ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
ĐẶNG THỊ DUYÊN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
BÀI TẬP THỰC NGHIỆM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG”
SINH HỌC 11
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng – Năm 2019
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐƯỢC HỒN THÀNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn: TS. TRƯƠNG THỊ THANH MAI
Phản biện 1: Th.S Ngơ Hồng Vân
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Phản biện 2: ThS. Nguyễn Thị Hải Yến
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Tấn Lê
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Phản biện 4: TS. Nguyễn Công Thùy Trâm
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Khóa luận được bảo vệ trước Hội đồng tại Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Ngày 10 tháng 1 năm 2019
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của giáo dục trong xã hội hiện nay
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng hiện đại; phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Xậy dựng nền giáo dục gắn liền với
thực tiễn, chú trọng phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh.
1.2.
Xuất phát từ vai trò của việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết
vấn đề
Một trong nhiệm vụ quan trọng của nền giáo dục hiện nay chính là hình hành và
phát triển năng lực giải quyết vấn đề (NL GQVĐ) ở người học. Vì vậy, có rất nhiều
nhà giáo dục học đã nghiên cứu phát triển năng lực này thông qua hoạt động giáo dục
nhằm đạt hiệu quả cao nhất có thể. Từ đó, dạy học giải quyết vấn đề đang dần trở
thành xu thế dạy học hiện đại và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
1.3.
Xuất phát từ ưu điểm của bài tập thực nghiệm trong quá trình dạy học
Sử dụng phương tiện dạy học sẽ giúp học sinh (HS) nâng cao hiệu quả học tập,
thu hút HS vào hoạt động dạy của giáo viên (GV). Tuy nhiên, hiện nay, do điều kiện
về cơ sở vật chất và đào tạo còn thiếu thốn nên nhiều HS có rất ít cơ hội để nghiên
cứu và tiến hành các thí nghiệm. Một trong những biện pháp đầy tính khả thi để giải
quyết vấn đề trên là bài tập thực nghiệm. Bài tập thực nghiệm góp phần hạn chế
những khó khăn về thiếu thốn cơ sở vật chất ở các trường học hiện nay mà vẫn đảm
bảo được phát triển các năng lực cần thiết và gần gũi với thực tiễn cuộc sống.
1.4. Xuất phát từ nội dung kiến thức của môn sinh học phù hợp với việc áp dụng
bài tập thực nghiệm
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm liên quan chặt chẽ với thực tế đời
sống, lý thuyết không thể tách rời với thực tế. Nhưng với tình trạng chung của đa
phần trường trung học phổ thông (THPT) hiện nay, việc đảm bảo số lượng cũng như
2
chất lượng các thí nghiệm sinh học cho HS là rất khó khăn. Vì vậy, để nâng cao hiệu
quả giải quyết của hoạt động dạy và học, bài tập thực nghiệm nên được ưu tiên phát
triển và áp dụng rộng rãi vào các trường học.
Với những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: Xây dựng và sử dụng bài
tập thực nghiệm phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học chương
“Chuyển hóa vật chất và năng lượng” sinh học 11.
2. Mục tiêu của đề tài:
- Xây dựng bài tập thực nghiệm thuộc nội dung “Chuyển hóa vật chất và năng
lượng”, Sinh học 11.
- Đề xuất biện pháp sử dụng bài tập thực nghiệm nhằm hình thành và phát triển
năng lực giải quyết vấn đề.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thực nghiệm một cách phù hợp trong
dạy học và kiểm tra đánh giá nội dung “Chuyển hoá vật chất và năng lượng” sinh học
11 thì sẽ hình thành và phát triển được năng lực giải quyết vấn đề cho người học, từ
đó nâng cao chất lượng dạy học mơn Sinh học.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BTTN và năng lực giải quyết vấn đề.
- Đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực nghiệm theo định hướng
phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
- Xây dựng và sưu tầm các bài tập thực nghiệm dùng trong dạy học kiến thức
Chuyển hóa vật chất và năng lượng- sinh học 11.
- Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá NLGQVĐ của HS trong từng BTTN.
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phần tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
3
Chương 2: Đối tượng, khách thể, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và biện luận
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ rất sớm, các nhà lý luận dạy học trên thế giới đã nhận thấy được tầm quan
trọng trong thí nghiệm thực hành trong dạy học như B.P.Exipop (1971) “Những cơ
sở lý luận dạy học”; G.D.Shama (1996) “Phương pháp dạy học ở đại học”;
I.F.Kharlamop (1978) “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”;…Phương
pháp này được vận dụng vào nhiều môn học đặc biệt là ngành khoa học tự nhiên,
trong đó có Sinh học. Các nhà giáo dục học cũng đưa ra nhiều mơ hình dạy học có áp
dụng thí nghiệm thực hành: Skinner (1968) đã cho rằng: Dạy học là q trình tự khám
phá, và đưa ra mơ hình dạy học khám phá bằng việc sử dụng thí nghiệm thực hành;
Mơ hình Tyler (1962) dạy học thơng qua tổ chức kinh nghiệm giáo dục.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam, theo định hướng đổi mới giáo dục, có rất nhiều nhà lý luận
dạy học nghiên cứu về phương pháp thí nghiệm thực hành, nhằm cải tiến phương
pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức như: Đinh Quang Báo,
Phan Đức Duy, Nguyễn Văn Cường,...
Việc nghiên cứu vận dụng phương pháp BTTN trong giảng dạy và kiểm tra đánh
giá (KTĐG) để phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS đã thu hút một số tác giả
nghiên cứu ở các cơng trình sau: Trương Xuân Cảnh, Nguyễn Thị Liên, Phan Đức
Duy, Lương Việt Thái, Trịnh Lê Hồng Phương, Đặng Thị Dạ Thủy,… chỉ ra rằng
BTTN có nhiều tác động tích cực như kích thích và phát huy tính tích cực của HS,
tăng hiệu quả trong truyền đạt kiến thức, góp phần rèn luyện các NL cần thiết cho HS
và rất phù hợp với các môn khoa học thực nghiệm.
