơ hình gây viêm phù chân chuột bằng carrageenan gây phù chân chuột và
thử nghiệm u hạt bông. Ở liều cao hơn, tannin dùng đường uống cũng có hoạt
động trong các thí nghiệm phù chân.
+ Saponin là một nhóm glycoside được tìm thấy trong nhiều loại thực
vật. Saponin có thể được phân loại thành hai nhóm dựa trên bản chất của bộ
xương aglycone của chúng. Theo kết quả nghiên cứu, nhiều hợp chất thuộc lớp
chất saponin có hoạt tính kháng viêm thơng qua các hoạt động như tăng tính
thấm của mạch máu, ức chế q trình giải phóng PFE2 và TNF-α hay ức chế
sự hình thành gốc tự do NO.


Kết quả hoạt tính kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất trên

mơ hình gây u hạt ở chuột nhắt trằng dịng BALB/c
Kết quả hoạt tính kháng viêm của cao chiết ethanol từ cây Sài đất trên
mơn hình gây u hạt ở chuột nhắt trắng được trình bày qua bảng 3.3.


Bảng 3.3. Tác dụng của chiết xuất Wedelia Chinensis đối với bệnh u hạt gây
ra ở chuột.

Lơ thí nghiệm

Liều

dùng Trọng lượng u Khả năng ức chế Sự

(mg/kgP)

hạt (mg)

tăng lên u hạt (%)

Bệnh lý

0

27,8 ± 0,71

Lô uống indomethacin

10

11,7 ± 2,72

57,45

125

21,2 ± 3,31


25,27

250

17,4 ± 2,95

36,73

500

9,8 ± 1,77

64,36

Lô uống cao chiết ethanol
từ cây Sài đất
Lô uống cao chiết ethanol
từ cây Sài đất
Lô uống cao chiết ethanol
từ cây Sài đất

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng trọng lượng tăng của u hạt giảm
dần từ lô uống cao chiết từ nồng độ 125mg/kg (21,2 ± 3,3mg) đến lô uống cao
chiết ở nồng độ 500mg/kgP (9, ± 1,77mg).
Khi so sánh trọng lượng tăng u hạt của các lô uống cao chiết với lô
uống indomethacin cho thấy: trọng lượng tăng u hạt ở lô uống indomethacin
thấp hơn sơ với lô uống ở nồng độ cao chiết 125mg/kgP và 250mg/kgP nhưng
lại cao hơn so với lô uống 500mg/kgP. Phần trăm ức chế sự tăng lên u hạt của
lô uống indomethacin (57,45%) cao hơn so với lô uống liều 125mg/kgP
(25,27%) và lô uống liều 250mg/kgP (36,73%) nhưng thấp hơn lô uống liều

500mg/kgP (64,36%).
U hạt là một đặc điểm điển hình của phản ứng viêm cấp. Phương
pháp u hạt dạng bông đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá các giai đoạn
viêm: xuất tiết và giai đoạn tăng sinh của viêm cấp. Dịch rĩ viêm được hấp
phụ bởi các viên ảnh hưởng rất lớn đến trọng lượng ướt của u hạt, trong
khi đó trọng lượng khơ tương quan tốt với lượng mơ hạt hình thành


