Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

23956 16122020235023963NGUYNTHHUNHPHNG 15CHDE TMTT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (660.62 KB, 15 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA

NGUYỄN THỊ HUỲNH PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH LÁ CÂY CHÙM
NGÂY BẰNG PHƯƠNG PHÁP SOXHLET VÀ
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG
DỊCH CHIẾT ETANOL TỔNG

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC

Đà Nẵng- Năm 2019


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay việc nghiên cứu, sàng lọc các hợp chất thiên nhiên có tác dụng dược lý
đang là hướng đi được nhiều nhà khoa học trong và ngồi nước quan tâm. Từ đó có định
hướng cho việc chiết xuất để tìm ra các loại thuốc mới trong việc điều trị bệnh. Chính vì
vậy việc nghiên cứu thành phần hóa học từ những cây cỏ thiên nhiên có một ý nghĩa
khoa học và thực tiễn cao. Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều loại địa
hình nên có nguồn động thực vật đa dạng. Vậy nên nguồn thực vật có hoạt tính sinh học
cũng rất dồi dào và phong phú. Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã sử dụng nguồn tài nguyên
thực vật này làm thuốc chữa bệnh như bôi ngoài da, sử dụng trực tiếp hay sắc uống…
Ngày nay, các nhà khoa học đã dựa vào khoa học kĩ thuật để tìm hiểu và phân tích các
hoạt chất có tác dụng sinh học trong thực vật, dược liệu và tìm các câu trả lời về thành
phần hoạt chất và cơ chế tác dụng của chúng[8].
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng về công dụng làm thuốc của các cây cỏ hiện
có ở nước ta, tơi chọn một lồi cây có nhiều giá trị kinh tế, đặc biệt làm thuốc, là cây


chùm ngây trong họ chùm ngây để nghiên cứu. Chùm ngây là loại cây nằm trong danh
sách những loại cây hữu dụng bậc nhất thế giới. Các bộ phận của cây cùm ngây vừa có
thể làm thực phẩm, vừa có thể làm dược phẩm, thậm chí là làm thực phẩm chức năng.
Tất cả các bộ phận của cây đều chứa nhiều khoáng chất cũng như các nguyên tố vi lượng
quý giá. Do vậy, chùm ngây đang được khuyến khích trồng ở nhiều quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là những nước nghèo. Các tổ chức phi chính phủ là Trees for Life
International, Church World Service, Educational Concerns for Hunger Organization và
Volunteer Partnerships for West Africa đã ủng hộ cho cây chùm ngây là "nguồn dinh
dưỡng tự nhiên cho các nước nhiệt đới".
Ở Việt Nam, trước đây, cây chùm ngây được biết đến như một vị thuốc nam dùng
để điều trị một số bệnh thông thường trong dân gian. Thế nhưng gần đây, nhờ phát hiện
của y học, hoa và quả đặc biệt là lá cây chùm ngây còn là món ăn bổ dưỡng cho cơ thể

1


nên nhiều địa phương đã bắt đầu trồng, kinh doanh loại rau này.Với những tính năng đa
dạng và phong phú như thế, nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học, ứng
dụng các phương pháp hiện đại để xác định cấu trúc và nghiên cứu hoạt tính sinh học
của một số hợp chất có trong cây chùm ngây ở Việt Nam là một hướng nghiên cứu có
nhiều triển vọng và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Do đó tơi đã lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu chiết tách lá cây chùm ngây bằng phương pháp Soxhlet và xác định
thành phần hóa học trong dịch chiết etanol tổng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm các điều kiện thích hợp chiết tách các chất trong lá chùm ngây.
- Định danh, xác định thành phần hóa học dịch chiết từ lá.
- Thăm dị hoạt tính kháng viêm và chống oxi hóa của dịch chiết từ lá chùm ngây.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Lá chùm ngây được thu hái tại Đà Nẵng

- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết.
- Xác định thành phần một số hợp chất trong dịch chiết từ lá chùm ngây.
- Quá trình thí nghiệm được tiến hành tại phịng thí nghiệm hóa hữu cơ trường
Đại học Sư Phạm- Đại học Đà Nẵng.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Thu thập, tổng hợp tài liệu, tư liệu về nguồn nguyên liệu, phương pháp nghiên
cứu các hợp chất tự nhiên, thành phần hóa học và ứng dụng của cây chùm ngây.
- Tổng hợp tài liệu về phương pháp lấy mẫu, chiết tách và xác định thành phần
hóa học các chất từ thực vật.
- Tổng hợp tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, thành phần hóa học và ứng
dụng của cây chùm ngây.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp lấy và xử lí mẫu.
2