4
1.2.
Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Bài tập thực nghiệm
a. Khái niệm bài tập thực nghiệm
Bài tập thực nghiệm là các bài tập chứa đựng các thông tin xuất phát từ các hiện
tượng, tình huống diễn ra trong phịng thí nghiệm, q trình sản xuất, cuộc sống hằng
ngày, đã được đơn giản hóa, lý tưởng hóa nhưng vẫn chứa đựng các yếu tố quan trọng
của thực tiễn [10].
Theo Trương Xuân Cảnh, “Bài tập thực nghiệm là một dạng nhiệm vụ học tập có
cấu trúc gồm những dữ kiện và những yêu cầu đòi hỏi người học phải thực hiện bằng
hoạt động thực nghiệm. BTTN gồm 2 tập hợp cơ bản: Những dữ kiện là những thông
tin được cho trước trong bài tập làm cơ sở cho người học định hướng tư duy và định
hướng thực hiện các thao tác nhằm giải quyết có hiệu qủa những yêu cầu của bài tập;
Những yêu cầu người học phải thực hiện, nó chính là kết quả mong muốn người học
cần đạt được” [8].
Như vậy, BBTN có ưu thế vừa là bài tập vừa mơ phỏng thí nghiệm thực hành, cho
thấy việc sử dụng BTTN là phù hợp để phát triển các năng lực liên quan đến thực
hành thí nghiệm, kích thích tư duy tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả học tập.
b. Phân loại bài tập thực nghiệm
Bài tập thực nghiệm được chia làm 2 dạng:
1) BTTN đi kèm với thí nghiệm thật: Đối với dạng bài tập này, HS sẽ sử dụng
các dụng cụ, thiết bị, mẫu vật thật để làm thí nghiệm nhằm giải quyết yêu cầu đề bài.
2) BTTN đi kèm với thí nghiệm ảo: Thí nghiệm sẽ được mơ tả bằng hình ảnh,
video hoặc kênh chữ, HS khơng được trực tiếp thực hiện thí nghiệm mà dựa vào thực
hành thí nghiệm tư duy trên giấy và bút để giải quyết yêu cầu của bài tập.
Chương trình dạy học cần phải quan tâm hơn đến việc tạo mối liên kết giữa lý
thuyết trên trên lớp với thí nghiệm thực hành và thực tiễn xã hội. Vì vậy, trong 2 dạng
BTTN, nên ưu tiên sử dụng dạng 1 vì nó mang tính chất thực hành rất cao. Tuy nhiên,
5
trong hoạt động dạy và học môn sinh học ở trường phổ thơng hiện nay đang gặp rất
nhiều khó khăn để lồng ghép chúng như: thiếu thốn cơ sở vật chất, thiếu kiến thức
đối với thực hành, ít thời gian,.... Để hạn chế những khó khăn đó, trong đề tài này,
chúng tôi tập trung đến những BTTN được đặt trong bối cảnh “phịng thí nghiệm ảo”
nhưng có định hướng về cách giải quyết và khai thác thông tin.
Dựa vào cấu trúc và q trình thí nghiệm, chúng tơi chia BTTN thành:
Dạng 1: Bài tập dự đốn kết quả thí nghiệm là những bài tập chứa đụng các thơng
tin (có thể đầy đủ hoặc khuyết) về chuẩn bị, cách tiến hành thí nghiệm cùng với chú
thích, giải thích dưới dạng chữ, âm thanh hoặc hình ảnh và yêu cầu HS hãy dự đốn
hiện tượng xảy ra, kết quả thí nghiệm và giải thích hiện tượng.
Dạng 2: Bài tập xử lý kết quả, giải thích, rút ra kết luận là những bài tập mơ tả
thí nghiệm, tương tự như dạng bài tập dự đốn kết quả nhưng có cho biết trước kết
quả hiện tượng xảy ra. Yêu cầu của bài tập là HS phải phân tích được kết quả của thí
nghiệm, từ đó giải thích hiện tượng và rút ra kết luận.
Dạng 3: Bài tập thiết kế thí nghiệm là những bài tập yêu cầu HS phải tổ chức, xây
dựng một thí nghiệm để giải quyết các yêu cầu của bài tập.
c. Vai trò của bài tập thực nghiệm
BTTN mang lại rất nhiều lợi ích trong hoạt động dạy và học của GV và HS mà
trong đó có thể kể đến các vai trị sau: Bài tập thực nghiệm giúp hình thành tri thức,
kỹ năng mới cho HS; Bài tập thực nghiệm được sử dụng để ôn luyện, củng cố tri thức
và kỹ năng cho HS; Tổng kết hệ thống hóa kiến thức thông qua bài tập thực nghiệm;
Bài tập thực nghiệm có vai trị trong hoạt động KTĐG HS; BTTN giúp phát triển
năng lực giải quyết vấn đề.
1.2.2. Năng lực giải quyết vấn đề
a. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Theo chương trình đánh giá PISA,2012, Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng
cá nhân hiểu và giải quyết tình huống chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự tham gia vào giải
6
quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng cơng dân tích cực và xây dựng [21].
Theo tác giả Đinh Quang Báo thì NL GQVĐ ở THPT được biểu hiện ở các hoạt động:
Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống;Thu thập và làm rõ các
thơng tin có liên quan đến vấn đề; Đề xuất và phân tích được một số giải pháp GQVĐ;
Lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất; Thực hiện và đánh giá GQVĐ; Suy ngẫm về
cách thức và tiến trình GQVĐ để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới.
b. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề
Theo Chương trình giáo dục tổng thể tháng 12/2018, năng lực giải quyết vấn đề
đối với HS Trung học phổ thông bao gồm các năng lực thành tố sau: Nhận ra ý tưởng;
Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn
giải pháp; Thiết kế và tổ chức hoạt động; Tư duy độc lập
Đối với đề tài này, do sự hạn hẹp về mặt thời gian, chúng tôi chỉ tập trung các
năng lực thành tố: Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng; Thiết
kế và tổ chức hoạt động để đánh giá NL GQVĐ của HS.
