1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KSOR LUL
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60.22.34
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2012
2
Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. HÀ NGỌC HÒA
Phản biện 1: PGS. TS. Đoàn Lê Giang
Phản biện 2: TS. Nguyễn Thanh Sơn
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Khoa học Xã hội và
Nhân Văn họp tại Đại Học Đà Nẵng vào ngày 25 tháng
08năm 2012.
Có thể tìm Luận văn tại:
Trung tâm Thơng tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 phát triển một cách
mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to lớn. Những thành tựu đó đã
làm thay đổi hẳn diện mạo văn học của dân tộc, mang tới cho nó một
bộ mặt mới của nền văn học hiện đại. Cùng với sự phát triển nhanh
chóng của thơ ca (đặc biệt là phong trào Thơ mới) là sự phát triển
cũng mạnh mẽ không kém cả về số lượng lẫn chất lượng của các thể
loại văn xi nghệ thuật như: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, tùy
bút, nghiên cứu phê bình
2. Trong sự phát triển bùng nổ của văn học, truyện ngắn đã
trưởng thành vượt bậc và sớm trở thành một thể loại mạnh với những
đại diện tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngun Hồng,
Tơ Hồi, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Kim Lân,… Mỗi tác giả là một
quan điểm, một phong cách riêng, nhưng đều có đóng góp thành
cơng vào thể loại này trong nền văn học chung. Vì thế chúng tơi
quyết định chọn đề tài luận văn “Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh”
làm đề tài nghiên cứu với mong muốn phát hiện và khẳng định thêm
những đóng góp của ơng cho truyện ngắn Việt Nam 1930-1945.
2. Lịch sử vấn đề
Dễ dàng nhận thấy, so với Thạch Lam và Hồ Dzếnh, số lượng
các bài nghiên cứu về Thanh Tịnh khơng nhiều. Chưa có cơng trình
nào nghiên cứu, khảo luận về Thanh Tịnh một cách riêng biệt, độc
lập. Từ trước tới nay mới chỉ có luận án Phó Tiến sỹ của Phạm Thị
Thu Hương (1995) là đặt vấn đề nghiên cứu những đặc trưng về
phong cách truyện ngắn của ba tác giả Thạch Lam- Thanh Tịnh- Hồ
Dzếnh và nghiên cứu về Thanh Tịnh nằm trong tương quan chung
4
với hai tác giả kia. Trong luận án của mình, Phạm Thị Thu Hương đã
tìm ra một số nét đặc sắc trong truyện ngắn của Thanh Tịnh, đi sâu
vào phân tích khơng gian làng Mỹ Lý, đặt làng giữa khơng gian sóng
đối, coi các hình tượng dịng sơng, con thuyền , câu hò, nhà ga, con
tàu, tiếng còi là các biểu trưng. Có thể nói đây là những phân tích sắc
sảo và sâu sắc. Bên cạnh đó luận án cịn đề cập đến nghệ thuật truyện
ngắn của Thanh Tịnh như tìm hiểu chất thơ trong văn xi, giọng
điệu trần thuật xen trào phúng nhẹ nhàng. Mặc dù vậy, do yêu cầu
cũng như mục đích đặt ra của đề tài nên luận án dừng lại ở việc tìm
hiểu phong cách mà chưa đi sâu vào khai thác biện chứng của tâm
hồn.
Ngoài cơng trình của Phạm Thị Thu Hương, cịn có các bài viết,
bài nghiên cứu về Thanh Tịnh của Hà Minh Đức, Nguyễn Hồnh
Khung, Huy Cận, Vương Trí Nhàn, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Mạnh
Trinh, Thạch Lam, Bùi Việt Thắng, Trần Hữu Tá, Lưu Khánh Thơ…
Hầu hết các bài đều viết theo thể loại chân dung tác giả, trong đó có
lược qua toàn bộ sự nghiệp của Thanh Tịnh bao gồm cả truyện ngắn,
truyện dài, thơ, độc tấu, kịch,… Nói chung, các ý kiến đánh giá về
truyện ngắn Thanh Tịnh trước 1945 là khá thống nhất, đều cho rằng
“mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh như một bài thơ vịnh gọn và có dư
vị trữ tình lắng sâu” (Trần Hữu Tá).
Trong bài viết của mình Vũ Ngọc Phan đã xếp Thanh Tịnh vào
cùng dịng “tiểu thuyết tình cảm” với Thạch Lam, ơng cho rằng:
“Thứ tình cảm ở tiểu thuyết Thanh Tịnh là thứ tình êm dịu, nhẹ
nhàng, thứ tình của những người dân quê hồn hậu Trung kỳ, diễn ra
trong những khung cảnh sơng nước, đồng ruộng… Cái tình q trong
hầu hết các truyện ở tập Quê mẹ bao giờ cũng rung rinh, lai láng
trong những đêm trăng sáng, trên những mặt sông im hay trong
5
những buổi chiều tà, gió hiu hắt thổi. Tình, trăng, nước, đó là tất cả
những cái làm tài liệu cho Thanh Tịnh để xây dựng nên những truyện
trong tập Quê mẹ” [49. tr, 193].
Đi xa hơn Vũ Ngọc Phan, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã so
sánh sự gần gũi về chất trữ tình, chất thơ trong sáng tác của Thanh
Tịnh và một số nhà văn khác với nhà văn Nga Pauxtôpxki: “…kết
hợp giữa phản ánh và bộc lộ cảm xúc cá nhân đậm chất trữ tình, chất
thơ như sáng tác của Pauxtôpxki, Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh
Tịnh, …” [16, tr.33], “Có thể nói mạch truyện Thạch Lam, Hồ
Dzếnh, Thanh Tịnh đã nói lên vẻ đẹp nội cảm của tâm hồn trước
cuộc sống…” [16, tr.37].
