CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng Sáng kiến Trường MN Đại Minh.
Tôi ghi tên dưới đây: Huỳnh Thị Tý Nguyệt
T
T
Họ và
tên
Ngày
tháng năm
sinh
1
Huỳnh 12/02/198
Thị Tý 8
Nguyệ
t
Nơi cơng
tác (hoặc
nơi thường
trú)
Trường
MN Đại
Minh
Chức
danh
Giáo
viên
Trình
độ
chun
mơn
Tỷ lệ (%) đóng góp
vào việc tạo ra sáng
kiến
Đại học 100%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một vài biện pháp giúp trẻ
học tốt môn làm quen chữ cái
1- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Huỳnh Thị Tý Nguyệt
2- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong các trường Mầm Non.
3- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : 10/9/2018.
4- Mô tả bản chất của sáng kiến :
Trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, môn học làm
quen chữ cái ở lớp mẫu giáo lớn đóng vai trị quan trọng trong việc cung cấp
những kiến thức ban đầu trước khi cho trẻ vào lớp một. Việc hướng dẫn cho trẻ
mẫu giáo lớn “làm quen chữ cái” là cơ hội tốt để giúp trẻ phát triển vốn từ, phát
triển ngôn ngữ, khả năng phát âm-đọc chuẩn chữ, tiếng mẹ đẻ, để phát triển các
giác quan. Qua đó giáo dục tình cảm, phát triển tư duy và mở rộng vốn hiểu biết,
góp phẩn vào việc phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, chuẩn bị cho trẻ một
hành trang “Tiếng Việt” vững chắc để trẻ bước vào lớp một. Chúng ta cũng biết
trẻ mẫu trẻ mẫu giáo khi bước vào trường phổ thông là một bước ngoặt lớn và
việc quan trọng nhất là ai sẽ giúp trẻ vượt qua những khó khăn đó? Khơng ai
khác chính là cơ giáo, phụ huynh và bản thân trẻ.Ở mẫu giáo trẻ đang quen với
vui chơi là hoạt động chủ đạo, nhưng khi trẻ vào tiểu học thì học tập lại là vai trị
chủ đạo nên việc cho trẻ làm quen với chữ cái ở trẻ mẫu giáo khơng phải là đưa
chương trình Tiếng Việt của lớp 1 vào dạy mà ở đây trẻ mẫu giáo 5 tuổi được
sử dụng các yếu tố vui chơi và các nhiệm vụ học tập sáng tạo thông qua các hoạt
động học tập. Nhờ giáo viên biết linh hoạt, sáng tạo trong tiết dạy lấy trẻ làm
trung tâm cho mọi hoạt động, biết khơi gợi lòng say mê, sự hứng thú của trẻ về
hoạt động “Làm quen chữ cái”.
Bản thân tôi là một giáo viên được nhà trường phân công công tác giảng
dạy trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi. Qua những năm trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy rằng
trẻ làm quen với chữ cỏi không phải là việc dễ làm, nó địi hỏi người giáo viên
phải kiên trì, chịu khó biết vận dụng những linh hoạt, sáng tạo trong quá trình
lên lớp để trẻ lĩnh hội đầy đủ kiến thức của bộ môn chữ cái.
Quá trình trưởng thành của đứa trẻ bên cạnh thể chấtvà phần quan trong
khơng thể thiếu chính là ngơn ngữ. Ngơn ngữ là công cụ để trẻ học tập và vui
chơi những hoạt động chủ yếu của trường mầm non. Ngôn ngữ được trong tất cả
các loại hình giáo dục, ở mọi nơi, mọi lúc, như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các
hoạt động và ngược lại mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển .
Vậy bộ môn làm quen với chữ cái là một phần, một bộ phận của việc phát triển
ngôn ngữ trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 5-6 t̉i, do đó làm quen với
chữ cái nó có ý nghĩa quan trọng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.Trước hết làm
quen với chữ cái là rèn luyện khả năng nghe , khả năng phát âm, khả năng hiểu
ngôn ngữ tiếng việt .
Thông qua việc làm quen với chữ cái cung cấp thêm vốn từ về thế giới
xung quanh. Cho trẻ làm quen với chữ cái còn giúp trẻ hiểu được mối quan hệ
giữa ngơn ngữ nói với ngơn ngữ viết, trẻ hiểu thế nào là đọc và viết sau này ở
trường phổ thơng, thơng qua viêc tìm kiếm các chữ cái khác nhau ở các vị trí
khác nhau của từ giúp trẻ phát triển óc quan sát, ghi nhớ có chủ định.Làm quen
với chữ cái cịn giáo dục tình cảm, mở rộng hiểu biết cho trẻ, chuẩn bị tích cực
cho trẻ vào trường tiểu học
Bắt nguồn từ những tầm quan trọng trên, nên là một giáo viên mầm non
tơi ln tìm tịi đưa ra những phương pháp giảng dạy sao cho lượng kiến thức
trẻ tiếp thu được đạt kết quả cao, trẻ hứng thú, sơi nởi tích hợp được nhiều nội
dung vào giảng dạy để giờ học phong phú hơn, tạo sự lôi cuốn đối với trẻ và phù
hợp với điều kiện trường mình đang cơng tác. Đối với trẻ mầm non hoạt động
làm quen với chữ cái là một trong những hoạt động quan trọng trong việc phát
triển toàn diện của trẻ, nó có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển vốn từ,
phát triển ngôn ngữ, khả năng phát âm-đọc chuẩn chữ, tiếng mẹ đẻ, để phát triển
các giác quan và hoàn thiện các nhân cách cho trẻ.
Thấy được tầm quan trọng của hoạt động làm quen với chữ cái,Bản thân tôi
đã học hỏi kinh nghiệm ở các đồng nghiệp, nghiên cứu các biện pháp hữu hiệu
nhất nhằm truyền thụ đến trẻ sao cho trẻ lĩnh hội một cách nhẹ nhàng thoải mái
hơn tránh được sự gị bó. Và tơi đó chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp
gúp trẻ 5-6 tuổi học tốt môn chữ cái”
4.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
*Ưu điểm:
- Bản thân được sự quan tâm của trường, được đi dự các chuyên đề và học
hỏi ở đồng nghiệp. Lên kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi theo từng chủ điểm phù
hợp với chác chữ cái học trong chủ điểm; Hướng dẫn làm các tranh, các góc chữ
cái để trẻ được làm quen ở mọi nơi mọi lúc.