[46]. Khi đánh giá về trọng lượng khô của u hạt cho thấy cao chiết ethanol
của cây Sài đất có hoạt tính ngăn cản sự tăng sinh trọng lượng u hạt. Kết
quả này một lần nữa cho thấy cao chiết ethanol của cây Sài đất có hạt tính
kháng viêm. Hoạt tính kháng viêm thơng qua hoạt động ngăn cản q
trình xuất tiết dịch rĩ viêm và giai đoạn đoạn tăng sinh của quá trình viêm
của cao chiết ethnol của cây Sài đất cũng có thể được giải thích do sự xuất
hiện các hợp chất thuộc lớp chất flavonoid, ancaloid, tanin và saponin
trong thành phần hóa học của cây Sài đất.
Như vậy, qua cả hai mơ hình thử nghiệm: gây viêm cấp ở chân bằng
carrageenan và mơ hình gây u hạt ở nách phải trên chuột nhắt trắng đều cho
thấy cao chiết ethanol từ cây Sài đất có hoạt tính kháng viêm và hoạt tính
kháng viêm tăng khi tăng nồng độ cao chiết trong các mức nồng độ nghiên
cứu.
3.3.2. Tác dụng của cao chiết ethanol từ cây Sài đất lên tổng số lượng bạch
cầu và phần trăm bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho
Kết quả ảnh hưởng của cao chiết ethanol từ cây Sài đất đến số lượng bạch cầu
và phần trăm bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho được trình bày qua bảng
3.4. và 3.5.


Bảng 3.4. Tác dụng của cao chiết ethanol từ cây Sài đất lên tổng số lượng
bạch cầu và bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho từ mơ hình gây phù

chân chuột
Lơ thí nghiệm

Liều

Số lượng bạch

Phần trăm bạch cầu trung

dùng

cầu (ngàn

tính và lympho

mg/kgP

TB/mm3)
Trung tính (%)

Lympho (%)

Lơ 1

125

12,55 ± 2,86

35,35 ± 2,62


64,65 ± 2,62

Lô 2

250

11,97 ± 1,36

33,4 ± 4,81

66,6 ± 4,18

Lô 3

500

11,04 ± 0,03

32,31 ± 2,84

67,69 ± 2,84

10

11,27± 0,94

32,01 ± 2,56

67,99 ± 2,56


0

8,05 ± 0.78

41,72 ± 1,01

58,29 ± 1,01

Lô 4 uống
indomethacin

Lô 5 đối
chứng


3.5. Tác dụng của cao chiết ethanol từ cây Sài đất lên tổng số lượng bạch
cầu và phần trăm bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho từ mơ hình gây u
hạt
Lơ thí nghiệm Liều

dùng Số

mg/kgP

lượng Phần trăm bạch cầu trung

bạch

cầu tính và lympho


(ngàn

Trung

tính Lympho (%)

3

TB/mm )

(%)

Lơ 1

125

8,97 ± 0,4

39,97 ± 2,72

60,03 ± 2,72

Lô 2

250

9,69 ± 0,95

37,47 ± 2,34


62,54 ± 2,34

Lô 3

500

10,43 ± 0,75

35,99± 2,81

64,01 ± 2,81

10

9,99± 0,35

34,79 ± 3,34

65,21 ± 3,33

0

7,91 ± 0,18

44,48 ± 6,36

55,53 ± 6,67

Lô 4 uống
indomethacin

Lô 5 đối chứng

* Ghi chú: Lô 1,2,3 là các lô thử nghiệm uống cao chiết ethanol từ cây Sài đất
Qua bảng 3.4. và 3.5. trên ta thấy ở cả 3 liều 500mg/kgP, 250mg/kgP
và 125mg/kgP:
Số lượng bạch cầu tăng dần từ lô 1 đến lơ 3, tỉ lệ bạch cầu trung tính
giảm dần từ lô 1 đến lô 3 và tỉ lệ bạch cầu lympho tăng dần từu lô 1 đến lô 3.
Cơ chế ổ viêm ảnh hưởng đến toàn cơ thể: viêm làm tăng số lượng bạch
cầu, tăng kháng thể, bổ thể, tăng các yếu tố đông máu, tăng chức năng của một
số cơ quan như gan, thận để khống chế và tiêu diệt các yếu tố gây viêm.
Như vậy số lượng bạch cầu của các lô uống cao chiết ethanol từ cây Sài
đất đều cao hơn so với lô đối chứng, hay nói cách khác cao chiết ethanol từ


cây Sài đất đã ảnh hưởng đến chức năng tạo bạch cầu. Điểu này có thể giải
thích trong thành phần hóa học cho thấy trong cao chiết ethanol từ cây Sài