1.2.3. Đánh giá năng lực
a. Khái niệm
Đánh giá
Trong giáo dục, đánh giá là một quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin
về đối tượng cần đánh giá (hiểu biết về năng lực của HS, chương trình, nhà trường,…)
một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để
ra quyết định về HS, về chương trình, về nhà trường hay đưa ra các chính sách giáo
dục [13].
Đánh giá năng lực
Đánh giá năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ trong một bối cảnh có
ý nghĩa (Leepil, 2011). Đánh giá theo NL là đánh giá khả năng HS áp dụng các kiến
thức, kỹ năng đã học được vào trong các tình huống thực tiễn của cuộc sống hằng
ngày. Thang đo trong đánh giá NL được quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng
7
lực của người học, do đó, thay vì phân loại, xếp hạng giữa các người học với nhau,
đánh giá NL tập trung vào mục đích đánh giá sự tiến bộ của người học.
b. Nguyên tắc đánh giá năng lực
Khi đánh giá năng lực HS, người đánh giá các đảm bảo các nguyên tắc sau: Phản
ánh được mục tiêu giáo dục; Đánh giá phải đi đôi với phản hồi; Phải KTĐG được các
NL khác nhau của HS; Có độ tin cậy; Có giá trị; Đảm bảo tính khách quan và cơng
bằng; Tính tồn diện; Đảm bảo tính giáo dục; Đảm bảo tính cơng khai; Có mối liên
hệ với thực tiễn.
1.3.
Cơ sở thực tiễn của đề tài
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy phương pháp dạy học nhằm nâng cao
năng lực GQVĐ đã có những bước đổi mới tích cực nhằm phát huy năng lực của HS.
Các tiết thực hành được chú trọng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của
HS. Nguyên nhân được GV đưa ra là do thời lượng dành cho môn học rất hạn hẹp
trong khi thực hành thì cần một khoảng thời gian lớn (57,14%); cơ sở vật chất của
nhà trường còn chưa đáp ứng, các em phải thực hành theo nhóm và chủ yếu chỉ những
em giỏi làm nên có nhiều HS yếu hơn khơng được thực hiện thí nghiệm trực tiếp
(92,85%), 64,28% GV cho rằng thời lượng trên lớp dành cho môn học khá ít nên khó
có thể áp dụng thí nghiệm, 21,14% GV nghĩ rằng các kiến thức được truyền tài bằng
phương pháp truyền thông sẽ nhanh và tiện hơn so với sử dụng thí nghiệm,…Chính
vì vậy, chúng ta cần tìm cách có thể khắc phục những bất cập trên, BTTN là một giải
pháp rất khả quan khi đặt HS vào điều kiện thí nghiệm ảo. 100% GV đồng ý rất việc
áp dụng BTTN là rất cần thiết hoặc cần thiết trong dạy học sinh học.
Qua điều tra, đa số GV sử dụng BTTN ở khâu củng cố và hoàn thiện kiến thức.
Cịn khâu tìm hiểu kiến thức mới và KTĐG vẫn cịn khá hạn chế, có đến 57,14% GV
khơng sử dụng BTTN trong nghiên cứu bài mới và 78,57% GV không sử dụng BTTN
trong KTĐG. Khi sử dụng BTTN, các GV đã nêu ra các khó khăn sau: 28,57% GV
cho rằng việc thiết kế và sử dụng BTTN tốn thời gian; 50% GV nhận xét kỹ năng
thực hành của HS cịn hạn chế, HS khơng quen với các BTTN. BTTN dù không yêu
8
cầu HS phải thực hiện trực tiếp thí nghiệm, nhưng vẫn cần có sự hỗ trợ của các cơ sở
vật chất khác như máy chiếu, loa, các mơ hình, …64,28% GV chia sẻ rằng, cơ sở vật
chất nhà trường hiện khơng đủ điều kiện để có thể áp dụng nhiều dạng BTTN.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
-
Nội dung kiến thức “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” sinh học 11.
- Bài tập thực nghiệm sử dụng trong dạy học và kiểm tra – đánh giá phần
“Chuyển hóa vật chất và năng lượng” sinh học 11.
2.1.
Năng lực giải quyết vấn đề.
Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học và kiểm tra đánh giá kiến thức “Chuyển hoá vật chất và
năng lượng” Sinh học 11.
2.2.
Phạm vị nghiên cứu
- Nội dung chương trình sinh học phần “Chuyển hóa vật chất và năng lượng”
sinh học 11.
- Dùng trong rèn luyện và kiểm tra – đánh giá năng lực giải quyết vấn đề.
- Thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền.
2.3.
Nhiệm vụ nghiên cứu
2.3.1. Nghiên cứu về cơ sở lý luận về BTTN phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
2.3.2. Phân tích nội dung kiến thức, cấu trúc chương “Chuyển hoá vật chất và năng
lượng” Sinh học 11 từ đó thiết kế và đề xuất phương án sử dụng BTTN phù hợp.
2.3.3. Nghiên cứu thực trạng hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề
thông qua BTTN trong các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
9
2.3.4. Đề xuất và xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm cho phần “Chuyển hoá vật
chất và năng lượng” Sinh học 11.
2.3.5. Đề xuất và xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề thông
qua hệ thống bài tập thực nghiệm.
2.3.6. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng bài tập
thực nghiệm để hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
2.4.