Nhà thơ Huy Cận phát hiện ra cái “mùi vị quê rất đậm” trong
truyện ngắn của Thanh Tịnh: “Tơi muốn nói thêm một điều: bao áng
văn đẹp ấy gợi đậm lòng yêu quê hương đất nước, u những gì là
văn minh, văn hóa nước nhà, lại có những tác phẩm mà “mùi vị đất
quê” rất đậm (như các truyện ngắn của Thanh Tịnh) thật là đáng trân
trọng…” [7, tr.1369].
Trong khi hầu hết các nhà nghiên cứu khác thường chỉ đặt Thanh
Tịnh trong mạch liên tưởng tới các tác giả, tác phẩm gần gũi cùng
giai đoạn thì Nguyễn Hồnh Khung, trong một số bài tiểu luận của
mình đã dành nhiều sự chú ý tới Thanh Tịnh: “Và cả Thanh Tịnh, Hồ
Dzếnh, nếu như được gọi là những cây bút hiện thực - một thứ hiện
thực trữ tình - thì đâu phải là khơng có căn cứ” [30, tr.10], “Cây bút
xứ Huế ấy có một hồn thơ lai láng, ngọt ngào, man mác, trữ tình…”
[30, tr.40], “Đúng như có người nhận xét, mỗi truyện ngắn của Thanh
Tịnh là một bài thơ. Với một quê hương đằm thắm, Thanh Tịnh
không những dựng nên một bức tranh thiên nhiên thi vị mà còn đi
vào những cuộc đời hiền lành, lầm lụi mà đáng quý, đáng thương của
6
người dân quê, đặc biệt là người phụ nữ…” [30, tr.40], “Mỗi truyện
ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ, mang chất thơ của cảnh vật và
tâm hồn con người Việt Nam bình dị xiết bao thương mến. Song ngịi
bút rất thi sĩ ấy khơng chỉ khai thác những gì thi vị, ngọt ngào, mà
còn viết nên những trang nhức nhối, đầy ám ảnh về số phận thê thảm
của con người nghèo khổ trong cuộc sống vật lộn dữ dội với đời
sống” [32, tr.14].
Tương tự như Nguyễn Hoành Khung là những nhận định thuyết
phục của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn: “Chỗ khác của Thanh
Tịnh so với một số tác giả thời tiền chiến, là khi diễn tả những nỗi bất
hạnh của con người khơng làm cho nó chói lên quá đáng, nhân vật
trong truyện cũng như tác giả không kêu to sau các trang sách, song
sự bất hạnh vì thế lại hiện ra khơng ai có thể cưỡng lại nổi, nó như
khơng khí bao quanh người ta, và sống lâu với nó, ta quen đi lúc nào
khơng biết” [53, tr.230].
Và tất cả những ý kiến trên đều là những gợi ý q báu cho
chúng tơi trong q trình thực hiện luận văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện ngắn Thanh Tịnh
giai đoạn 1930 – 1945.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những đặc điểm của truyện
ngắn Thanh Tịnh trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn sử dụng các phương
7
pháp chủ yếu sau:
4.1. Phương pháp lịch sử
4.2. Phương pháp cấu trúc - hệ thống
4.3 Phương pháp so sánh
5. Đóng góp của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ góp phần nhận diện
những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Thanh Tịnh giai đoạn 1930 1945 trên cả hai bình diện nội dung và hình thức.
- Luận văn cũng góp phần nhận diện đặc trưng thể loại truyện ngắn
từ góc nhìn phương pháp sáng tác.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được triển khai trong 3
chương:
Chương 1: Truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và hành trình sáng
tạo văn chương của Thanh Tịnh.
Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh - Nhìn từ đề tài và
hình tượng nhân vật.
Chương 3: Đặc điểm của truyện ngắn Thanh Tịnh 1930 - Nhìn từ
phương thức thể hiện.
CHƯƠNG 1
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ HÀNH
TRÌNH SÁNG TẠO VĂN CHƯƠNG CỦA THANH TỊNH
1.1. Truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam buổi giao thời ln có sự đụng
8
chạm, cọ xát giữa phương Đông với phương Tây, giữa cổ truyền với
hiện đại, giữa cái cũ và cái mới, giữa cá nhân và cộng đồng, kích
thích những người cầm bút tìm tịi. Lý tưởng thẩm mỹ của thời đại đã
thay đổi. Quan niệm đề cao con người cá nhân của phương Tây như
làn gió mới, thổi bùng lên khát vọng giải phóng, khát vọng tự do.
Trên cơ sở nền tảng của văn xi tự sự trung đại, sự hình thành
và phát triển của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ cuối thế kỷ XIX, truyện
ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phát triển theo những chặng đường
sau:
* Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1925. Đây là bước chuẩn bị, thăm
dị về khả năng hình thành của thể loại truyện ngắn hiện đại. Phần lớn
truyện ngắn chú ý nhiều đến vấn đề suy thoái của đạo đức truyền
thống, kết cấu chưa tách khỏi ảnh hưởng của truyện dân gian và văn
xuôi trung đại.
* Từ năm 1926 đến năm 1932. Đây là chặng đường vận động đa
dạng của truyện ngắn trên con đường hình thành của thể loại. Đặc
điểm lớn nhất của chặng đường này là sự phân hóa dù chưa rõ ràng
của truyện ngắn theo hai khuynh hướng: hiện thực và lãng mạn, ở
chặng đường thứ hai này thấy nổi bật lên vai trị của một số báo, tạp
chí như Nam phong tạp chí, An Nam tạp chí, Phụ nữ tản văn, Đơng
Dương tạp chí…
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng thể loại
Lịch sử văn học Việt Nam kể từ khi “ Vất bút lơng đi, giắt bút
chì” (Tú Xương), gắn liền với chữ quốc ngữ, thì văn xi nghệ thuật,
trong đó có truyện ngắn đã bắt đầu hình thành và đóng vai trị quan
trọng. Để nhận biết rõ hơn, sự hình thành truyện ngắn với tư cách là
một thể loại trong văn học dân tộc - và để làm tiền đề nghiên cứu
9
truyện ngắn Thanh Tịnh ở các chương sau, chúng tôi đã tham khảo
vận dụng các ý kiến, quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam
và trên thế giới.