2
- Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ phịng học.Phịng học tương đối
rộng, thống và đầy đủ điều kiện để hoạt động. Trường luôn coi trọng đến việc
tạo môi trường chữ viết phong phú, hấp dẫn để lơi cuốn trẻ. Trường được trang
bị máy vi tính, đèn chiếu để trẻ được tiếp cận với việc học chữ cái qua các trò
chơi trên máy.
- Giáo viên trong lớp đoàn kết biết cùng nhau đưa ra các biện pháp tổ chức
các hoạt động nhằm phát triển tốt về thể lực cho trẻ.
- Phụ huynh trong lớp nhiệt tình chia sẻ với giáo viên ở lớp về tình hình của
trẻ ở nhà và luôn quan tâm đến trẻ thường xuyên dành thời gian trao đổi với cô
giáo để cùng chăm sóc và giáo dục trẻ.
* Tồn tại:
Trong q trình hướng dẫn cho trẻ 5 – 6 tuổi hoạt động “Làm quen chữ
cái”, bản thân tơi cịn gặp rất nhiều khó khăn do trình độ nhận thức của trẻ
khơng đồng đều. Số trẻ nam nhiều gấp 2 lần số trẻ nữ. Nhiều cháu chưa mạnh
dạn tự tin trong giao tiếp, trẻ cịn nói nhỏ, nói ngọng, nói giọng địa phương,
nhận thức của trẻ chênh lệch nhau nên việc truyền thụ kiến thức gặp rất nhiều
khó khăn. Mặc dù trường đã mua sắm đầy đủ về cơ sở vật chất cũng như đầu tư
về chuyên môn nhưng với năm học tôi vẫn chưa thực sự tổ chức tốt hoạt động
“Làm quen chữ cái”. Bên cạnh đó một số phụ huynh lại nơn nóng trong việc học
chữ của con em mình nên đã bày dạy trước tập đọc và tập viết trước, Điều này
đã dẫn đến việc tiếp thu bài của tiết học khơng đồng đều, trẻ tỏ ra kiêu căng vì
mình đã biết rồi nên khơng cịn chú ý đến tiết học. Những thực trạng trên gây
khó khăn trong việc truyền thụ kiến thức của cô và khả năng tiếp thu của trẻ đó
là sự bất cập giữa gia đình và nhà trường.
4.2 Nêu nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm
của giải pháp đã biết:
- Tạo mơi trường làm quen chữ cái
- Mơi trường có tác dụng tốt đến quá trình giáo dục trẻ. Đặc biệt với trẻ
mẫu giáo thì những gì mới lạ đẹp mắt hấp dẫn là gây được sự chú ý của trẻ. Để
trẻ được làm quen với chữ cái ở mọi góc trong và ngồi lớp,tơi ln cố gắng tạo
mơi trường thật đẹp để cuốn hút trẻ .Ở lớp tơi trang trí các góc chơi bằng chính
các sản phẩm của cơ và trẻ. Riêng góc học tập –sách tơi ln dành các mảng
tường mở với bài tập sáng tạo, tái tạo để cho trẻ được tự do làm các bài tập theo
khả năng, sở thích của mình, tự tin phát âm, tơ vẽ các chữ trẻ đã học, được ghi
tên mình. Hàng ngày vào những lúc vui chơi hay giờ rảnh rỗi tôi và trẻ thường
cắt dán chữ cái, các loại quả hay con vật để trang trí gọi theo chủ điểm.
- Hoặc cơ giáo vẽ các hình ảnh về vườn hoa cúc mùa thu trong bài thơ “Hoa
cúc vàng” cô giáo viết chữ in thường hết cả bài thơ nhưng những chữ cái cô định
cho trẻ làm quen L, M, N thì cơ tơ với màu sắc khác nởi bật để trẻ dễ nhận thấy.
- Và những hình ảnh đó tơi thường thay đổi để phù hợp với chủ điểm.
Không những ở góc “Bé cùng làm quen chữ cái” mà xung quanh lớp tôi đều viết
3
tiếng và từ tương ứng, như hộp đựng hoá lá, rở đựng hình, viết tên các đồ dùng
vào nhãn và và dán vào.
Dạy trẻ làm quen với chữ cái trên tiết học và tích hợp 1 số hoạt động
khác
- Hình thức cho trẻ làm quen với chữ cái thông qua hoạt động học tập là
hình thức cơ bản và chủ yếu.Để tiết học đi vào tâm hồn trẻ một cách sống động,
khơng khơ khan, cứng nhắc thì điều điều đầu tiên là cơ giáo thực sự phải có một
tài nghệ dẫn dắt. Vì vậy khi dạy trẻ làm quen với chữ cái cơ giáo cần lựa chọn
các phương pháp, hình thức phù hợp với yêu cầu của tứng tiết dạy, để thu hút sự
tập trung chú ý tạo hứng thú của trẻ trong tiết học, giúp cho giờ học đạt hiệu quả
cao.
- Muốn vậy cô giáo phải: - Lấy trẻ làm trung tâm.
- Phát huy tính tích cực của trẻ.
- Dạy trẻ theo hướng lồng ghép tích hợp.
- Một yêu cầu đặt ra đối với giáo viên khi cho trẻ "Làm quen chữ cái" là các
kiến thức khi truyền thụ đến trẻ phải hết sức ngắn gọn, tuyệt đối tránh hình thức,
dập khn, ln sáng tạo đởi mới vì thế trước khi lên lớp một tiết dạy "Làm
quen chữ cái" tôi phải chuẩn bị đồ dùng, soạn bài và nghiên cứu kỹ bài soạn.
Nắm rõ yêu cầu của bài dạy chọn trò chơi phù hợp với nguyên tắc động -tĩnh
phù hợp với chủ điểm.
- Ngoài ra để tạo hứng thú thì cơ phải có nghệ thuật lên lớp ngơn ngữ diễn
đạt ngắn gọn để hấp dẫn trẻ vào tiết học.