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết; Phương pháp
xin ý kiến chuyên gia; Phương pháp nghiên cứu điều tra thực tiễn; Phương pháp thực
nghiệm sư phạm; Phương pháp xử lý thông tin.
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Phân tích nội dung kiến thức chương chuyển hóa vật chất và năng lượng –
sinh học 11
Chuyển hoát vật chất và năng lượng là quá trình biến đổi vật chất, năng lượng từ
dạng này sang dạng khác. Quá trình này phải đi qua nhiều giai đoạn khác nhau. Nhìn
chung, chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng Sinh học 11 nghiên cứu sinh vật
ở cấp độ cơ thể đa bào được chia làm 2 phần lớn là chuyển hóa vật chất và năng lượng
ở thực vật; Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật bao gồm các kiến thức cấu
tạo giải phẫu các cơ quan, hệ cơ quan, cơ chế, quá trình hoạt động phức tạp của chúng.
Trong đó có nhiều kiến thức thực tiễn liên quan mật thiết đến đời sống và sản xuất
nông nghiệp mà HS có thể vận dụng.
3.2. Thang đánh giá năng lực giải quyết vấn đề
Để đánh giá NL GQVĐ thông qua BTTN, chúng tơi đề xuất thang đo dựa trên
tính chất và mức độ thể hiện các năng lực thành tố (Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình
thành và triển khai ý tưởng; Đề xuất và lựa chọn giải pháp) được mô tả cụ thể trong
rubric hướng dẫn đánh giá sau:
10
Bảng 3.1. Rubric đánh giá các mức độ đạt được của NL GQVĐ.
Năng lực
thành tố
Tiêu chí
Mơ tả tiêu chí chất lượng
Mức độ 1
Mức độ 2
Mức độ 3
Phát hiện
Phát hiện
-Không phát -Phát hiện được - Phát hiện và
và làm rõ
tình huống
hiện được tình tình huống có vấn phát biểu được
vấn đề
có vấn đề
huống có vấn đề nhưng phát tình huống có
(A)
(A.1)
đề
-Chưa
biểu cịn thiếu sót. vấn đề.
biết - Phát hiện và -Phân tích được
Phân tích
phân tích tình phát biểu được tình,
tình huống
huống.
diễn
dạt
tình huống có vấn bằng ngơn ngữ
đề nhưng chưa khoa học.
(A.2)
đầy đủ.
-Không
nêu -Nêu
được
ý -Nêu được nhiều
được ý tưởng tưởng trong học ý tưởng trong học
Hình thành
các ý tưởng
Hình
(B.1)
trong học tập tập và cuộc sống.
và cuộc sống.
-Khơng
-Hình thành và - Hình thành và
tìm kết nối được các ý kết nối các ý
được mối liên tưởng
nhưng tưởng một cách
thành và
hệ giữa các ý chưa logic.
triển khai
tưởng
ý tưởng
nhau.
(B)
Vận dụng
vào tình
huống mới
(B.2)
tập và cuộc sống.
logic.
với
-Khơng
tìm -Nghiên cứu tìm - Nghiên cứu tìm
được
giải được giải pháp được giải pháp
pháp trước sự trước sự thay đổi phù hợp trước sự
thay đổi của của
bối cảnh.
bối
cảnh thay đổi của bối
nhưng chưa thích cảnh.
hợp.
11
Thiết lập
không gian
vấn đề
(C.1)
thu -Thu thập nhưng - Thu thập và làm
-Không
thập
được chưa làm rõ được rõ các thông tin
thông tin liên các thơng tin liên có liên quan đến
quan đến vấn quan đến vấn đề.
vấn đề.
đề.
- Đề xuất và -Đề xuất và phân -Không đề xuất
Đề xuất và
lựa chọn
Đề xuất giải
giải pháp
pháp
(C)
(C.2)
tích tích được một số được giải pháp
phân
được một số giải pháp GQVĐ GQVĐ.
giải pháp giải nhưng còn thiếu
quyết vấn đề logic.
(GQVĐ).
-Không
lựa -Lựa chọn được - Lựa chọn và
được giải pháp phù hợp giải thích được
Đánh giá
chọn
giải pháp
giải pháp phù nhất nhưng chưa giải
(C.3)
hợp nhất để giải thích được.
pháp
phù
hợp nhất.
GQVĐ.
3.3. Quy trình xây dựng và sử dụng BTTN để rèn luyện NL GQVĐ
3.3.1. Nguyên tắc xây dựng và sử dụng BTTN để rèn luyện NL GQVĐ
Để rèn luyện được NL GQVĐ cho HS thì hệ thống BTTN phải đảm bảo các nguyên
tắc sau:
-
BTTN phù hợp với mục tiêu dạy học và mục tiêu KTĐG.
-
BTTN phải phù hợp với trình độ của HS, xuất phát từ những tri thức đã biết,
chứa đựng vấn đề có tính mâu thuẫn, kích thích sự tị mị, nhu cầu giải quyết ở HS.
-
Đối với các BTTN dùng để hình thành hay mở rộng kiến thức, GV cần chú ý
đến tính sáng tạo của HS.
-
BTTN phải có nội dung yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng, tường minh, chuẩn xác về
mặt hình thức, ngơn từ, nguồn tri thức, tài liệu. BTTN phải có đầy đủ các thơng tin,
dữ kiện cần thiết để phân tích và giải quyết bài tập.
12
-
Hệ thống BTTN phải có sự phân hóa mức độ và các bài được sắp xếp theo một
hệ thống có chủ ý nhằm kích thích sự tị mị ở HS.
-
Các bài tập trong cùng một chương, một nội dung kiến thức phải có tình thống
nhất và tính kế thừa với nhau.