Ruby V. Redinger trong Bách khoa toàn thư Mỹ (Encyclopedya
American) xác định: “Truyện ngắn là một hình thức văn học, bản
chất của nó bao hàm trong những từ làm thành phần tạo nên tên gọi
của nó. Với tư cách là một câu chuyện, nó kể lại một chuỗi sự kiện
hoặc một biến cố liên quan đến con người trong hoạt động thể chất
hoặc tinh thân. Vì thế, giống mọi hình thức văn xi hư cấu khác, nó
mơ tả bằng ngơn từ; và thành cơng của nó phụ thuộc vào sự tiếp xúc
trực tiếp đặt được giữa người đọc và đối tượng miêu tả. Với tư cách
là truyện ngắn, dĩ nhiên, nó không thể thực hiện mối tiếp xúc trực
tiếp này bởi các phương tiện phổ biến đối với tiểu thuyết, như là xây
dựng nhân vật chậm rãi, miêu tả thật chi tiết và lặp lại. Đặc biệt là nó
phải miêu tả với độ nhanh nhạy và trọn vẹn giống như một tấm
gương” (dẫn theo Lê Huy Bắc) [5, tr.19].
Theo Bùi Việt Thắng “Truyện ngắn rất ngắn trước hết là một
truyện ngắn theo ý nghĩa thơng thường, nói chung-có nghĩa là nó
khơng phải là một truyện dài, đương nhiên. Nhưng rất ngắn đến mức
độ nào kể cũng khó trói buộc nó một cách dứt khoát, tuyệt đối (độ dài
của một truyện ngắn rất ngắn thường từ dăm chục chữ đến dăm trăm
chữ). Nếu dùng hình ảnh thì truyện ngắn rất ngắn là một “đặc sản”
của truyện ngắn thông thường; mà đã là “đặc sản” thì thường hiếm và
có khi là đắt. Nhưng nó hội đủ những đặc điểm của truyện ngắn với
tư cách là một thể loại văn học có lịch sử lâu đời, có vị trí cũng như
cơng năng lớn trong hệ thống các thể loại văn học nói chung, văn
xi nói riêng”.
10
1.1.2. Quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế
kỷ XX
Như chúng ta đã biết, loại hình tự sự trong văn học dân gian như
truyện cổ tích, thần thoại và truyện cười là nguồn gốc nuôi dưỡng và
hổ trợ những kinh nghiệm nghệ thuật cho việc sáng tác truyện ngắn
buổi ban đầu. Truyện ngắn rút được những kinh nghiệm quí báu của
truyện cổ tích trong sự khái quát cao, các biện pháp ước lệ tượng
trưng của thần thoại và ngắn gọn bất ngờ của tiếu lâm.
Với quan niệm “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngơn chí” mười thế kỷ
trung đại loại hình tự sự ít được nhà nước phong kiến quan tâm, phổ
biến - nhưng, như quy luật vận động của đời sống, nó vẫn phát triển
“tự nhiên nhi nhiên”. Chính văn học dân gian và loại hình tự sự trung
đại đã “âm thầm” nuôi dưỡng mầm mống truyện ngắn sau này. Cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chữ quốc ngữ thoat ra khỏi bốn bức
tường của tu viện và hịa nhập vào đời sống. Thì truyện ngắn quốc
ngữ đã bắt đầu hình thành.
Từ năm 1929-1932, trên chuyên mục “xã hội ba đào ký” của An
Nam tạp chí, Nguyễn Cơng Hoan đã trình làng trên dưới 20 truyện
ngắn, khẳng định phong cách trào phúng của mình như “Oẳn tà
roằn”, “Thật là phúc”, “Răng con chó của nhà tư sản”… Với Nguyễn
Công Hoan, mỗi truyện ngắn chỉ khai thác một tình huống, một mâu
thuẫn. Ơng biết cách đẩy mâu thuẫn lên thật cao rồi kết thúc đột ngột.
Với Nguyễn Cơng Hoan, có thể nói truyện ngắn hiện đại và ngơn ngữ
nghệ thuật hiện đại đã hình thành.
Điểm qua một vài gương mặt “vàng” của truyện ngắn Việt Nam
1930-1945, chúng tôi nhận thấy, bằng những nổ lực của mình, bằng
cơng việc miệt mài trên cánh đồng chữ nghĩa, đội ngũ những tên tuổi
11
này đã đi rất xa - cái đích chung mà nhiều thế hệ người viết đến sau,
trong suốt thế kỷ 20 vẫn chưa vượt được .
1.2. Thanh Tịnh và hành trình sáng tạo văn chương
1.2.1. Thanh Tịnh - cuộc đời và duyên nợ văn chương
Trong cuộc đời sáng tác của mình, Thanh Tịnh ln ao ước
“Ước gì để lại mùa sau. Một câu một chữ đượm màu dân gian”. Phải
chăng những mong muốn hòa nhập vào cuộc sống của “người trồng
dâu, trồng gai” và những hoài niệm tuổi thơ ở làng Mỹ Lý xa ngái ở
miền Trung, khiến văn chương của Thanh Tịnh bao giờ cũng man
mác, trữ tình và sâu lắng ? cái man mác, trữ tình của điệu hị mái nhì,
mái đẩy văng vẵng trên sơng đã theo ông suốt cả cuộc đời và khiên
ông tạo nên một phong cách riêng, khơng thể lẫn lộn trong dịng chảy
của truyện ngắn Việt Nam 1930-1945.
Thanh Tịnh không thành công trong lĩnh vực sáng tác truyện
dài, nhưng được người đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn. Tập thơ
“Hậu chiến trường” (1937) mang phong cách lãng mạn đậm nét. Thơ
ông thường mượt mà, tinh tế nhưng man mác buồn và bâng khuâng,
thơ mộng của con người sinh bên cạnh một dòng sông “Huế ơi, quê
mẹ của ta ơi” (Tố Hữu). Thành công hơn cả là các tập truyện ngắn
“Quê mẹ” (1941), “Chj và em” (1942), “Ngậm ngải tìm trầm”
(1943).