Hoạt động làm quen với chữ cái tương đối khô khan so với các hoạt động
khác ví thế để giúp trẻ hứng thú tham gia vào bài học với cô một cách tích cực
cơ giáo là người xác định chủ đề lên kế hoạch tở chức lồng ghép tích hợp các
mơn học một cách hợp lý để trẻ phát huy hứng thú, khuyến khích trẻ tích cực
chủ động say mê trong tiết học.
Ngồi việc dẫn dắt bằng ngơn ngữ thì sự khéo léo linh hoạt sáng tạo ứng
xử sư phạm của cô giáo trong một tiết dạy phai nhanh nhạy để mang lại sự chú
ý cao cho trẻ, cô giáo phải kết hợp nhuần nhuyễn các bộ môn khác vào chi tiết
học làm quen chữ cái sao cho phù hợp với chủ đề chủ điểm.
Dạy trẻ làm quen với chữ cái ở mọi lúc mọi nơi
Như chúng ta đã biết ,ở lứa tuổi mẫu giáo “ Trẻ học bằng chơi ,chơi mà
học ” ghi nhớ của trẻ không chủ định ,trẻ chóng nhưng mau quên.Do đó muốn
nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với chữ cái không dừng lại trên tiết học
mà phải thường xuyên ,tranh thủ ở mọi lúc mọi nơi,các hoạt động trong ngày để
cho trẻ làm quen với chữ cái một cách hợp lý .Cụ thể như giờ đón trẻ : Khi trẻ
đến lớp có thể cho trẻ tìm ảnh của mình gắn đúng vào tên của mình có trong
bảng “Bé đến lớp, bé ở nhà ” Giờ hoạt động góc: Các góc chơi đều có mơi
trường chữ ,cơ cho trẻ tự tìm hiểu như làm các bài tập gắn ,viết và gài chữ theo
mẫu. Như góc học tập trẻ gắn những chữ cái đã học và cùng phát âm.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong tiết học:
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giờ học đối với trẻ mầm non nó
như chìa khóa mở cánh cửa tri thức của trẻ, đưa tầm nhìn của trẻ ra xa hơn.
4
Công nghệ thông tin giúp cho trẻ được tiếp xúc với cái hiện đại, trẻ khám phá
tìm tịi, giúp trẻ tư duy tốt hơn.
- Khi ứng dụng CNTT vào tiết chữ cái thì khơng chỉ giúp trẻ tiếp cận với
tin học mà cịn giúp tơi tiết kiệm được thời gian và kinh phí cho việc làm đồ
dùng đồ chơi, hiệu quả và chất lượng giáo dục vẫn được đảm bảo.
- Ứng dụng CNTT vào hoạt động làm quen với chữ cái đã mang lại cho
trẻ hứng thú và kích thích thích trẻ tham gia vào hoạt động. Bởi trên máy có các
hình ảnh xuất hiện và mất đi kèm theo các hiệu ứng mới lạ, hấp dẫn theo ý muốn
của cô giáo. Và trẻ sẽ tập trung chú ý trước những điều mới lạ, tiết học càng đạt
hiệu quả cao hơn
Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh
- Sự kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh trong việc CS- GD trẻ là hết sức
quan trọng và cần thiết. Thấy được điều đó tơi đã giành thời gian trao đởi về tình
hình của trẻ thơng qua giờ đón và trả trẻ hoặc các b̉i họp phụ huynh. Hai phía
cùng cố gắng phối kết hợp giúp trẻ hứng thú và học tốt hoạt động làm quen với
chữ cái.
- Hiện nay không chỉ ở thành phố mới có hiện tượng cho con đi học,
luyện viết chữ( học trước chương trình lớp 1) mà ngay cả ở nông thôn đã bắt đầu
xuất hiện. Phụ huynh cho con luyện chữ trước tuổi đến trường với kỳ vọng
chuẩn bị trước vì sợ con khơng theo kịp các bạn khi vào lớp 1. Tuy nhiên kỳ
vọng này của cha mẹ chưa rõ lợi đến đâu mà lại hại cho quá trình phát triển của
trẻ, làm thui chột hứng thú học ở trẻ. Trong giờ học khi cơ giới thiệu chữ cái mới
có trẻ đã khoe “ con biết thừa chữ cái này rồi” , trong giờ học cháu không tập
trung , trêu đùa bạn khác, làm ảnh hưởng đến cả lớp. Với tình hình như vậy tôi
đã tuyên truyền với phụ huynh về tác hại của việc dạy trẻ học trước chương trình
lớp 1.
Bên cạnh việc tuyên truyền với phụ huynh không nên cho trẻ đi học trước
chương trình lớp 1, tơi cịn vận động phụ huynh ủng hộ các nguyên phế liệu,
sách báo, tranh ảnh cho các cháu hoạt động, làm đồ dùng đồ chơi. Chẳng hạn
khi học đến chữ cái nào thì có thể trong hoạt động góc hoặc trị chơi trong hoạt
động học tôi cho trẻ cắt chữ cái đang học từ sách báo, lịch cũ.
4.3 Nêu các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải
pháp:
Để thực hiện tốt các giải pháp, theo tôi, người giáo viên cần:
- Giáo viên cần có những kiến thức về CSGD trẻ
- Tham dự chuyên đề LQCC do nhà trường và trường bạn tổ chức để học
hỏi, giao lưu trao đổi kinh nghiệm về việc phát triển ngôn ngữ đối với trẻ.
- Có tinh thần tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn. Trao đổi với
đồng nghiệp để rút ra kinh nghiện mà mình đang áp dụng cho trẻ, mạnh dạn thay
đổi hoặc bỏ đi nếu thấy phương pháp ấy chưa được phù hợp.
5
- Sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ
thông tin để phục vụ cho việc dạy trẻ.
- Tận dụng các nguyên vật liệu để làm đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho
việc dạy trẻ như: sách báo cũ ,Chai nhựa, ...làm bộ truyện tranh..
- Sưu tầm những hình ảnh, bài hát hay vui nhộn và các trò chơi mới để
gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động.
* Về phía nhà trường: Xây dựng mơi trường giáo dục trong và ngồi lớp
cho trẻ, đảm bảo đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, đủ điều kiện cho trẻ hoạt động và vui
chơi.