- Phương pháp trọng lượng xác định độ ẩm.
- Phương pháp tro hóa mẫu xác định hàm lượng hữu cơ.
- Phương pháp AAS xác định hàm lượng các kim loại nặng.
- Phương pháp chiết: Chiết Soxhlet bằng dung môi etanol.
- Phương pháp xác định thành phần hóa học, định danh, xác định cấu trúc các cấu
tử chính bằng phương pháp sắc kí khí khối phổ (GC- MS)
- Phương pháp sinh học thăm dị hoạt tính kháng viêm và chống oxi hóa.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp các thơng tin có ý nghĩa khoa
học về thành phần hố học và hoạt tính sinh học các chất chiết tách từ lá cây chùm ngây,
qua đó góp phần nâng cao giá trị ứng dụng của cây chùm ngây trong ngành dược liệu.
Bố cục khóa luận gồm:
Mở đầu

Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương 2. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CÂY CHÙM NGÂY
1.1.1. Sơ lược về cây chùm ngây
1.1.2. Đặc điểm hình thái
1.2. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY CHÙM NGÂY
1.2.1. Giá trị dinh dưỡng
1.2.2. Giá trị về y học
1.3. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CÓ TRONG CÂY CHÙM NGÂY
1.3.1. Vitamin E
1.3.2. Stigmasterol
1.3.3. Axit oleic
3


1.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CHÙM NGÂY
1.4.1. Trên thế giới
1.4.2. Tại Việt Nam
CHƯƠNG 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT, THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU
2.1.1. Nguyên liệu
Mẫu lá chùm ngây tươi được thu hái tại phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu,
thành phố Đà Nẵng. Sau đó, lá được xử lý sơ bộ, rửa sạch, phơi dưới bóng râm từ 1-2
ngày rồi đem sấy đến khô ở nhiệt độ 50℃, xay nhỏ và bảo quản trong bình thủy tinh kín.
Bột lá chùm ngây hơi mịn, màu xanh lục, có mùi thơm đặc trưng của chùm ngây.

Hình 2.1. Lá chùm ngây tươi


Hình 2.2. Lá chùm ngây khơ

Hình 2.3. Bột lá chùm ngây
2.1.2. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu

4


Dung môi chiết Etanol: C2H6O; M= 46.07g/mol; chất lỏng không màu tan hoàn
toàn trong nước, khối lượng riêng D= 0.789g/ml; nhiệt độ sơi 78℃.
Một số hóa chất khác cũng được sử dụng
Các thiết bị xác định cấu trúc chất: Phổ khối GC-MS
Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) tại Khoa Sinh trường Đại Học Sư PhạmĐại Học Đà Nẵng.
Ngoài ra còn dùng một số trang thiết bị khác như máy cơ quay chân khơng, cân
phân tích, bộ chiết soxhlet, cốc thủy tinh, giấy lọc, phễu chiết, các loại pipet, tủ sấy, lò
nung,...
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Xác định một số chỉ tiêu hóa lý
2.2.1.1. Độ ẩm
2.2.1.2. Hàm lượng tro
2.2.1.3. Hàm lượng kim loại nặng
2.2.1.4. Hàm lượng Protein
2.2. PHƯƠNG PHÁP CHIẾT MẪU THỰC VẬT
2.2.1. Kỹ thuật chiết Soxhlet
2.2.3. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS
2.2.4. Phương pháp sắc kí khí ghép khối phổ
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH KHÁNG VIÊM VÀ CHỐNG
OXI HÓA
2.3.1. Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng viêm

2.3.2. Phương pháp đánh giá hoạt tính quét gốc tự do DPPH
2.4. SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

5


Lá chùm ngây tươi
1. Rửa sạch phơi dưới bóng râm 1-2 ngày
2. Sấy khô ở 50℃, xay nhỏ, bảo quản kín