3.3.2. Quy trình xây dựng BTTN để rèn luyện NL GQVĐ
Qua nghiên cứu và tham khảo tài liệu một số tác giả, chúng tơi đề xuất quy trình
thiết kế BTTN để rèn luyện NL GQVĐ như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và phân tích nội dung bài học.
Là bước xác định thành phần kiến thức, mối liên hệ, mạch nội dung trong bài và
giữa các bài trong chương, tạo cơ sở cho việc sử dụng câu hỏi và bài tập. Nội dung
của môn học, bài học đều phải rõ ràng, logic với nhau. Dựa vào nội dung đã phân
tích, GV xây dựng mục tiêu HS cần đạt được sau khi học bài về kiến thức, kỹ năng,
thái độ.
Bước 2: Xác định nội dung có thể xây dựng BTTN
Xác định và phân tích nội dung kiến thức cần truyền tải vào BTTN. Từ đó, GV dễ
dàng tìm được mối liên hệ giữa kiến thức đã biết và kiến thức cần tìm trong bài tốn.
Bước 3: Xác định mục tiêu của bài tập
Xác định mục tiêu sử dụng BTTN để rèn luyện hay đánh giá những năng lực
thành phần nào của NL GQVĐ ở những mức độ nào. Đây là bước định hướng cho
thiết kế BTTN.
Bước 4: Thiết kế bài tập thực nghiệm
Bước 4A: Tìm kiếm tư liệu về BT
Sau khi xác định được mục tiêu và các nội dung sẽ đưa vào BTTN. GV cần tìm
kiếm các thơng tin về thí nghiệm.
Bước 4B: Xây dựng giả thuyết và yêu cầu của BT
13
Giả thuyết và các thông tin về kiến thức mà HS đã biết. Giả thuyết bài toán cần
rõ ràng và tường minh. Ngoài ra, GV cũng cần xây dựng các câu hỏi dẫn dắt, hệ thống
câu hỏi gợi mở để định hướng HS nghiên cứu giải quyết bài toán theo yêu cầu.
Bước 4C: Xây dựng cấu trúc sư phạm của BT
GV cần phải xác định mối liện hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới. Cấu trúc
BTTN phải thể hiện được sự mâu thuẫn của cái đã biết và cái chưa biết, từ đó kích
thích HS nghiên cứu tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn.
Bước 4D: Xây dựng đáp án của BTTN
Ở bước này, GV tiến hành xây dựng đáp án và kiểm tra lại BTTN nhằm đảm bào
bài toán thỏa mãn được các yêu cầu đề ra về tính khoa học, logic, các yêu cầu sư
phạm. Cuối cùng, để thuận tiện cho việc tìm kiếm và sử dụng,
Bước 5: Đề xuất biện pháp sử dụng và phương án đánh giá BTTN
Sau khi đã thiết kế được BTTN hoàn chỉnh, GV quyết định sẽ sử dụng BTTN sẽ
được sử dụng cho khâu nào trong BTTN và xây dựng phương án đánh giá cho BTTN.
Việc cung cấp phương án đánh giá BTTN là cơ sở để GV đánh giá kết quả của
HS, từ đó GV điều chỉnh mức độ của BTTN sao cho phù hợp với trình độ của HS,
điều kiện nhà trường,…Chúng tôi đề xuất phương án đánh giá theo các mức độ sau:
- Mức độ 3: HS trả lời chính xác các yêu cầu của BTTN, lập luận chặt chẽ, logic
có tính sáng tạo. Điểm đạt được ở mức độ này là từ 90-100% số điểm của câu hỏi.
- Mức độ 2: HS trả lời đúng được một số yêu cầu của BTTN. Điểm đạt được ở
mức độ này là từ 50-80% số điểm của câu hỏi.
- Mức độ 1: HS không trả lời được hoặc trả lời sai các yêu cầu của bài tập. Điểm
đạt được ở mức độ này là dưới 50% số điểm của câu hỏi.
Tùy vào mức độ phù hợp ở câu trả lời của HS mà GV cho số điểm tương ứng với
các mức độ.
14
3.3.3. Quy trình sử dụng BTTN để rèn luyện NL GQVĐ
a)
BTTN sử dụng trong dạy học môn Sinh học để phát triển NL GQVĐ
Qua nghiên cứu, chúng tôi đề xuất quy trình sử dụng BTTN nhằm rèn luyện NL
GQVĐ dùng trong hình thanh, củng cố, hồn thiện và mở rộng kiến thức như sau:
Bước 1: Đặt vấn đề
Ở bước này, GV nêu vấn đề nhằm giúp HS xác định được kiến thức, kỹ năng HS
có thể đạt được sau khi GQVĐ này.
Bước 2: Giao BTTN cho HS
- GV cần xác định sẽ sử dụng BTTN cho khâu nào trong quá trình dạy học: hình
thành kiến thức mới; củng cố và hoàn thiện kiến thức; mở rộng và nâng cao kiến thức.
- Quyết định BTTN sẽ do từng cá nhân giải quyết hay được làm theo nhóm.
- GV có thể định hướng cho HS bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt.
- GV quy định thời gian HS hoàn thành bài tập.
Bước 3: HS giải BTTN
Bước 3A: Phát hiện vấn đề
GV yêu cầu HS tóm tắt lại bài tốn. Để làm được điều này, HS cần phải đọc kĩ
giả thuyết, yêu cầu của đề bài, phát hiện trọng tâm của BTTN.
Bước 3B: Tìm hiểu vấn đề
HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng liên quan của mình để tư duy, nghiên cứu
tìm ra cách giải quyết bài tập. Qua bước này, HS xây dựng được mối liên hệ giữa
kiến thức đã biết và kiến thức cần tìm. Ngồi ra, GV có thể hỗ trợ HS để HS khai thác
đúng hướng và đưa ra các giải pháp thực hiện.
Bước 3C: Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp
Sau khi đã có các thơng tin, kỹ năng cần thiết, HS xây dựng kế hoạch giải quyết
bài tốn. HS tiến hành lập luận, tính tốn để tìm ra lời giải đúng.