4.4 Nêu các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp
(nhằm để giải quyết các vấn đề đã nêu trên):
4.4.1. Tạo môi trường làm quen chữ cái
Với trẻ mẫu giáo thì những gì mới lạ đẹp mắt hấp dẫn là gây được sự chú
ý của trẻ. Vì thế việc tạo mơi trường làm quen chữ cái trong lớp học rất cần thiết
để làm nổi bật bộ môn và chuyên đề. Hàng ngày vào những lúc vui chơi hay giờ
rảnh rỗi tôi và trẻ thường cắt dán chữ cái, các loại quả hay con vật để trang trí
gọi theo chủ điểm.
Ví dụ: Phía trên khoảng tường rộng tôi dán chữ “Bé cùng làm quen chữ
cái” và tôi lựa chọn cắt dán để phù hợp với chủ điểm. Ví dụ như chủ điểm thực
vật thì tơi cắt bìa thành một cây to sau đó cho trẻ vẽ cắt dán hoặc sưu tầm hoạ
báo tranh ảnh về các loại lá, hột hạt ... sau đó cho trẻ cắt các chữ cái L, M, N
(Trong chủ điểm thế giới thực vật) cho trẻ dán chữ cái dưới các loại hột hạt hay
tranh ảnh theo sự hướng dẫn của cơ giáo như lá thì trẻ dán chữ L, mận thì dán
chữ M, hạt na thì dán chữ N ...
Hoặc tôi viết bài thơ “Cái bát xinh xinh” trong giấy lịch, bài thơ tôi viết
chữ in thường hết cả bài thơ nhưng những chữ cái tôi định cho trẻ làm quen (như
làm quen chữ a, ă, â) thì tôi tô với màu sắc khác nổi bật để trẻ dễ nhận thấy và
được treo xung quanh lớp để trẻ dễ nhìn thấy.
Và những hình ảnh đó tơi thường thay đởi để phù hợp với chủ điểm.
Khơng những ở góc “Bé cùng làm quen chữ cái” mà xung quanh lớp tôi đều viết
tiếng và từ tương ứng, như hộp đựng hố lá, rở đựng hình, viết tên các đồ dùng
vào nhãn và dán vào. (Treo xung quanh lớp những cụm từ như danh sách tên của
trẻ theo tổ, tất cả những cái đó đều phải vừa tầm nhìn với trẻ. Hoặc có những
bức vẽ của trẻ được viết tên trẻ vào phía trái, làm như thế trẻ được sử dụng ngay
trên hoạt động làm quen chữ cái trẻ học đến nhóm chữ cái gì tơi cho trẻ tìm
6
xung quanh lớp nhóm chữ cái đó, phía dưới tơi đặt giá để đựng đồ dùng phục vụ
môn chữ cái đồ dùng của cơ và trẻ như bút chì màu, vở tập tơ ... ngồi ra tơi cịn
dùng chữ cái để làm ký hiệu cho trẻ...(
4.4.2. Dạy trẻ làm quen với chữ cái trên tiết học và tích hợp 1 số hoạt
động khác.
Để tiết học đi vào tâm hồn trẻ một cách sống động, khơng khơ khan, cứng
nhắc thì điều điều đầu tiên là cơ giáo thực sự phải có một tài nghệ dẫn dắt. Vì
vậy khi dạy trẻ làm quen với chữ cái cô giáo cần lựa chọn các phương pháp,
hình thức phù hợp với yêu cầu của tứng tiết dạy, để thu hút sự tập trung chú ý
tạo hứng thú của trẻ trong tiết học, giúp cho giờ học đạt hiệu quả cao.
Muốn vậy cô giáo phải: - Lấy trẻ làm trung tâm.
- Phát huy tính tích cực của trẻ.
- Dạy trẻ theo hướng lồng ghép tích hợp.
Một yêu cầu đặt ra đối với giáo viên khi cho trẻ "Làm quen chữ cái" là
các kiến thức khi truyền thụ đến trẻ phải hết sức ngắn gọn, tuyệt đối tránh hình
thức, dập khn, ln sáng tạo đởi mới vì thế trước khi lên lớp một tiết dạy
"Làm quen chữ cái" tôi phải chuẩn bị đồ dùng, soạn bài và nghiên cứu kỹ bài
soạn. Nắm rõ yêu cầu của bài dạy chọn trò chơi phù hợp với nguyên tắc động
-tĩnh phù hợp với chủ điểm. Ví dụ : Với chủ điểm “Trường mầm non”
Nhóm chữ cái o,ơ,ơ Tơi gây hứng thú bằng bài hát : “ Vịt con học chữ” Cô
hỏi trẻ trong bài hát vịt con không nhớ chữ gì? ( Chữ o) Có một câu truyện cũng
kể về bạn vịt đấy,bây giờ cô sẽ kể cho các con nghe câu chuyện “Vịt con trong
ngày khai trường” sau đó hỏi trẻ, ngày đầu tiên đến lớp Vịt con chuẩn bị trong
cặp được những gì? Trẻ nói bảng con, vở, hộp màu ... tôi cho trẻ làm quen chữ o
qua từ “bảng con” ( Cơ cho trẻ phát âm ,nói cấu tạo chữ o) khi Vịt con viết trên
bảng đã thành thạo cơ giáo Ngan bảo Vịt con lấy gì? (Hộp màu) và cơ cho trẻ
làm quen chữ Ơ trong từ “hộp màu”( Cô cho trẻ phát âm chữ ô ,và câu tạo của
chữ ô), cô giáo Ngan ra bài tập về nhà vào đâu “Quyển vở”.cô cho trẻ làm quen
chữ cái ơ tương tự như chữ o,ô . Tiếp theo cơ cho trẻ chơi trị chơi tạo dáng
thành chữ cái. Bạn nào có thể tạo dáng chữ O trên cơ thể nào? Cô cho nhiều trẻ
được tạo như cong hai ngón tay lại, cháu thì há miệng, cháu thì dùng hai cách
tay....Trên cơ thể bộ phận nào giống chữ O. Trẻ nói mắt, đầu ..
Hai bạn có thể tạo thành chữ O không? (Trẻ cầm tay nhau giang rộng)
Ai có thể tạo thành chữ ơ?
Cơ muốn cả lớp mình cùng tạo một chữ ô thật lớn nào? trẻ cầm tay nhau
đứng thành vòng trong rộng và cho 6 trẻ làm dấu ô.
Với chữ cái ơ cô cũng cho thực hiện như thế.