-Đo độ ẩm
-Hàm lượng tro

Bột lá chùm ngây

-Hàm lượng kim
loại nặng

1. Chiết Soxhlet với Etanol
2. Khảo sát thời gian chiết, tỉ lệ R/L
Dịch chiết (Etanol)
Cô đuổi dung môi

- Đo GC-MS

Cao (Etanol)

- Đo hoạt tính
sinh học


Cao (Chloroform)

Cao (Nước)

Hình 2.8. Sơ đồ nghiên cứu thực nghiệm
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA LÝ
3.1.1. Độ ẩm
Độ ẩm của bột lá chùm ngây được xác định bằng phương pháp trọng lượng với
khối lượng bột lá chùm ngây ban đầu là 3g và kết quả được trình bày ở bảng 3.1

6


Bảng 3.1. Kết quả khảo sát độ ẩm của bột lá chùm ngây
STT

m+ m1 (gam)

m2 (gam)

W (%)

1

45.985

45.786

6.630


2

37.755

37.554

6.700

3

40.067

39,862

6.823

4

39,707

39.507

6.677

5

42,988

42.786


6.673

W trung bình (%)

6.701

Nhận xét: Kết quả độ ẩm trung bình của bột lá chùm ngây là 6.071% phù hợp so
với tiêu chuẩn về bảo quản dược liệu đã được quy định trong Dược điển Việt Nam 5
(≤ 13%). Với độ ẩm này ta có thể bảo quản bột lá chùm ngây trong thời gian dài mà
khơng bị hư hỏng, khơng có những thay đổi về mặt cảm quan, nguyên liệu có độ ổn định
tốt, phù hợp cho quá trình nghiên cứu.
3.1.2. Hàm lượng tro
Bột lá chùm ngây đem đi tro hóa là lượng bột đã được xác định độ ẩm, khối lượng
bột lá chùm ngây ban đầu là 3g. Bằng phương pháp xác định hàm lượng tro toàn phần
theo Dược điển Việt Nam 5, hàm lượng tro nguyên liệu được xác định và trình bày trong
bảng 3.2
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát hàm lượng tro trong bột lá chùm ngây
STT

m1 (gam)

m3 (gam)

H (%)

1

42.985


43,175

6.333

2

34.755

34.943

6.267

3

37.067

37.255

6.167

4

36,707

36.902

6.500

5


39,988

40.325

6.633

H trung bình (%)

6.380

7


Nhận xét: Hàm lượng tro trung bình của mẫu bột lá chùm ngây là 6.380 %. So
với tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam 5 quy định thì hàm lượng tro tồn phần khơng vượt
q 20% là đạt tiêu chuẩn. Như vậy, hàm lượng tro trong bột lá chùm ngây là chấp nhận
được. Qua đó có thể dự đốn trong bột lá chùm ngây chứa một lượng các chất vô cơ, có
thể có mặt muối của một số kim loại như Na, K, Ca, Fe, Cu,....
3.1.3. Hàm lượng protein
Kết quả đo hàm lượng protein của bột lá chùm ngây là 23.4g/100g. Từ đó cho
thấy chùm ngây rất giàu protein mang lại giá trị dinh dưỡng cao. Lượng protein cao hơn
rất nhiều lần so với các thực phẩm khác. Đây là một loại cây rất tốt cho sức khỏe và cần
được nghiên cứu ứng dụng nhiều hơn vào cuộc sống. Hàm lượng protein này chứng tỏ
rằng bột lá chùm ngây có thể được sử dụng như một loại thực phẩm sử dụng hằng ngày.
3.1.4. Hàm lượng kim loại
Bảng 3.3. Hàm lượng một số kim loại nặng trong bột chùm ngây
Kim loại

Hàm lượng trong bột lá chùm ngây Hàm lượng cho phép
(mg/kg)


(mg/kg)

Kẽm (Zn)

KPH

≤ 40.00

Chì (Pb)

KPH

≤ 0.30

Đồng (Cu)