15
Bước 3D: Đánh giá giải pháp
HS kiểm tra lại đáp án của mình, đánh giá tính hiệu quả, rõ ràng, có giải pháp nào
thực hiện tốt hơn hay khơng.
Bước 4: Thảo luận và thống nhất kết quả
Tổ chức thảo luận theo nhóm hoặc cả lớp về cách giải và kết quả, thống nhất về
đáp án, lựa chọn cách làm hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, các thắc mắc của từng HS,
nhóm sẽ dược giải quyết trước tập thể.
Bước 5: Chính xác hóa kiến thức
GV kết luận về bài tốn, giải quyết các vấn đề mà HS còn băn khoăn. Lưu ý, GV
nên ưu tiên để HS cùng nhau trả lời các câu hỏi, GV chỉ giải đáp các thắc mắc mà
tồn lớp chưa giải quyết được.
b)
BTTN dùng trong KTĐG
Chúng tơi đưa ra quy trình sử dụng BTTN trong KTĐG gồm 7 bước như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu KTĐG
Hoạt động KTĐG phải có mục tiêu rõ ràng để có thể đánh giá và nhận xét được
trình độ của từng HS một cách khách quan và hiệu quả nhất.
Bước 2: Xác định nội dung KTĐG
KTĐG cần đánh giá được mức độ của HS nên cần có sự phân hóa trong các câu
hỏi. Vì thế, GV cần phân tích được đâu sẽ là những nội dung cơ bản và đâu là những
nội dung nâng cao nhằm phân biệt HS ở các mức độ khác nhau.
Bước 3: Lựa chọn BTTN phù hợp với KTĐG
Dựa vào sự phân tích nội dung ở bước trên, GV lựa chọn BTTN phù hợp với hoạt
động KTĐG. BTTN phải thỏa mãn về độ khó, phù hợp với việc phân loại HS.
Bước 4: Đề xuất đáp án
Dựa vào BTTN đã lựa chọn ở bước trên, GV đề xuất bộ đáp án phù hợp.
16
Bước 5: Xây dựng các tiêu chí đánh giá BTTN
GV xây dựng tiêu chí nhằm đánh giá các mức độ của HS sau khi hoàn thành
BTTN. Khi xây dựng tiêu chí, GV cần quan tâm đến các tiêu chí dùng để đánh giá và
các mức độ đạt được của HS sao cho phù hợp với mục tiêu đánh giá.
Bước 6: Giao BT cho HS
GV tiến hành giao BT cho HS trong giờ kiểm tra. ở bước này, GV cần đảm bảo
tính cơng bằng, cơng khai, minh bạch. GV thu kết quả làm bài của HS sau khi HS
hoàn thành bài làm.
Bước 7: Đánh giá kết quả
Thông qua kết quả của HS, GV nhận xét, đánh giá, phân loại HS. Từ đó, GV có
thể nhìn nhận về trình độ chung của tập thể HS và mức độ đạt được của từng cá nhân
HS, gián tiếp đánh giá được kết quả giảng dạy của bản thân để hoàn thiện hơn hoạt
động dạy. Kết quả đánh giá cần phải được thông báo đến HS để HS nắm được trình
độ của mình.
3.4. Kết quả xây dựng BTTN phát triển NL GQVĐ trong dạy học chương
“Chuyển hóa vật chất và năng lượng” Sinh học 11
Dựa vào quy trình thiết kế BTTN và tham khảo các tài liệu có liên quan, chúng
tơi đã thiết kế được 20 BTTN theo định hướng phát triển NL GQVĐ để sử dụng trong
dạy học chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” Sinh học 11.
17
Bảng 3.2. Bảng thống kê số lượng BTTN theo hướng phát triển NL GQVĐ
trong dạy học chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” Sinh học 11
Ghi chú:
a. Bài tập thực nghiệm dự đốn kết quả thí nghiệm
b. Bài tập thực nghiệm xử lý kết quả, giải thích, rút ra kết luận
c. Bài tập thực nghiệm thiết kế thí nghiệm
Nội dung
Số BTTN
Mã số
Nội dung cốt lõi
2.c.1
-Chứng minh sự vận chuyển các chất
qua mạch gỗ.
2.b.2
Bài 2: Vận chuyển
các chất trong cây
3
-Xác định các động lực của dòng mạch
gỗ.
2.a.3
-Chứng minh sự vận chuyển qua dòng
mạch rây.
2.b.4
-Xác định dòng vận chuyển của mạch gỗ
và mạch rây.
3.c.1
-Chứng minh lá cây có diễn ra sự thốt
hơi nước.
i 3: thốt hơi nước
3
3.b.2
-Giải thích vì sao tưới nước buổi trưa lá
cây lại bị héo.
3.a.3.
- Chứng minh vận tốc thoát hơi nước ở
2 mặt lá là khác nhau.
4.a.1.
Bài 4: Vai trị của
các
ngun
tố
hụt ngun tố dinh dưỡng khống.
1
-Phương pháp chẩn đoán thiếu hụt
khoáng
Bài 5: Dinh dưỡng
Nito ở thực vật
-Phương pháp xác định triệu chứng thiếu
nguyên tố khoáng ở đất.
1
5.b.1
-Xác định hàm lượng Nito phù hợp với
cây trồng.
18
8.a.1
- Chứng minh ở rong đi chó có sự
quang hợp thải ra khí O2.
Bài 8: Quang hợp
ở thực vật
3
8.a.2
- Chứng minh quang hợp ở thực vật tạo
ra tinh bột.
8.a.3
-Xác định sự ảnh hưởng của ánh sáng
đến quang hợp và năng suất cây trồng.