Hoặc với trị chơi “tìm đồ dùng học tập” trên các đồ dùng học tập có chứa
các chữ cái con vừa học bây giờ cô sẽ phát cho mỗi bạn một chữ cái khi có hiệu
lệnh các con phải lấy ngay đồ dùng có chứa chữ cái đó. Ví dụ: Trẻ có chữ ơ thì
phải lấy o tơ, cô cho trẻ vừa đi vừa hát bài “vịt con học chữ” sau đó cơ kiểm tra
số trẻ lấy đúng đồ dùng và cho trẻ nói tác dụng của từng đồ dùng đó.
7
Song song với việc làm quen với mặt chữ tôi còn phải hướng trẻ cách cầm
bút đúng , cách mở sách, cách tơ sao cho đúng , tơ trùng khít chữ như khi tô các
con phải ngồi ngay ngắn lưng thẳng,nđầu hơi cúi,ncầm bút bằng tay phải bằng
ba ngón tay,mở sách từ từ nhẹ nhàng không làm rách, quăn mép sách. Ví dụ tơ
chữ o các con đặt bút chì từ đỉnh giữa chữ o tô ừ trái qua phải theo vệt chấm mờ
thành một vịng trịn khép kín .
Ngồi ra, để tạo hứng thú thì cơ phải có nghệ thuật lên lớp ngôn ngữ diễn
đạt ngắn gọn để hấp dẫn trẻ vào tiết học. Trước khi vào bài tôi thường kể chuyện
(dựa trên chủ điểm) hoặc sáng tác thơ, vè hay những trị chơi ln cuốn hút trẻ
vào thực tế để trẻ dễ nhớ, dễ hiểu tránh gị bó.
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với chữ B, D, Đ chủ điểm "Mùa xn" tơi giới
thiệu: Hơm nay chúng mình tở chức hội hoa xn, các lồi hoa về dự hội rất là
đơng đủ. Nào chúng mình cùng xem có những lồi hoa gì ? (Trẻ đi và hát bài
"Màu hoa" sau đó kể tên hoa hồng, hoa đào, hoa phù dung, hoa cánh bướm....
lần lượt đưa từng tranh ra cho trẻ xem tranh hoa bướm và trẻ làm quen với chữ
D).
* Lồng ghép tích hợp các mơn học khác:
Hoạt động làm quen với chữ cái tương đối khô khan so với các hoạt động
khác ví thế để giúp trẻ hứng thú tham gia vào bài học với cô một cách tích cực
cơ giáo là người xác định chủ đề lên kế hoạch tở chức lồng ghép tích hợp các
mơn học một cách hợp lý để trẻ phát huy hứng thú, khuyến khích trẻ tích cực
chủ động say mê trong tiết học.
Ngồi việc dẫn dắt bằng ngơn ngữ thì sự khéo léo linh hoạt sáng tạo ứng
xử sư phạm của cô giáo trong một tiết dạy phai nhanh nhạy để mang lại sự chú
ý cao cho trẻ, cô giáo phải kết hợp nhuần nhuyễn các bộ môn khác vào chi tiết
học làm quen chữ cái sao cho phù hợp với chủ đề chủ điểm.
* Tích hợp văn học
Khi vào một tiết học làm quen chữ cái tơi thường tích hợp bộ mơn văn
học vì nó phù hợp với bộ mơn chữ cái. Đây là một mà bộ môn bà Bộ giáo dục
chọn làm chuyên đề mũi nhọn cùng lúc với chữ cái. Khi tích hợp một câu
chuyện hay một bài thơ có các nhân vật, sự vật, con vật có tên gọi trong đó có
chứa chữ cái mà cơ định cho trẻ làm quen.
Ví dụ: Câu chuyện "Sự tích Hồ Gươm" cơ kể cho trẻ nghe câu chuyện
sau đó đưa tranh "Rùa vàng" ra cho trẻ lên rút chữ cái đã được học. Hôm nay cô
sẽ dạy các con chữ cái V và R.
Và các chữ cái khác cũng vậy tơi thường sử dụng thơ ca hị vè câu đố để
gây hứng thú.
Ví dụ:
Câu đố chứa chữ Â :
Chữ gì một nét cịng trịn.
Bên phải nét thẳng, trên đầu có ơ.
Hoặc chữ V:
Quả gì tên gọi dịu êm
Như dịng sữa mẹ nuôi em thuở nào (quả vú sữa).
8
Thơ ca, hò, vè dễ nhớ, dễ đọc rất gây hứng thú cho trẻ như bài "Rềnh rềnh
ràng ràng", "Vè con cua" hay một số bài thơ cô tự sáng tác.
* Tích hợp mơn âm nhạc
Và cũng như trên một tiết học giáo viên đưa bộ môn âm nhạc vào cũng
khơng thể thiếu bởi nó có tính chất vui nhộn với bộ môn làm quen với chữ cái
tôi thường chọn những bài hát phù hợp với loại tiết và phù hợp với từng chủ
điểm. Ví dụ: Nhóm chữ O, Ơ, Ơ tôi cho trẻ hát và vận động bài "chữ O tròn"
"Chữ O là chữ O tròn như vầng trăng đêm rằm chiếu sáng chữ Ơ là chữ Ơ
cơ dạy chúng em biết được bài khác. Qua những bài hát đó tăng thêm sự chú ý ở
trẻ.
* Tích hợp mơn môi trường xung quanh:
Bộ môn này thường gặp ở mọi tiết và nhất là tiết chữ cái, muốn cho trẻ
làm quen chữ cái một cách hiệu quả phải có tranh ảnh, mơ hình vật thật có chứa
các chữ cái mà cơ định cho trẻ làm quen mà những cái đó đều xuất phát từ mơi
trường xung quanh.
Ví dụ:
Khi dạy một tiết chữ cái H, K.
Tơi cho trẻ tìm hiểu chữ H qua từ "Hoa hồng" trẻ được quan sát bông hoa,
trẻ nói rõ cấu tạo, đặc điểm hương thơm, màu sắc của loại hoa.... làm như thế
tăng thêm về các biểu tượng và sự hứng thú. Hoặc trị chơi thì gắn chữ cái, nếu
trẻ cầm một cái nào đó lên chữ cái đó. Tơi gắn các hoa quả, hoa lá, hay các con
vật hoặc phương tiện giao thông phù hợp chủ điểm, tăng thêm sự tích cực hoạt
động trong trị chơi.