2.13

≤ 30.00

Nhận xét: Kết quả cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong mẫu bột lá chùm ngây
chỉ có đồng và nằm trong giới hạn cho phép sử dụng, an tồn, khơng ảnh hưởng đến sức
khỏe con người. Hàm lượng kim loại nặng thấp cho phép bột lá chùm ngây được sử dụng
làm dược liệu, thực phẩm. Căn cứ theo quyết định số 46/2007/QĐ-BYT của bộ y tế ngày
19/12/2007 về “ Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm”.
3.2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Q TRÌNH
CHIẾT TÁCH BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT SOXHLET
Trong khn khổ đề tài này, tôi thực hiện việc chiết mẫu theo kỹ thuật chiết
Soxhlet để điều chế cao tổng etanol và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng dến phương pháp

8


chiết. Khảo sát tỉ lệ rắn/ lỏng (R/L), thời gian chiết xác định điều kiện tối ưu để chiết bột
lá chùm ngây với dung môi etanol bằng phương pháp Soxhlet. Bộ dụng cụ Soxhlet sử
dụng cho quá trình nghiên cứu là bộ Soxhlet 500ml.
3.2.1. Khảo sát tỉ lệ rắn lỏng
Để xác định tỉ lệ rắn/lỏng ta chiết Soxhlet với lượng bột lá chùm ngây khoảng
10g, thể tích dung mơi etanol thay đổi từ 100ml đến 300ml, trong vòng 10 giờ . Thu dịch
chiết, cô đuổi dung môi đến khối lượng không đổi rồi đem cân.
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát tỉ lệ rắn/lỏng chiết Soxhlet trong etanol
STT

Thể tích (ml)

Thời gian (giờ)

m (g)

mcao (g)

% mcao (%)

1

100

10

10.002


0.998

9.978

2

150

10

10.003

1.172

11.716

3

200

10

10.001

1.356

13.559

4


250

10

10.003

1.353

13.525

5

300

10

10.001

1.354

13.538

Nhận xét: Qua kết quả ở bảng 3.4 ta thấy thể tích dung mơi càng tăng thì khối
lượng cao chiết được càng nhiều. Tuy nhiên khối lượng cao chiết bắt đầu giảm khi khảo
sát ở 250ml và 300ml. Nguyên nhân là do khi tăng lượng dung mơi chiết, các cấu tử có
trong bột lá chùm ngây được hịa tan trong dung mơi nhiều hơn. Lượng dung mơi chiết
càng nhiều thì hàm lượng các cấu tử có trong cao chiết càng tăng dẫn dến khối lượng
cao chiết tăng đều lên. Khi các cấu tử đã hòa tan gần hết trong dung mơi thì khối lượng
cao chiết sẽ tăng chậm và có xu hướng khơng đổi. Như vậy, tỉ lệ rắn lỏng tối ưu khi bột

chùm ngây chiết với etanol bằng phương pháp Soxhlet là 1/20.
3.2.2. Khảo sát thời gian chiết Soxhlet
Sử dụng phương pháp chiết Soxhlet với tỉ lệ rắn lỏng là 1/20 gồm khoảng 10g bột
lá chùm ngây và 200ml dung môi etanol. Tiến hành chiết 5 mẫu với thời gian khác nhau,
9


lần lượt là 2, 4, 6, 8, 10. Thu dịch chiết và cô đuổi dung môi đến khối lượng không đổi
rồi cân.
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát thời gian chiết Soxhlet của bột lá chùm ngây trong etanol
STT

Tỉ lệ R/L

Thời gian

m (g)

mcao (g)

% mcao (%)

(g/ml)

(giờ)

1

1/20


2

10.002

0.989

9.978

2

1/20

4

10.003

1.133

11.716

3

1/20

6

10.001

1.376


13.559

4

1/20

8

10.003

1.493

13.525

5

1/20

10

10.001

1.489

13.538

Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.5 ta thấy, thời gian chiết càng tăng thì khối lượng cao
chiết thu được càng nhiều. Khối lượng cao chiết tăng từ 2 giờ đến 10 giờ và bắt đầu giảm
khi khảo sát ở 10 giờ. Nguyên nhân là do khi tăng thời gian chiết, các cấu tử có trong
bột lá chùm ngây được hịa tan trong dung mơi nhiều hơn. Tuy nhiên đến một lúc nào

đó, khi các cấu tử đã hịa tan gần hết trong dung mơi thì khối lượng cao chiết sẽ tăng
chậm và có xu hướng không đổi.Vậy thời gian chiết tối ưu khi chiết Soxhlet bột lá cây
chùm ngây trong dung môi etanol là 8 giờ.
3.2.3. Kết quả điều chế cao chiết
Kết quả điều chế cao tổng etanol, cao chiết trong chloroform và cao chiết trong
nước được trình bày trong bảng 3.6
Bảng 3.6. Khối lượng cao chiết từng phân đoạn
Loại cao