đất có các hợp chất thuộc lớp chất flavonoid, ancaloid, tannin và saponin.
Các hợp chất này giúp tăng cường chức năng của hệ miễn dịch và có tác dụng
bảo vệ cơ thể thơng qua việc tăng số lượng bạch cầu.
Ngồi ra, khi gây viêm bằng carrageenan – một chất có bản chất là
polysaccharid, sẽ khởi động các quá trình viêm cấp, bản chất của quá trình này
là đáp ứng các quá trình miễn dịch, cụ thể là các bạch cầu trung tính. Chuột ở
các lơ dùng thuốc có bạch cầu trung tính giảm là do các dẫn xuất của cao chiết
cây Sài đất ức chế chất trung gian tự nhiên trong viêm, ngăn chặn quá trình
sản sinh NO và prostaglandin E2. Vì vậy mà giảm sự thu hút các bạch cầu
trung tính đến nơi viêm nhiễm. Do đó có tác dụng chống viêm.
3.4. Kết quả kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của cao cây sài đất đã được nghiên cứu ở nồng
độ 200mg/ml) chống lại 2 chủng vi khuẩn Gram âm gây bệnh Escherichia coli

và Salmonella.
Khả năng kháng khuẩn được xác định dựa trên khả năng ức chế sự phát
triển của vi khuẩn được thể hiên qua đường kính kháng khuẩn được tạo ra trên
đĩa Petri sau 3 lần lặp lại thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 3.6. Đường kính vòng kháng khuẩn của cao chiết ethanol từ cây
sài đất (mm)
Mẫu thử

Nồng độ

Cao chiết ethanol từ 200mg/ml

Escherichia coli

Salmonella

21,4 ± 1,15

22,43±051

cây Sài đất
Ampicilin

1mg/ml

23,83 ±1,76

26,47±0,61

DMSO


5%

0

0


Hình 3.3. Khả năng kháng E.coli của cao chiết ethanol từ cây Sài
đất

Hình 3.4. Khả năng kháng Salmonella của cao chiết ethanol từ cây Sài đất

Theo bảng 3.6. khi đánh giá sơ bộ về khả năng kháng khuẩn của cao
chiếc ethanol từ cây Sài đất trên từng chủng vi khuẩn chúng tôi rút ra một số
nhận xét như sau:
Ở giếng có bổ sung DMSO 5%, ở cả 2 chủng khuẩn Escherichia coli,
Salmonella đều khơng xuất hiện vịng kháng khuẩn. Kết quả này trùng với kết
quả nghiên cứu của các công trình đã được cơng bố. Do đó, DSMO5% được
sử dụng làm dung mơi hịa tan cao chiết ethanol từ cây Sài đất để khảo sát
hoạt tính kháng khuẩn.
Trong giếng có bổ sung 200mg cao chiết ethanol từ cây Sài đất được
hòa tan trong 1ml DMSO 5%, xuất hiện vòng kháng khuẩn có đường kính
21,4 ± 1,15mm đối với chủng khuẩn Escherichia Coli và vòng kháng khuẩn


có đường kính 22,43±0,51mm đối với chủng khuẩn Salmonella, đều này
chứng tỏ cao chiết khả năng kháng khuẩn tương đối mạnh. Tuy nhiên khả
năng kháng khuẩn của cao chiết ethanol từ cây Sài đất vẫn thấp hơn so vói
ampicilin ở nồng độ 1mg/ml ở cả hai chủng khuẩn.