* Tích hợp bộ mơn tạo hình:
Sau khi trẻ đã hoạt động nhiều thì mơn tạo hình rất phù hợp với trạng thái
tĩnh. Tơi cho trẻ màu khoảng trống có chứa các chữ cái gì đó theo u cầu của
cơ hoặc trẻ được cắt ra dán, xé dán các chữ cái.
* Tích hợp bộ mơn làm quen với Tốn:
Bộ mơn này đối với tiết chữ cái thường được đưa vào trò chơi như: "Thi
đội nào nhanh" trẻ thi đua nhau gắn chữ đó đếm số lượng và cùng kiểm tra kết
quả. Đội nào nhiều hơn, nhiều hơn là mấy ? Đối với trẻ mầm non thì học phải đi
đơi với hành kết hợp với cuộc sống, không những trên tiết học mà tôi thường
dùng kiến thức, kỹ năng ở mọi nơi, mọi lúc rèn luyện sự khéo léo của đôi tay.
Đây là việc làm rất cần thiết trong tiết học Làm quen với chữ cái.
4.4.3. Dạy trẻ làm quen với chữ cái ở mọi lúc mọi nơi
- Việc xây dựng môi trường lớp cho trẻ được LQCC mọi lúc mọi nơi như
thế nào để phù hợp với trẻ, thu hút sự quan sát, tìm tịi của trẻ, gây hứng thú cho
trẻ. Đồng thời giúp trẻ nhớ nhanh chữ cái , mà mơi trường đó vẫn phải đạt tính
thẩm mỹ cao là một vấn đề khó.
- Để thực hiện được biện pháp này được tốt, tôi thường xuyên lên mạng
xem các trang về: trang trí lớp mầm non, góc chữ cái, lật lại album ảnh đã sưu
tầm để tham khảo, từ đó tìm ra cách xây dựng mơi trường lớp cho phù hợp, hiệu
quả trong việc cho trẻ “làm quen chữ cái” mọi lúc mọi nơi.
-Tôi thường chọn phương án : cơ và trẻ cùng trang trí, xây dựng mơi trường
lớp. Tơi đánh máy tất cả các típ chữ ở góc, các chữ được trang trí lên các mảng
tường hay bất cứ một biểu bảng nào trong, ngoài lớp đều là mẫu chữ in thường,
9
in hoa mà trẻ được học . Vị trí của chữ khơng q cao với trẻ để trẻ có thể đứng
mà chỉ chữ, học đọc những chữ cái đó. Cụ thể là:
+ Tơi chọn mảng hình cố định để biểu tựơng cho góc chữ cái là hình dễ
nhận ra nội dung góc chơi. Với mảng mở, chi tiết khó để trang trí thì cơ làm, cịn
những mảng hình nhỏ, chi tiết dễ thì trẻ làm.
+ Tơi tạo mơi trường chữ cái trong và ngoài lớp dưới dạng các băng từ, câu
đố
thơ, các bảng chữ cái, thẻ chữ cái, góc chữ cái … ở các vị trí thuận lợi nhất.
Qua đó trẻ làm quen dần với 29 chữ cái và trẻ khơng bị bỡ ngỡ trong các hoạt
động có chủ định .
+ Đặc biệt ở góc học tập, tơi tạo nhiều góc mở cho trẻ được hoạt động với
chữ cái.
- Để củng cố chữ cái đã học ở “góc chữ cái”, tơi gắn “các hình ảnh kèm
theo từ có chữ chứa chữ cái”.
+Ví dụ 1: hình ảnh “cái ca” có từ “cái ca” kèm theo. Hoặc mỗi bài thơ
trong chủ đề, tôi cho trẻ tô màu vào các chữ cái đã học.
+ Ví dụ 2: tơi cho trẻ vẽ tranh vào 1/2 tờ giấy A4 theo sự hướng dẫn của
cô giáo, vẽ theo chủ đề, những hình ảnh có từ giải thích chứa chữ cái, sau đó dán
từ ở dưới, gài vào ơ. Trẻ có nhiệm vụ “tìm và chỉ ra” chữ cái đang học, và chữ
cái đã học. Sau khi hết chủ đề liên quan đến tranh, tôi dập lỗ những tờ tranh,
đóng thành quyển làm đồ dùng cho góc“Thư viện chữ cái”, treo vào các móc
nhỏ gắn lên tường để có thể lấy ra, lấy vào theo chủ đề, hay khi thay đởi chữ
khác. Khi chơi góc này,trẻ sẽ phải “dùng bút gạch chân dưới những chữ cái
trong từ dưới hình ảnh”, chữ cái này trùng với chữ cái in đậm ngồi bìa.
Ví dụ 3: ở góc chơi “Bé nào tinh mắt”cũng vậy , trẻ không những được
học các chữ cái trong từ mà trẻ còn học được cách xếp các từ “từ trái sang phải
,từ trên xuống dưới”, trẻ “tìm và nối chữ”, trẻ “tập viết chữ cái theo mẫu” hoặc
viết những chữ cái theo ý thích rồi lại xố đi .
Trong giờ hoạt động ngồi trời: Cho trẻ đọc thơ ca, hò vè, đọc đồng dao
luyện phát âm cho trẻ.
Ví dụ: Luyện phát âm chữ r tơi cho cháu đọc bài đồng dao “rềnh rềnh
ràng ràng”. Tôi cho trẻ xếp hột hạt, viết chữ bằng phấn..Tìm chữ theo yêu cầu
trên các biểu bảng ngoài sân trường, phát âm chữ cái.
- Mỗi chủ đề tôi lại thay vào mảng chơi mở nhiều hình ảnh khác nhau để
“tránh sự nhàm chán và kích thích sự khám phá ham muốn học hỏi ở trẻ”, kích
thích sự chú ý của trẻ, trẻ thích nhìn, thích xem và có sự thay đởi thường xuyên
theo các chữ dạy, từ đó trẻ hứng thú làm quen với các chữ cái, qua đó trẻ khơng
chỉ LQCC trong giờ học mà còn mọi lúc, mọi nơi.
- Khơng chỉ ở các góc chơi và đồ chơi của trẻ thì tơi mới gắn từ có chứa
các chữ cái, mà ngay cả đồ dùng cá nhân của trẻ như khăn mặt, cốc uống nước,
đĩa đựng sản phẩm tạo hình cũng được dán tên của trẻ.