Nhìn chung, tác phẩm của Thanh Tịnh đậm chất trữ tình.
Thơng qua tâm hồn tác giả, hiện thực cuộc sống được phản ánh giản
dị mà sâu sắc, khơng phải chỉ ở bề ngồi, mà ở các linh hồn sâu lắng
bên trong. Văn Thanh Tịnh luôn mượt mà, sâu lắng và gợi cảm
“truyện ngắn nào hay đều có chất thơ, và bài thơ nào hay đều có cốt
truyện” (Thạch Lam).
12
1.2.2. Hành trình sáng tạo
Thanh Tịnh là một trong số khơng nhiều những tác giả có tên
tuổi vừa làm thơ vừa viết văn xuôi giai đoạn 1932- 1945 như Thế Lữ,
Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh… Nhưng cũng
giống như Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh nổi tiếng và để lại dấu ấn tài năng
của mình trong truyện hơn là trong thơ, mặc dù ông đã từng đoạt giải
nhất cuộc thi thơ do Hà Nội báo tổ chức năm 1936, đã xuất bản một
tập khá hay: Hận chiến trường (1937), trước khi có được các tập
truyện ngắn đặc sắc: Quê mẹ (1941), Ngậm ngải tìm trầm (1943)…
Có lẽ, sự hịa quyện tuyệt vời giữa tư chất thi sĩ trong tâm hồn
nhà văn với bút pháp trữ tình nhẹ nhàng sâu lắng đã mang lại cho
truyện ngắn Thanh Tịnh một vẻ đẹp riêng, một sức sống lâu bền
trong lòng người đọc, và giúp ông xây dựng nên, trong các tác phẩm
của mình, một khơng gian nghệ thuật vừa quen vừa lạ, ngỡ như giống
mà kỳ thực có rất nhiều nét khác biệt so với sáng tác của những nhà
văn cũng thời: khơng gian mang tính sóng đơi.
Mảnh làng ấy có một dịng sơng cũ kỹ chảy qua những bến bờ
xanh ngắt đồng lúa và lũy tre, có những con thuyền chở những cô
gái làng đi lấy chồng xa trở về quê mẹ (Con so về nhà mẹ, Quê mẹ),
chở những khát vọng âm thầm về một hạnh phúc mỏng manh (Bến
nứa), hay chở những câu hò điệu hát làm xao động cả khơng gian và
thời gian (Bến ma, Q bạn, Tình trong câu hát)…
Có thể nói rằng nhà văn nào cũng phải tìm cho mình một điểm
nhìn, điểm tựa để khởi nguồn cảm hứng sáng tạo và để bày tỏ quan
niệm của mình về thế giới. Để hồi niệm, Thạch Lam đề cập đến một
môi trường tỉnh lẻ, phố huyện, nơi con người có thể tự do đi theo hai
hướng: thị thành hoặc thôn quê; Hồ Dzếnh chọn một quê hương đẹp
đẽ nhưng không thực, Lưu Trọng Lư chọn Chiếc cáng Xanh…, còn
13
Thanh Tịnh giản dị hơn, ơng chọn làng. Qua góc nhìn của ơng, cái
làng q nơng nghiệp Việt Nam vừa tiêu điều xơ xác vừa khốn khổ
nhọc nhằn trong hầu hết sáng tác của các nhà văn hiện thực đã gần
như không hiện diện hoặc đã hiện diện dưới một ánh sáng khác.
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH - NHÌN TỪ
ĐỀ TÀI VÀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
2.1. Đề tài
Đặc điểm truyện ngắn của Thanh Tịnh không chỉ ảnh hưởng đến
các nhà văn hiện thực như Nguyên Hồng, Như Phong, Thạch Lam…
Thạch Lam là người viết lời tựa cho tập Quê mẹ của Thanh Tịnh.
Một số truyện ngắn của Thanh Tịnh khơng hẳn là lãng mạn, đó là
những truyện hiện thực qua cái nhìn một nhà thơ, một hiện thực đầy
chất thơ (Tình trong câu hát, Một đêm xuân, Quê bạn…).
Nằm trong mạch truyện ngắn trữ tình nên truyện của Thanh Tịnh
cũng xoay quanh những đề tài quen thuộc của các nhà văn cùng
phong cách. Ông viết nhiều về đề tài sinh hoạt, phong tục chốn làng
xóm, hương thơn miền Trung - nơi ông đã sinh thành - những ký ức
ln đeo đuổi ơng trong suốt cuộc đời. Ở đó, ơng để cho ngịi bút của
mình được thoải mái tung hoành kể và tả về thiên nhiên, về tập tục,
về sinh hoạt đời thường .
2.1.1. Cảnh sắc quê hương
Trong truyện ngắn lãng mạn, nhiều tác giả viết về cảnh sắc quê
hương. Họ đã dựng lên được bức phong cảnh quê hương xứ sở với
nét đẹp vừa thân quen bình dị vừa thơ mộng, hữu tình. Đặc biệt, đề
tài thiên nhiên chiếm một vị trí rất quan trọng trong sáng tác của các
14
nhà văn. Đây cũng chính là vẻ đẹp đa dạng của cỏ cây, sông nước,
mây trời là những nét họa đẹp tươi mà các nhà văn đã điểm to vào
bức tranh cuộc sống, nó làm cho cuộc sống thêm phần đáng yêu,
đáng mến.
Truyện của Thanh Tịnh thường gợi lên được những bức tranh
quê hương dịu dàng sắc hương và vô cùng gợi cảm. Miền Trung với
làng Mỹ Lý xa ngái của ơng bao giờ cũng đẹp và n bình: “Gió thổi
trên đồng lúa chín, dạt dào nhẹ và khơ. Bên kia đồng tiếng hò đạp
nước còn văng vẳng vang lên giữa bóng chiều sắp tắt. Tiếng hị rời
rạc và buồn buồn nghe như đàn ve xám thả giọng ngân rền cuối hạ”
(Con so về nhà me),
Đến với truyện ngắn Thanh Tịnh người đọc khơng chỉ thấy tình
u làng xóm, tình u q hương nồng nàn mà cịn có tình u đơi
lứa
2.1.2. cuộc sống người dân q
Sống hịa đồng với thiên nhiên, đời sống tâm hồn của con người
như cũng trở nên mộng mơ, lãng mạn, trái tim của họ cũng trở nên
nhạy cảm, chan chứa ân tình hơn trước cuộc đời. Bởi vậy, trong sáng
tác của mình tác giả Thanh Tịnh vừa làm người đọc rung cảm trước
vẻ đẹp đáng yêu của cảnh sắc quê hương đất nước, mặt khác ông lại
làm ấm áp lòng người trước những mối chân tình.