Khối lượng (g)

Etanol

15.314

Chloroform

10.647

Nước

2.732

10


Nhận xét: Lượng cao thu được ở cao chloroform là 69,52% và cao nước là
17,84% so với cao tổng. Vậy tổng lượng cao thu được ở các phân đoạn là 87,36%, đảm
bảo quá trình thu nhận cao. Cao thu được trong chloroform thu được nhiều hơn so với
cao trong nước. Trong đề tài này, tôi chọn cao chiết trong etanol để định danh bằng

phương pháp GC-MS và đo hoạt tính sinh học kháng viêm và chống oxi hóa.
3.3. KẾT QUẢ ĐO HOẠT TÍNH KHÁNG VIÊM VÀ CHỐNG OXI HĨA CỦA
DỊCH CHIẾT ETANOL TỪ BỘT LÁ CHÙM NGÂY
3.3.1. Kết quả đo hoạt tính chống oxi hóa
Chất đối chứng ascorbic acid được dùng để kiểm soát độ ổn định và đánh giá
hoạt tính ức chế tương đương.
Hóa tính của ascorbic acid là hóa tính của nhóm chức lacton, của các nhóm
hydroxyl, của liên kết đơi, song quan trọng nhất là nhóm chức endiol. Chính nhóm này
quyết định tính axit và tính khử của acid ascorbic cũng nhờ đó mà ascorbic acid có khả
năng bắt gốc tự do.
Trong những nghiên cứu về hoạt tính chống oxi hố bằng phương pháp qt gốc
tự do DPPH thì ascorbic acid rất hay được sử dụng để làm chất đối chứng.
Bảng 3.7. Kết quả đo hoạt tính chống oxi hóa DPPH
Tên mẫu

Nồng độ thử

%

(µg/ml)

Inhibition

100

8.29

1.85

500


32.66

2.02

10

19.79

2.74

50

95.30

0.06

Sai số

Cao etanol

Ascorbic acid
Nhận xét: Kết quả từ bản 2.8 cho thấy ở nồng độ thử nghiệm 100g/ml cao etanol
của bột lá chùm ngây có tỉ lệ ức chế chỉ bằng một nữa tỉ lệ ức chế của ascorbic acid có
nồng độ 10g/ml. Khi nồng độ thử nghiệm của cao etanol là 500g/ml gấp 10 lần nồng
độ thử nghiệm của ascorbic acid thì tỉ lệ ức chế thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ ức chế của

11



ascorbic acid. Sai số trong q trình đo hoạt tính khá lớn. Cao etanol từ bột lá cây chùm
ngây có tỉ lệ ức chế thấp hơn 50%.Từ đây có thể kết luận rằng cao etanol của bột lá chùm
ngây không có khả năng chống oxi hóa.
3.3.2. Kết quả đo hoạt tính kháng viêm
Bảng 3.8. Hoạt tính ức chế sản sinh nitric oxide (NO) trên tế bào RAW264.7
% Ức chế

Sai số

% Tế bào sống

Sai số

Control

100.00

0.32

92.85

1.37

LPS

0.00

0.49

100.00


0.89

30 µg/ml

36.60

1.79

75.81

1.28

100 µg/ml

56.86

1.07

59.64

0.80

0.3 µM

27.45

1.85

89.66


0.86

3 µM

86.47

0.59

81.25

1.35

Tên mẫu

Cao Etanol

Cardamonin

Nồng độ

Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.9 cho thấy cao etanol của bột lá chùm ngây ở nồng
độ 30µg/ml và 100µg/ml có hoạt tính ức chế sự sản sinh NO kém và gây độc cho tế bào
RAW 264.7. Tỉ lệ ức chế sản sinh NO của dịch chiết etanol thấp hơn so với tỉ lệ ức chế
NO của cardamonin.Tuy nhiên, dịch chiết etanol gây độc cho tế bào hơn so với
cardamonin. Tỉ lệ ức chế sản sinh NO của dịch chiết etanol tại nồng độ 100g/ml lớn
hơn 50% nhưng đồng thời tỉ lệ tế bào sống sót thấp. Vậy có thể kết luận rằng cao etanol
của bột lá chùm ngây có hoạt tính chống viêm nhưng hoạt tính yếu và gây độc cho tế
bào cụ thể ở đây là tế bào RAW264.7.
3.4. KẾT QUẢ KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC CAO ETANOL CỦA BỘT