- Để bước đầu giúp trẻ biết viết, tơi gắn hình ảnh có từ, trẻ có thể viết chữ
cái cịn thiếu trong từ giống từ đã cho, hoặc viết lại từ dưới hình ảnh giúp trẻ
đạt được yêu cầu .
10
- Ngoài ra, bất kể một đồ dùng, đồ vật nào có trong lớp, tơi đều dán các từ
chỉ tên kèm theo.
Ví dụ: Những đồ dùng học tập của trẻ tơi cũng dán từ chỉ tên: bút chì,
kéo, hồ dán,… hay giá đựng vở của trẻ cũng được chia làm nhiều ngăn có dán
từ vào mỗi ngăn như vở thủ công, vở vẽ, vở tập tô.
- Trẻ sẽ hàng ngày lấy sách vở đồ dùng của mình và làm quen với các chữ
cái dán trên đó. Lâu dần thành quen, trẻ cịn có thể bập bẹ đánh vần trên những
từ đó. Điều này khơng những giúp trẻ học chữ cái thơng qua từ mà cũng rèn ở
trẻ tính ngăn nắp, gọn gàng khi cất đồ dùng của mình đúng nơi quy định.
4.4.4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong tiết học:
Việc ứng dụng phần mềm powerPoint vào cho trẻ làm quen chữ cái là 1
nội dung mới, tuy nhiên tôi cũng đã mạnh dạn học hỏi chị em, rút kinh
nghiệm và tạo nhiều giáo án làm quen chữ cái trên phần mềm powerPoint.
Trong năm học này, với những tiết làm quen chữ cái, tôi đều ứng dụng phần
mềm powerPoint để thiết kế giáo án và tổ chức giảng dạy trên đèn chiếu . Đa
số trẻ đã nhận biết và phát âm được những chữ cái đã học. Tuy nhiên, trẻ học
hứng thú hơn vì được tri giác nghe, nhìn được rõ ràng, với hình ảnh đẹp, có
âm thanh, chữ cái chuyển động, trẻ được clik chuột làm cho trẻ học chữ cái
như đang được chơi, trẻ nhận biết và ghi nhớ chữ cái tốt hơn.
Đặc biệt với phần mềm này, tơi đã thiết kế rất nhiều trị chơi, nhanh,
gọn, dễ bảo quản tiết kiệm được thời gian và chi phí mà đem lại hiệu quả giáo
dục cao.
Ngồi ra tơi đã ứng dụng phần mềm powerPoint để hướng dẫn trẻ thực
hiện các bài tập trong vỡ bé tập tô đem lại hiệu quả khá cao, qua tiết học trẻ
tích cực hoạt động, trẻ được quan sát rõ hình ảnh và làm mẫu trên màng hình,
đảm bảo tất cả trẻ đều được quan sát tốt, các nét viết của chữ cái được chuyển
động làm cho trẻ thích thú, mới lạ đa số trẻ đã viết và thực hiện tốt các yêu
cầu .
4.4.5. Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh
Sự kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh trong việc CS- GD trẻ là hết sức
quan trọng và cần thiết. Thấy được điều đó tơi đã giành thời gian trao đởi về tình
hình của trẻ thơng qua giờ đón và trả trẻ hoặc các buổi họp phụ huynh. Lên kế
hoạch thông báo chương trình dạy trẻ ghi rõ nội dung dạy vào bảng treo ngoài
cửa lớp để phụ huynh theo dõi ôn luyện thêm cho con ở nhà. Hai phía cùng cố
gắng phối kết hợp giúp trẻ hứng thú và học tốt hoạt động làm quen với chữ cái.
Hiện nay không chỉ ở thành phố mới có hiện tượng cho con đi học,
luyện viết chữ( học trước chương trình lớp 1) mà ngay cả ở nông thôn đã bắt đầu
xuất hiện. Phụ huynh cho con luyện chữ trước tuổi đến trường với kỳ vọng
chuẩn bị trước vì sợ con khơng theo kịp các bạn khi vào lớp 1. Tuy nhiên kỳ
vọng này của cha mẹ chưa rõ lợi đến đâu mà lại hại cho quá trình phát triển của
trẻ, làm thui chột hứng thú học ở trẻ. Trong giờ học khi cơ giới thiệu chữ cái mới
có trẻ đã khoe “ con biết thừa chữ cái này rồi” , trong giờ học cháu không tập
trung , trêu đùa bạn khác, làm ảnh hưởng đến cả lớp. Với tình hình như vậy tôi
11
đã tuyên truyền với phụ huynh về tác hại của việc dạy trẻ học trước chương trình
lớp 1.
Bên cạnh việc tuyên truyền với phụ huynh không nên cho trẻ đi học
trước chương trình lớp 1, tơi cịn vận động phụ huynh ủng hộ các nguyên phế
liệu, sách báo, tranh ảnh cho các cháu hoạt động, làm đồ dùng đồ chơi. Chẳng
hạn khi học đến chữ cái nào thì có thể trong hoạt động góc hoặc trị chơi trong
hoạt động học tôi cho trẻ cắt chữ cái đang học từ sách báo, lịch cũ. Hoặc đến
chủ đề phương tiện và luật lệ giao thông, tôi cho trẻ làm những chiếc thuyền từ
chai dầu gội đầu, đữ trẻ, xốp và để phân biệt những chiếc thuyền do tự tay trẻ
làm ra, tôi đã gợi ý trẻ làm ký hiệu cho chiếc thuyền bằng những chữ cái khác
nhau. Qua những hoạt động đó tơi thấy trẻ rất thích thú vui sướng vì tự mình đã
tạo ra được sản phẩm, giúp trẻ củng cố lại chữ cái đã học.
Mặt khác tơi cịn trao đởi với phụ huynh mua thêm cho các cháu sách
tranh truyện hay đĩa “ trò chơi với chữ cái”…để dạy cho các cháu ở nhà. Để việc
phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh đạt hiệu quả cao tôi đã dán kế hoạch
hoạt động từng tuần ngoài cửa lớp để phụ huynh tiện theo dõi chương trình
CSGD trẻ. Như vậy khi phụ huynh đến lớp thấy chương trình học của trẻ đang
dạy chữ cái nào thì về nhà phụ huynh sẽ củng cố lại chữ cái đã học ở lớp cho trẻ.