Tình cảm đối với quê hương là một trong những thứ tình cảm
thiêng liêng nhất của con người. Văn chương dân tộc xưa nay đã viết
rất nhiều về tình yêu ấy của người Việt. Những trang văn chứa chan
cảm xúc nhất của truyện ngắn Thanh Tịnh nói riêng văn lãng mạn nói
chung đây cũng là những trang văn viết về tình cảm cao quý nhất
giành cho cuộc sống của con người.
15
Cuộc sống con người trong truyện Thanh Tịnh thường hồi tưởng
lại những gì đã qua, đã mất nhưng tác giả đã tưởng tượng, tái hiện lại
hình ảnh thật, con người thật trong tác phẩm của mình. Con người
trong truyện của ông là những con người bình thường, là người nông
dân nghèo khổ sống một cuộc sống bình dị, cui cút làm ăn.
2.2. Hình tượng nhân vật
Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Thanh Tịnh thường được
tác giả nhìn ở chiều sâu của tâm linh với các trạng thái tâm lý, cảm
xúc, cảm giác. Sự tồn tại của nhân vật không dựa vào diện mạo, hành
động mà nhờ vào chiều sâu của đời sống tinh thần và ở đây, miêu tả
tâm trạng cũng là nhằm khám phá đời sống tinh thần bí ẩn của con
người.
Nhân vật trong truyện ngắn Thanh Tịnh thật giản dị và quen
thuộc. Họ là những người dân của làng Mỹ Lý, sinh ra tại làng Mỹ
Lý và sống trong khơng gian làng mỹ Lý. Họ có thể là những người
con của làng Mỹ Lý đi sinh sống làm ăn nơi xa nhưng lúc nào cũng
đau đáu nỗi nhớ quê hương mình.
2.2.1. Hình tượng nhân vật với khát vọng tình u, hạnh phúc
lứa đơi
Khát vọng tình u, hạnh phúc lứa đôi luôn là nỗi niềm của con
người bao thế hệ. Tất cả đều mong muốn có một tình yêu thật sự, một
cuộc sống êm đềm hạnh phúc “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng
cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, khi mà lễ giáo phong kiến hà khắc, đã
tước đi quyền tự do của mỗi con người. Đầu thế kỷ XX, khi những
cơn gió từ phương Tây thổi về đang làm lung lây ngôi nhà “Tam
cương ngũ thường: vốn đã ọp ẹp, thì vấn đề đấu tranh chống lễ giáo
phong kiến, địi hỏi giải phóng thân phận người phụ nữ, đòi hỏi
16
quyền bình đẳng càng trở nên cấp thiết.
Dưới ngịi bút của Thanh Tịnh, hình tượng nhân vật người phụ
nữ dường như là tập trung tất cả những gì đẹp đẽ, chân thực nhất của
mỗi con người, và của cả cộng đồng làng xóm. Dù cuộc sống có
nghèo khổ, cơ cực, nhưng bao giờ tâm hồn họ cũng sáng lên những
vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong. Đó là những cơ Phương (Bến nứa), Thảo
(Quê mẹ), Duyên (Bên con đường sắt), Hoa (Con so về nhà mẹ),
Sương (Tình thư), Hương (Quê bạn)…
Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của Thanh Tịnh gây
ấn tượng trước tiên là những người thiếu phụ. Đó là những người phụ
nữ thơn q có tâm hồn thật bình dị, chất phác.
Nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn của Thanh Tịnh cịn là
những cơ gái có dun phận hẩm hiu, lỡ dở trong không gian làng
Mỹ Lý giai đoạn giao thời với những đổi thay mới. Nhưng những
mối tình đó khơng vượt qua được sự khắc nghiệt của khơng gian, thời
gian, hồn cảnh mà họ đang sống. Những con tàu đến rồi đi, để lại
trong tâm hồn người con gái nỗi thất vọng mơ hồ về một sự lỡ làng,
dang dở. Và phải chăng, tiếng còi tàu hú xé tan màn đêm làng Mỹ Lý
ngày nào vẫn ngân vang trong lịng người đọc hơm nay với bao cảm
xúc khi nghĩ về “Thân em” của một thời đã qua.
2.2.2. Hình tượng nhân vật với cuộc sống cần cù, lam lũ
Bên cạnh người phụ nữ với khát vọng tình u, hạnh phúc lứa
đơi, thì những con người của cuộc sống cần cù, lam lũ “không một
tiếng vang” luôn trở đi trở lại trong sáng tác của Thanh Tịnh. Đằng
sau cái vẻ êm đềm, thơ mộng của ngôi làng nép mình bên dịng sơng,
là cuộc sống thậm lặng, mỏi mịn, chịu đựng của người dân quê. Mỗi
17
người một số phận, một cảnh đời hắt hiu, éo le, ngang trái, mà tương
lai là một chân trời xa lắc, viễn mộng bao giờ họ nghĩ đến
Thanh Tịnh cũng giống như Thạch Lam có một sự cảm thơng
chân thành đối với những người dân nghèo ở thôn quê, nhất là cuộc
đời lam lũ của những cô gái đảm đang, hiếu thảo (Quê mẹ, Con so về
nhà mẹ). Am cu li xe là một truyện gây xúc động về cuộc đời một
người kéo xe mù, vừa già lão lại vừa nghèo khổ:
Vượt lên trên tất cả những lam lũ, nhọc nhằn người dân quê trong
truyện ngắn Thanh Tịnh còn gắn bó với nhau bằng tình u q
hương. Tình q hương được nhắc đi nhắc lại một cách tha thiết
trong những truyện ngắn cuả ông.