LÁ CÂY CHÙM NGÂY BẰNG PHƯƠNG PHÁP GC-MS
Kết quả định danh thành phần hóa học có trong cao etanol của bột lá chùm ngây
được trình bày trong bảng 3.9

12


Bảng 3.9. Thành phần hóa học trong cao etanol bột lá chùm ngây
Peak

Tr

Area (%) Name

1

25.809

0.83

Cyperenone

2

27.427

1.12

7-Isopropenyl1-14--dimethyl1-4,4.5,6,7,8hexahydro -3H-naphthal


3

27.756

0.46

6-hydroxy-4,4,7--trimethyl-5,6,7,7-tetrahydrobenzofuran-2(4H)

4

29.216

1.57

Neophytadiene

5

32.639

5.18

Phytol

6

39.328

1.62


-Tocopherol

7

39.964

4.70

-Tocopherol

8

40.923

0.56

Campesterol

9

41.230

0.55

Stigmasterol

10

41.832


3.29

-Sitosterol

11

42.017

3.25

Isofucosterol

12

42.310

1.94

-Amyrin

13

42.668

0.75

33-Norgorgosta-5,24(28)-dien-3-ol

14


42.828

0.52

Lupeol

Nhận xét: Từ kết quả ở bảng 3.9 cho thấy phương pháp GC-MS đã định danh
được 14 chất trong cao etanol của bột lá chùm ngây. Trong đó, Phytol chiếm hàm lượng
cao nhất (5.18%), tiếp đó là -Tocopherol chiếm 4.70%, -Sitosterol chiếm 3.29%,
Isofucosterol chiếm 3.25%, -Amyrin chiếm 1.94%. Thành phần hóa học trong cao
etanol của bột lá chum ngây chủ yếu là những sterol và các hydrocacbon.

13


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã đạt được kết quả sau:
- Độ ẩm của bột lá chùm ngây là 6.071%
- Hàm lượng tro bột lá chùm ngây là 6.38%
- Hàm lượng kim loại nặng: chỉ phát hiện đồng có hàm lượng 2,13mg/kg, khơng
phát hiện được chì và kẽm. Hàm lượng kim loại nặng nằm trong khoảng giói hạn cho
phép theo quy định của Bộ y tế
- Hàm lượng Protein là 23,4g/100g
- Thời gian chiết tối ưu của bột lá chùm ngây trong etanol là 8 giờ
- Tỉ lệ rắn lỏng giữa bột lá chùm ngây và dung môi etanol là 1/20 sẽ thu được
khối lượng cao chiết lớn nhất
- Điều chế cao tổng etanol từ 100g bột lá chùm ngây thu được 15.314g cao, từ
đó có thể thấy hiệu suất chiết là 15.314%
- Điều chế cao trong chloroform thu được 10,647g cao và cao trong nước thu được

2.732g cao so với lượng cao tổng etanol là 87,36%
- Xác định được thành phần hóa học trong cao tổng etanol và định danh được tổng
cộng 14 cấu tử bằng phương pháp GC-MS.
- Phương pháp đánh giá hoạt tính quét gốc tự do DPPH đã xác định được cao
etanol của bột lá chùm ngây không có hoạt tính chống oxi hóa.
- Cao etanol từ bột lá chùm ngây có hoạt tính kháng viêm yếu và gây độc cho
tế bào thử nghiệm là tế bào RAW264.7
2. KIẾN NGHỊ
Trong q trình nghiên cứu tơi có kiến nghị sau:
-Tiếp tục phân lập, xác định cấu trúc những hợp chất tinh khiết có hoạt tính sinh
học cao, phục vụ cho y học.Tiếp tục nghiên cứu định danh các thành phần hóa học các
bộ phận của cây chùm ngây để có nguồn tài liệu tổng quan về cây chùm ngây.
- Thăm dị những hoạt tính sinh học khác của cao từ bột lá cây chùm ngây
14



×