Bài 9: Quang hợp
ở thực vật nhóm
1
9.b.1
C3, C4 và CAM
12.c.1
-Phân biệt thực vật C3 và C4 thông qua
quang hợp.
-Chứng minh hơ hấp ở thực vật ó thải ra
CO2 và nhiệt độ.
12.a.2
Bài 12: Hơ hấp ở
thực vật
-Sự thốt CO2 trong hơ hấp ở hạt nảy
mầm.
3
-Có nên hay khơng đặt cây trong phịng
ngủ.
12.b.3
-Sự thốt năng lượng trong hơ hấp ở
thực vật.
Bài
14:
Thực
hành: Phát hiện hô
1
14.b.1
1
17.b.1
hấp ở thực vật.
Bài 17: Hô hấp ở
động vật
Bài 18: Tuần hồn
máu
2
-Thí nghiệm chiết xuất diệp lục và
carotenoid.
-Tỉ lệ thành phần các khí trong khơng
khí thở ra và hít vào ở người.
18.a.1
- Chứng minh tính tự động của tim.
18.b.2
-Mô tả mối liên hệ của vận tốc máu và
tổng diện tích mạch máu.
3.4. Thực nghiệm sư phạm
3.4.1. Mục đích thực nghiệm
- Đánh giả hiệu quả của việc xây dựng BTTN theo định hướng phát triển NL GQVĐ
trong dạy học chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” Sinh 11.
19
- Xác định tính khả thi, tính hiệu quả của đề tài và kiểm nghiệm giải thuyết khoa học
đã đề ra.
3.4.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
a. Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm vào học kỳ I của năm học 2018-2019, ở 3 bài
thuộc chương trình Sinh học 11-cơ bản, cụ thể là:
+ Bài 8: Quang hợp ơ thực vật.
+ Bài 11: Quang hợp và năng suất cây trồng.
+ Bài 12: Hô hấp ở thực vật.
Việc đánh giá sự phát triển NL GQVĐ dựa trên kết qủa làm bài trong các phiếu
học tập phát cùng khi GV giao BTTN cho HS.
b. Phương pháp thực nghiệm
Chọn lớp thực nghiệm
- Đối tượng: HS lớp 11/2 trường THPT trường Nguyễn Thượng Hiền – Đà
Nẵng.
- Tổng số: 41 HS
Bố trí thực nghiệm
- Trước khi thực nghệm, chúng tơi tiến hành tìm hiểu tình hình lớp thực nghiệm
thơng qua trao đổi GV giảng dạy và dự giờ tiết học của lớp về các vấn đề sau:
+ Nhận xét của GV về lớp thực nghiệm.
+ Tình hình học tập, kỹ năng tự học, mức độ nắm vững các kiến thức cơ bản của HS.
+ Những yêu cầu của việc sử dụng BTTN theo định hướng phát triển NL GQVĐ cho
HS trong quá trình dạy học.
+Thống nhất nội dung kiến thức trong mỗi bài học, mỗi BTTN. Trong quá trình thực
nghiệm, chúng tơi mong muốn chứng minh GV đóng vai trị quan trọng trong việc
hình thành và phát triển NL ho HS đạt hiệu quả tốt nhất thì người GV phải xây dựng
được một kế hoạch dạy học rõ ràng, đảm bảo rèn luyện được NL cho HS.
20
+ Thống nhất cách đánh giá sự phát triển NL GQVĐ ở lớp thực nghiệm.
+ Cung cấp giáo án thực nghiệm, BTTN cũng phiếu học tập cho GV.
3.4.3. Kết quả thực nghiệm
a. Kết quả rèn luyện NL GQVĐ bằng BTTN trong dạy học chương “Chuyển hóa
vật chất và năng lượng” Sinh học 11
Dựa vào rubric đánh giá NL trên, chúng tơi tiến hành phân tích kết quả và vẽ biểu
đồ mô tả sự phân phố các mức phát triển của từng NL thành tố qua 2 bài kiểm tra NL
như sau:
Đề xuất và lựa chọn
giải pháp
7.3
26.8
21.9
46.4
34.1
65.9
31.7
7.3
21.9
Hình thành và triển khai ý
tưởng
19.5
19.5
53.7
46.3
14.6
70.8
34.2
12.2
Phát hiện và làm rõ
vấn đề
46.4
46.3
41.5
31.7
17.1
63.4
53.6
14.6
29.3
21.9
Hình 3.4. Biểu đồ mơ tả sự phân phối các mức độ phát triển NL GQVĐ quả HS
lớp 11/2 qua các bài kiểm tra NL
Nhìn vào bảng phân phối mức độ phát triển của các NL thành tố trong NL GQVĐ
của HS lớp 11/2 qua 3 bài kiểm tra, ta có thể thấy sự thay đổi rõ rệt theo hướng tích
cực, cụ thể, tỷ lệ HS đạt NL ở mức độ 1 giảm dần trong khi các HS đạt mức NL 2 và
21
3 tăng lên rất nhiều. NL thành phần đạt mức tăng nhiều nhất là phát hiện và làm rõ
vấn đề.