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH - NHÌN TỪ
PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN
3.1. Kết cấu
Theo tư điển thuật ngữ Văn học, kết cấu là phương tiện cơ bản
và tất yếu của khái quát nghệ thuật. Đó là “toàn bộ tổ chức phức tạp
và sống động của tác phẩm… không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề
mặt, ở những tương quan bề ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn
mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung
cụ thể của tác phẩm” [22, tr.106].
3.1.1. Kết cấu tâm lý
Kết cấu theo sự vận động tâm lý là kiểu kết cấu dựa trên trục tâm
trạng, cảm xúc của nhân vật. Đó là kiểu kết cấu mà “tác giả lấy
những trạng thái tâm lý kết hợp với nhau và tác động lẫn nhau làm cơ
sở cho kết cấu” [18, tr.345]. Truyện ngắn Thanh Tịnh ta thấy có
18
nhiều kiểu kết cấu khác nhau nhưng kiểu phổ biến nhất và để lại
nhiều ấn tượng nhất vẫn là kết cấu theo mạch vận động tâm lý của
nhân vật.
Không chỉ viết về tình u lứa đơi, tác giả Thanh Tịnh còn rất
chú ý đến việc khai thác những cảm xúc, cảm giác vi diệu trong đời
sống tâm hồn, tình cảm của con người. Có thể nói khơng một trạng
thái tâm lý, cảm xúc nào trong đời sống tâm hồn phức tạp của con
người lại không được nhà văn mổ xẻ phân tích.
Quay trở lại kết cấu tâm lý truyện ngắn Thanh Tịnh ta sẽ thấy
những nét gần gũi với nhà văn Thạch Lam, ông cũng rất thành công
với những truyện ngắn có kết cấu được xây dựng dựa trên dịng chảy
triền miên của cảm xúc, cảm giác của nhân vật mà truyện ngắn điển hình.
Tơi đi học, Bến Nứa, Tình trong câu hát.
3.1.2. Kết cấu truyện khơng có cốt truyện
Trong truyện ngắn lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 nói chung và
truyện ngắn Thanh Tịnh nói riêng ta bắt gặp có nhiều hình thức tổ
chức kết cấu dựa trên mạch vận động tâm lí nhân vật. Nhà văn có thể
triển khai truyện theo dòng chảy miên man của cảm xúc nhưng cũng
có thể dựa vào một khoảnh khắc, một nhát cắt tâm lí nào đó. Và đối
với những truyện như thế thường kết cấu khơng có cốt truyện.
Như vậy kết cấu theo dòng cảm xúc, tâm trạng đã giúp các nhà
văn có cái nhìn đa chiều hơn về con người, giúp họ “tạo ra được
những nhân vật thật và hoạt động, ngồi những tính cách và đặc điểm
của cái địa vị xã hội, tìm đến được cái bí mật khơng tả được ở trong mỗi
con người” [36, tr.288]. Đặc biệt với lối kết cấu ấy, các nhà văn đã tạo ra
được những truyện khơng có cốt truyện.
19
3.2. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, bởi nó vừa là phương
tiện, vừa là đối tượng hướng tới của văn chương nghệ thuật. Nghiên
cứu sáng tác của một nhà văn hay bất kỳ một xu hướng, một trào lưu
văn học nào cũng không thể không đề cập đến ngôn ngữ bởi “ngôn
ngữ là cái áo của tư tưởng” (m.Gorki).
3.2.1. Ngôn ngữ đối thoại
Ngôn ngữ đối thoại là dạng khá phổ biến trong tác phẩm tự sự
bởi “trên tất cả mọi nẻo đường đến với đối tượng, ở mọi hướng, ngôn
từ đều gặp gỡ những lời của người khác và không thể không tương
tác sống động và căng thẳng với chúng” [4, tr.98]. Ngôn ngữ đối
thoại cũng là ngôn ngữ được lấy từ đời sống hiện thực nhưng đã được
khúc xạ qua tư tưởng của nhà văn cho nên mang những nét đặc trưng
riêng phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, trình độ, nghề nghiệp, thành phần
giai cấp của từng đối tượng nhất định.
Như vậy, ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Thanh Tịnh rất
sinh động nhẹ nhàng phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.
Đó là thứ ngơn ngữ có sự chọn lựa, gọt giũa khá kỹ càng.
3.2.2. Ngôn ngữ độc thoại
Cùng với ngôn ngữ đối thoại, nét đặc trưng của ngôn ngữ nhân
vật trong truyện ngắn Thanh Tịnh còn được thể hiện ở ngơn ngữ độc
thoại. Đó là “lời phát ngơn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện
q trình tâm lý nội tâm, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của
con người trong dịng chảy trực tiếp của nó” [21, tr.97].
Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn của Thanh Tịnh có khi
hướng vào chính mình giải thích cho mình nhưng cũng có khi hướng
20
về người khác, suy ngẫm về họ, cũng có khi vừa nghĩ về họ lại vừa
hướng vào mình. Hình thức thường gặp của độc thoại nội tâm trong
truyện ngắn của Thanh Tịnh là tự vấn hoặc ngẫm nghĩ những gì đã
xảy ra trong quá khứ. Trong truyện ngắn của Thanh Tịnh thể hiện rõ
trong những dòng độc thoại nội tâm suy tư, chiêm nghiệm về cuộc
đời và con người, thể hiện cách nghĩ của nhân vật về thời cuộc, về
chính mình, Tái hiện hiện thực tâm lý qua độc thoại nội tâm bằng
ngôn ngữ trực giác và linh cảm, cây bút truyện ngắn này đã bộc lộ
khả năng nắm bắt những biến thái của tâm hồn con người, đặc biệt là
nổi khổ của người dân ở làng Mỹ Lý điển hình là nhân vật cơ Dun
trong truyện ngắn (Bên con đường sắt).