Theo kết quả của các cơng trình đã được cơng bố, trong các dịch chiết
từ các bộ phận khác nhau của thực vật mà có chứa các hợp chất thuộc lớp chất
saponin, tannin, flavonoid, alcaloid thì thường có hoạt tính kháng khuẩn:
- Hoạt tính kháng khuẩn của flavonoid có mối liên quan với cấu trúc
của nó phụ thuộc vào nhóm hydroxyl tại các vị trí đặc biệt trên các vịng thơm
của flavonoid và sự methyl hóa các nhóm hydroxyl thường làm giảm khả năng
chống khuẩn của flavonoid. Ngồi ra, các nhóm thế kỵ nước như nhóm prenyl,
chuỗi alkylamino, chuỗi alkyl và nitơ hoặc oxy chứa các dị vòng thường tăng
cường hoạt động kháng khuẩn của flavonoid. Hoạt động kháng khuẩn của
flavonoid được đề xuất thông qua các nghiên cứu gồm: ức chế tổng hợp axit
nucleic, ức chế chức năng màng tế bào chất, ức chế chuyển hóa năng lượng,
ức chế sự gắn kết và hình thành màng sinh học, ức chế porin trên màng tế bào,
thay đổi tính thấm cúa màng tế bào và suy giảm khả năng gây bệnh.
- Hoạt tính kháng khuẩn của saponin có thể thơng qua hoạt động làm
xáo trộn tính thấm của màng ngồi của vi khuẩn. Khoảng 90% bề mặt của
màng sinh chất vi khuẩn gram âm khơng có cholesterol mà được bào phủ bởi
lipopolysacarit và protien. Saponin có thể tương tác với lipid màng do đó, thúc
đẩy sự hấp thu kháng sinh ở vi khuẩn.
- Tanin có khả năng ức chế enzym của vi khuẩn và tác động trức tiếp
đến q trình chuyển hóa của vi khuẩn thơng qua việc ức chế q trình
phosphoryl oxy hóa, do đó tanin có hoạt tính kháng khuẩn. Ngồi ra tanin có
thể tạo phức với nhiều ion kim loại như ion sắt hay ion đồng ... và thông qua
hoạt động này, tanin ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn do đó có hoạt tính
kháng khuẩn.
- Alcaloid cũng có biểu hiện hoạt tính kháng viêm thơng qua hoạt động
suy giảm khả năng gây bệnh của vi khuẩn bằng cách ức chế sự hình thành


hoặc phân tán màng sinh học của vi khuẩn, ức chế sự sản xuất calogen cũng
như bài tiết enzym của vi khuẩn.

Dựa trên những kết quả này, có thể kết luận rằng Wedelia
chinensis chiết xuất từ ethanol có tiềm năng lớn là tác nhân kháng khuẩn để
điều trị các bệnh truyền nhiễm do các vi khuẩn gây bệnh gây ra.


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu, tôi rút ra các kết luận sau:
- Cao chiết từ cây Sài đất ở nồng độ 500mg/kgP trở xuống khơng thể
hiện độc tính trên nhóm chuột nghiên cứu.
- Cao chiết cây Sài đất có hoạt tính kháng viêm trong đó cao chiết cây
sài đất ở liều 500mg/kgP có tác dụng kháng viêm cao nhất ở các nồng độ thực
nghiệm.
- Cao chiết ethanol từ cây Sài đất có tác dụng kháng khuẩn tốt.
2. Kiến nghị
Trong quá trình nghiên cứu, nhận thấy cao chiết từ cây Sài đất có hoạt
tính kháng viêm trên chuột nhắt trắng. Nhưng đây chỉ mới là bước đầu đánh
giá ảnh hưởng của cao chiết từ cây Sài đất đến việc kháng viêm và kháng
khuẩn ở chuột nhắt trắng. Vì vậy, để thu được kết quả tồn diện và tốt hơn, tơi
có các kiến nghị sau:
- Tăng thời gian thí nghiệm và chia nhỏ liều lượng cao chiết để làm rõ
tác dụng của cao chiết từ lá Sài đất đến tác dụng kháng viêm.
- Cần nghiên cứu trên từng phân đoạn của cao chiết để xác định sự ảnh
hưởng của từng hợp chất sinh học đến q trình peroxy hóa tế bào ở chuột
nhắt trắng.
- Cần thí nghiệm trên nhiều đối tượng hơn, theo các hướng gây viêm
khác để có kết luận có độ tin cậy cao hơn.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×