Qua q trình thực nghiệm, chúng tơi rút ra một số kinh nghiệm về việc rèn luyện
NL GQVĐ thông qua BTTN như sau: 1) GV cần hướng dẫn HS chọn lọc những thơng
tin có trong bài tập, tránh các thơng tin khơng cần thiết hay gây nhiều, sau đó phát
biểu lại vấn đề theo ngôn ngữ cá nhân. Làm được như vây, HS sẽ dễ dàng xác định
được không gian vấn đề bao gồm những kiến thức kỹ năng nào từ đó GQVĐ hiệu
quả hơn. 2) Trong các bài học có áp dụng BTTN để phát triển NL GQVĐ của HS,
GV cần định hướng HS tìm kiếm thơng tin liên quan đến GQVĐ một cách đầy đủ,
bên cạnh đó GV cũng cần nhận xét hay nhấn mạnh mức độ cần thiết của cac thơng
tin, dữ kiện tìm được để HS tập trung đúng hướng GQVĐ. 3) Khi phát triển NL
GQVĐ, GV cần chú ý đến sự tương ứng trong quá trình phát triển NL, NL phát hiện
và làm rõ vấn đề là cơ sở cho các NL khác ở mức độ cao hơn, vì vậy, GV cần hướng
dẫn HS các định đúng vấn đề và các dữ kiện có liên quan đến đề bài thì khả năng
GQVĐ và đánh giá giải pháp sẽ hiệu quả hơn, khi các NL thành phần trước đó đã
được hình thành thì khả năng NL đề xuất và thực hiện giải pháp sẽ cao hơn. 4) Muốn
năng cao năng lực đánh giá giải pháp, trong quá trình dạy học, GV phải sáng tạo vận
dụng BTTN sao cho có nhiều phương pháp giải, kích thích HS tư duy tìm cách giải,
so sánh tính hiệu quả giữa các phương pháp. 5) GV sau khi sử dụng BTTN cần rút ra
phương pháp thí nghiệm tổng quát khi cần chứng minh một giả thuyết nào đó bằng
cách cho thêm các bài tập tương tự.
Để dễ dàng hơn trong việc so sánh và đánh giá về tính hiệu quả của việc áp dụng
BTTN định hướng phát triển NL GQVĐ hay để thấy được sự thay đổi tổng thể của
NL GQVĐ trong kết quả thực nghiệm, chúng tôi mô tả thông qua biểu đồ sau:
22
Phát hiện và làm
rõ vấn đề
Bài kiểm tra số 3
3
2.5
Bài kiểm tra số 2
2
1.5
Bài kiểm tra số 1
1
0.5
0
Lập kế hoạch và
thực hiện giải
pháp
Hình thành và
triển khai ý
tưởng mới
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện sự phát triển NL GQVĐ của HS lớp 11/2 qua 3 bài
kiểm tra NL
Khi phân tích kết quả thực nghiệm, chúng tơi nhận thấy nhiều HS có sự thay đổi
tích cực khi mức NL từ thấp đạt đến cao hơn, nhưng vẫn cịn một số em khơng thay
đổi hoặc thậm chí giảm so với lần kiểm tra trước. Như vậy có thể chứng minh sự phát
triển của NL GQVĐ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Trước hết là phụ
thuộc vào chính bản thân HS, việc HS làm bài không đạt được kết quả tốt do các em
còn chủ quan, hấp tấp bỏ nhiều bước đặt biệt là các bước phát hiện và làm rõ vấn đề,
u cầu, tìm kiếm thơng tin, dữ kiện có liên quan, … dẫn đến bài giải cịn sai sót và
chưa chuẩn xác. Yếu tố thứ 2 là việc tăng dẫn độ khó của các BTTN trong khi HS
vẫn chưa thật sự thành thục các thao tác làm bài cũng khiến HS gặp khó khăn trong
giải quyết bài tập. Một yếu tố khác chính là sự áp lực về mặt thời gian. Việc quy định
thời gian nhằm rèn HS về khả năng tập trung và phân phối thời lượng cho từng thao
tác phù hợp để đảm bảo với thời gian quy định HS có thể làm bài kiểm tra. Tuy nhiên,
việc này đã có những ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý làm bài của HS khiến các em
23
nóng vội hơn, dễ gây nhầm lẫn và bỏ sót các bước. Từ những yếu tố trên có thể rút ra
rằng để hình thành và phát triển NL GQVĐ ở HS đạt hiệu quả cao thì ngồi phương
pháp dạy học phù hợp, GV còn cần chú ý đến các kỹ năng cơ bản khác như kỹ năng
làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng quản lý cảm xúc,… để giúp các
em học tập và làm việc hiệu quả hơn, phát triển NL một cách toàn diện.
b. Kết quả khảo sát thái độ của HS khi sử dụng BTTN để rèn luyện NL GQVĐ
Qua kết quả khảo sát 41 HS lớp 11/2 trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, thành
phố Đà Nẵng đã được rèn luyện N LGQVĐ thông qua BTTN trong môn Sinh học,
chúng tôi nhận thấy 82,9% HS cảm thấy yêu thích các tiết Sinh học.75,6% HS rất
hứng thú hoặc hứng thú khi GV giao những bài tập Sinh học liên quan đến thực
nghiệm, điều này chứng tỏ nhu cầu của các em về thí nghiệm thực hành rất lớn. Về
NL GQVĐ, phần lớn HS đồng ý rằng việc rèn luyện NL này là điều cần thiết (65,9%).
Hơn nữa, tát cả các em đều cho rằng việc áp dụng BTTN trong các tiết học giúp các
em nắm vững tri thức, tăng các hiểu biết về thí nghiệm thực hành và rèn luyện tư duy
sáng tạo. 85,3% HS thấy thấy được sự liên hệ giữa kiến thức Sinh học và thí nghiệm
sau khi làm BTTN. Ngồi ra, 100% HS đồng ý, việc áp dụng BTTN vào dạy HS học
có mang lại sự hiệu quả. Nội dung BTTN đặt những vấn đề theo một cách mới mẻ,
đặt HS vào vị trí của người nghiên cứu thí nghiệm để tìm lời giải đáp cho câu hỏi.
Chính vì vậy, BTTN đã kích thích được sự tị mị, hứng thú của người học, khơi niềm
đam mê học hỏi ở HS. Hiệu quả giáo dục của BTTN là rất lớn.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu đề tài theo sát các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi thu được
các kết quả như sau:
- Phân tích được cấu trúc, mục tiêu và nội dung cần đạt được trong dạy học
chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” Sinh học 11.
- Đề xuất được quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực nghiệm định phát
triển năng lực giải quyết vấn đề.