Đọc truyện ngắn của Thanh Tịnh người đọc cảm nhận đó là tiếng
lịng của người u q hương đất nước, cũng chính vì ơng u
thương những người nghèo khổ mà trong tác phẩm của ơng ln hóa
thân mình vào nhân vật để cho người đọc suy nghĩ và đồng cảm cùng
số phận. Do được chứng kiến cảnh sống khó khăn trong làng Mỹ Lý
như Cô Duyên trong truyện Bên con đường sắt không chỉ nuôi em ăn
học mà con gánh thêm nặng đó là trả món nợ cha mẹ để lại. Giọng
điệu độc thoại giãi bày tâm sự thường gặp ở đây mượn hình thức tự
bạch. Hầu hết các truyện ngắn của Thanh Tịnh được viết dưới dạng
người kể chuyện xưng tơi. Với hình thức này người kể chuyện tham
gia vào câu chuyện như một nhân chứng, cũng là cách làm tăng độ
tin cậy của bạn đọc đối với tác phẩm. Nhân vật xưng tơi tự kể chuyện
mình, bộc bạch những nỗi niềm tâm sự, suy tư, cảm xúc của mình.
Đứng ở điểm nhìn trần thuật này nhiều trường hợp giọng điệu tác giả
và giọng điệu nhân vật hoà làm một.
Sử dụng độc thoại nội tâm để thể hiện cảm xúc là một trong
những thủ pháp nghệ thuật cở bản trong truyện ngắn Thanh Tịnh.
21
Đồng thời độc thoại nội tâm còn giúp thế giới nội tâm của các nhân
vật biểu hiện khách quan, chân thật hơn, bởi vì thế giới nội tâm của
con người là một thế giới hết sức phức tạp và phong phú nhằm khắc
họa thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của con người.
Trong tác phẩm của mình, tác giả Thanh Tịnh đã sử dụng nhiều
hình thức triển khai độc thoại nội tâm khác nhau. Ông thường để
nhân vật bộc lộ nội tâm bằng chính dịng tâm trạng, suy nghĩ hoặc
cảm giác của mình như truyện ngắn Bên con đường sắt, Thanh Tịnh
miêu tả những lời độc thoại giữa hai nhân vật Duyên và thầy Trưu.
Qua độc thoại của nhân vật, tác giả thể hiện một cách nhìn nhận,
đánh giá con người mang đậm tính nhân văn. Do đó vẻ đẹp cao quý
nhất ở con người chính là vẻ đẹp của tâm hồn, điều này nó hội tụ tất
cả ở nhân vật cơ Dun, cơ khơng chỉ có vẻ đẹp bề ngồi mà lẫn
phẩm chất bên trong cũng tốt lên rất rõ nét.
3.2.3. Ngôn ngữ người kể chuyện
Đặc sắc ngôn ngữ của truyện ngắn Thanh Tịnh không chỉ thể
hiện ở ngơn ngữ đối thoại và độc thoại mà nó cịn thể hiện khá rõ
trong ngôn ngữ của người kể chuyện. Đó là phần lời văn đảm nhiệm
chức năng trần thuật, giới thiệu, miêu tả, bình luận đối với sự vật hiện
tượng được nói tới trong tác phẩm. Nó đóng một vai trò rất quan
trọng trong tác phẩm tự sự.
Mỗi nhà văn đều có sở trường riêng trong việc lựa chọn, xử lý
ngôn ngữ bởi vậy ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn
Thanh Tịnh rất đa dạng, phong phú với nhiều giọng điệu, nhiều
phương thức lựa chọn, sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện
khác nhau. Ngơn ngữ của đời sống qua bàn tay xử lý tài hoa khéo léo
của nghệ sĩ ngôn từ thuộc trường phái lãng mạn bỗng trở nên lấp lánh
sắc màu
22
Ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Thanh Tịnh gắn
liền với vấn đề phương thức trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu của nhà
văn trong tác phẩm.
3.3. Thời gian và không gian nghệ thuật
3.3.1.Thời gian nghệ thuật
Khái niệm thời gian nghệ thuật là một phạm trù triết học phản
ánh hình thức tồn tại của vật chất. Chỉ có trong khơng gian và thời
gian mọi vật mới được xác định và gọi đúng tên.
Khác với thời gian khách quan một chiều quá khứ - hiện tại,
tương lai, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật có thể ngược xi vạn
lý giản nở đến tận cùng, co thắt trong tấc gang theo ý đồ sáng tạo của
người nghệ sĩ. Có khi hàng chục thế kỷ trơi qua chỉ thâu tóm trong
vai dịng “Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê” (Tản Đà), nhưng
cũng có khi khoảnh khắc tâm trạng của đời người lại dài lê thê “Và
một ngày hơn thế kỷ” (T.S. Aitsmatov) qua khắp miền nhân gian
cùng đơi hài vạn dặm.
Tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Thanh Tịnh,
chúng tơi tìm thấy ở nhiều truyện của ơng, thời gian thường thay đổi,
xen cài theo chu kỳ: hiện tại - quá khứ - hiện tại (tương lai gần),
trong Bến Nứa, Thanh Tịnh dùng tới 32 từ và cụm từ chỉ thời gian
như
Phù hợp với những truyện hồi tưởng về dĩ vãng, thời gian trong
một số truyện Thanh Tịnh lại là thời gian trong qua khứ - thời gian
được kể lại từ điểm nhìn hiện tại. Ơng thường bắt đầu sự hồi tưởng
bằng lối kể chuyện dân giã với những cụm từ chỉ thời gian trong quá
khứ xa xưa như:
23
3.3.2. Không gian nghệ thuật
Trong thế giới khách quan không có sự vật nào tồn tại ngồi
khơng gian và thời gian. Con người là một thực thể của thế gới cũng
mang tính thời gian và khơng gian và thời gian.
Khơng gian - thời gian được đưa vào tác phẩm nghệ thuật khơng
cịn là khơng gian, thời gian đơn thuần của khách quan nữa, mà được
nhào nặn qua quá trình lao động nghiêm túc trở thành không gian,
thời gian tinh thần, là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể
hiện tính chỉnh thể của nó.
Đó là khơng gian làng - không gian vật thể cụ thể, một cái làng
giống như bao làng quê khác của Việt Nam, nhưng lại rất riêng, rất
lạ, rất đặc trưng của chốn hương thôn miền Trung. Cái làng này có
một cái tên rất đẹp và thơ: làng Mỹ Lý.
KẾT LUẬN
1. Mặc dù số lượng truyện ngắn không nhiều, và chủ yếu chỉ
trong giai đoạn 1930- 1945, nhưng Thanh Tịnh đã để lại dấu ấn khá
đặc biệt trong lòng người đọc. Ảnh hưởng nhiều bời Thạch Lam, có
phong cách gần gũi bởi Hồ Dzếnh, Thanh Châu…nhưng truyện của
Thanh Tịnh vẫn có những nét đặc sắc riêng, có ảnh hưởng riêng trên
văn đàn thời kỳ đó và cả các giai đoạn sau này. 2. Đặc điểm truyện
ngắn Thah Tịnh 1930- 1945 đã tạo nên những thành công riêng được
ghi nhận trên văn đàn giai đoạn cùng thời và cả các giai đoạn sau
này. Cùng với truyện ngắn hiện thực, truyện ngắn lãng mạn đã góp
phần tạo nên sự thành công rực rỡ của truyện ngắn Việt Nam giai
đoạn 1930- 1945. Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn cho rằng giai
đoạn 1930- 1945 là giai đoạn hoàng kim của văn học Việt Nam hiện
24
đại. Trải qua các biến cố thăng trầm của lịch sử xã hội, dù qúa trình
phát triển của nó, do ảnh hưởng của lịch sử, của xã hội, đã có lúc nó
gần như chững lại, hoặc có lúc nó chỉ phát triển một cách yếu ớt với
số nhà văn, tác phẩm ít, mỏng.
3. Với bút pháp nghệ thuật độc đáo, cùng với sự hài hước, dí dỏm
riêng biệt, Thanh Tịnh đã tạo cho mình một dấu ấn riêng biệt trong
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 và đã có ảnh hưởng
không nhỏ tới các nhà văn trẻ thế hệ sau.
Ơng thành cơng trong việc phân tích, miêu tả đời sống tâm hồn
của con người, đặc biệt là người nông dân, một việc mà không nhiều
các nhà văn Việt Nam quan tâm tới. Ơng khơng đứng từ trên nhìn
xuống để miêu tả, khơng đứng từ ngồi nhìn vào để quan sát, bình
luận, mà ơng như hịa nhập vào với người nơng dân để phân tích, để
khám đời sống nội tâm bí ẩn của họ. Với một đất nước sống chủ yếu
bằng nơng nghiệp như Việt Nam, hình ảnh người nơng dân đã được
văn học nói tới nhiều với rất nhiều phẩm chất tốt đẹp, đáng quý như:
cần cù, chịu khó, trung thực, yêu quê hương đất nước,… nhưng đời
sống tâm hồn của người nơng dân thì vẫn là một mảnh đất riêng, bí
ẩn mà văn học cịn chưa khai thác được nhiều. Nhà văn Thanh Tịnh
đã viết về những người dân làng quê hồn hậu mà tinh tế với một số
hiểu biết và thơng cảm sâu sắc. Đó cũng chính là điều đã khiến
truyện ngắn của ông tuy không phản ánh nhiều về hiện trạng xã hội
đầy rối ren như nhiều tác phẩm hiện thực khác cùng thời nhưng vẫn
đầy tính nhân văn, nhân bản.
Cùng với sự hiện diện của không gian làng Mỹ Lý, Thanh Tịnh
đã mang đến cho nơng thơn Việt Nam một khơng gian n bình, đẹp
đẽ và thơ mộng với những con người hiền lành, chất phác, bình dị mà
vẫn đầy lịng nhân ái, đầy lãng mạn.
25
4. Lấy con người cá nhân làm trung tâm miêu tả, tác giả Thanh
Tịnh đã thể hiện một phương hướng tiếp cận riêng, đồng nghĩa với
việc thể hiện một cách nhìn nhận, cách quan niệm mới về con người
trong văn học. Vẫn là con người cá nhân nhưng đó khơng phải là
những cá nhân hành động, cá nhân với tính cách phi thường vượt
thốt lên hồn cảnh, cải tạo hồn cảnh, đặc biệt là hoàn cảnh người
phụ nữ. Ở đây tác giả Thanh Tịnh đi sâu khai thác thế giới bên trong,
thế giới nội tâm, cảm giác của nhân vật. Bởi vậy con người được nói
tới trong truyện ngắn của ông giai đoạn này là con người nội tâm, con
người cảm giác. Chính vì vậy, thế giới nhân vật trong truyện ngắn
lãng mạn nói chung truyện ngắn của ơng nói riêng có thể khơng
phong phú bằng thế nhân vật trong truyện ngắn hiện thực cùng thời,
tính cách nhân vật có thể không sắc nét về chiều sâu tâm lý con
người với những “góc khuất”, những “chỗ tối” khơng được thể hiện
một cách đầy đặn như trong truyện ngắn ra đời sau này. Tuy nhiên,
phải thừa nhận rằng, lấy con người cá nhân, đặc biệt là cá nhân với
đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú, phức tạp làm đối tượng phản
ánh và miêu tả vào thế giới bên trong con người. Bằng cách ấy, đưa
truyện ngắn Việt Nam tiến nhanh vào con đường hiện đại, tạo nên
một “Chủ nghĩa nhân văn” mới trong văn học. Nhìn một cách tổng
thể truyện ngắn Thanh Tịnh đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc,
góp phần khơng nhỏ vào q trình hiện đại hóa văn học nước nhà.
Cùng với các nhà văn khác, ông đã đưa văn học Việt Nam hội nhập
một cách tự nhiên vào dòng chảy chung của văn học nhân loại và
mang đầy bản sắc dân tộc.