Bằng hình thức đó đa số trẻ lớp tơi đã nhận biết và phát âm được các chữ cái mà
tơi đã dạy theo chương trình
4.5 Chứng minh khả năng áp dụng của sáng kiến (đã được áp dụng, kể cả
áp dụng thử trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật tại cơ sở; khả năng áp dụng cho
những đối tượng, cơ quan, tổ chức khác):
- Sáng kiến này áp dụng trong q trình dạy mơn làm quen chữ cái và được
lồng ghép trong các môn học khác nhằm giúp trẻ khắc sâu kiến thức và không
nhàm chán về các môn học. Qua hoạt động làm quen chữ cái trẻ nhận biết và
phát âm được các chữ cái trong bảng chữ cái.
5- Những thông tin cần được bảo mật: Không có.
6- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả:
Sau khi tiến hành các biện pháp trên . Bản thân tôi thấy các cháu lớp tôi
ngày càng hứng thú say mê học môn làm quen với chữ cái, khả năng nhận
biết và phát âm đúng, chuẩn các chữ cái là khá cao mà còn đọc đúng ,đọc
chuẩn ,viết đúng ,ngồi đúng tư thế.Qua việc thực hiện các biện pháp trong
việc dạy môn “Làm quen chữ cái” tôi đã thuđược kết quả sau:
* Đối với giáo viên:
Giáo viên đã nắm vững phương pháp tổ chức cho trẻ làm quen với chữ
cái
- Đã xây dựng được môi trường cho trẻ làm quen với chữ cái.
- Tham gia dự giờ nhiều tiết dạy của động nghiệp để học hỏi kinh nghiệm
- Vận động phụ huynh ủng hộ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động.
- Thiết kế được nhiều bài dạy cho trẻ làm quen với chữ cái theo CTGD
mầm non mới
12
Đã chủ động phối hợp cùng với nhà trường và cha mẹ, người chăm sóc trẻ
để đưa ra các biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Đối với trẻ
Từ những kinh nghiệm trên khi áp dụng vào tình hình thực tế của lớp tơi
thì tơi thấy trẻ đã hứng thú hơn khi tham gia vào hoạt động làm quen chữ viết.
Những bé nói ngọng hay phát âm khơng chuẩn cũng đã được rèn và phát âm
đúng hơn , khơng cón ngọng nữa. Trẻ nhận biết đúng chữ cái, biết cách tơ chữ
và tơ khơng chườm ra ngồi. Các tiết học khác trở nên nhẹ nhàng, thoải mái và
đạt kết quả tốt hơn.
- 90% Trẻ nhận biết và phân biệt được các chữ cái đã học .Trẻ biết cách tơ
và tơ trùng khít lên các nét chấm mờ.
* Đối với phụ huynh:
Cha mẹ, người chăm sóc trẻ có sự thay đổi suy nghĩ về vấn đề giáo dục
của giáo viên đối với trẻ.
Cha mẹ, người chăm sóc trẻ đã quan tâm đến hoạt động của con tại
trường, yên tâm tin tưởng các cô khi gửi con đến lớp để trẻ được chăm sóc ni dưỡng - giáo dục một cách tốt nhất và phấn khởi khi thấy con em mình
nhận biết và phát âm được các chữ cái để chuẩn bị bước vào lớp một. Đặc biệt
đã làm thay đởi nhận thức của phụ huynh khơng có trường hợp cho cháu nghỉ
học đi học lớp 1 trước tuổi.
7- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể
cả áp dụng thử :
Theo đánh giá của đồng nghiệp thì phương pháp tơi trình bày trên đây đều
có thể áp dụng trong tồn trường bởi chúng đã xây dựng cho trẻ những kỹ năng
và hiểu biết về bộ môn hoạt động làm quen chữ cái.
8- Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng
kiến lần đầu (nếu có):
T
T
Họ và tên
Ngày
Nơi
Chức Trình
tháng năm công tác danh
độ
sinh
(hoặc
chuyê
nơi
n môn
thường
trú)
1
Nguyễn Thị Thu Hà
17/08/198
2
Trường
MN Đại
Minh
GV
ĐHSP
2
Trịnh Thị Thủy
2/10/1986
Trường
GV
ĐHSP
13
Nội
dung
công
việc
hỗ trợ
MN Đại
Minh
3
Lê Thị Năm
10/10/196
5
Trường
MN Đại
Minh
GV
TCSP
4
Nguyễn Thị Phương Thảo
20/07/198
9
Trường
MN Đại
Minh
GV
ĐHSP
5
Hồ Thị Thùy Trâm
26/3/1979
Trường
MN Đại
Minh
GV
ĐHSP
Tôi (chúng tôi) xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực,
đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Xác nhận và đề nghị của
cơ quan, đơn vị tác giả công tác
Đại Minh, ngày 05 tháng 11 năm
2018
Người nộp đơn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Huỳnh Thị Tý Nguyệt
14
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Mẫu 4
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN
(Ban hành theo QĐ số 32 /2015/QĐ-UBND ngày 11 /11/2015 của UBND tỉnh)
Tên sáng kiến: ........................................................................................................
Tác giả sáng kiến: ..................................................................................................
Đơn
vị
công
tác
(của
tác
giả
sáng
kiến) : ...............................................................
Họp
vào
ngày: ........................................................................................................
Họ
và
tên
chuyên
gia
nhận
xét: ..............................................................................
Học vị: ................... Chuyên ngành: ......................................................................
15
Đơn vị công
tác: .....................................................................................................
Địa chỉ: ..................................................................................................................
Số điện thoại cơ quan: ...........................................................................................
Di động: .................................................................................................................
Chức trách trong Tổ thẩm định sáng kiến: ............................................................
NỘI DUNG NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
Đánh giá của
STT
Tiêu chuẩn
Điểm tối đa thành viên tổ
thẩm định
Sáng kiến có tính mới và sáng tạo (điểm tối đa: 30 điểm) (chỉ chọn 01
1
(một) trong 04 (bốn) nội dung bên dưới và cho điểm tương ứng)
Không trùng về nội dung, giải pháp thực
1.1
hiện sáng kiến đã được cơng nhận trước
30
đây, hồn tồn mới;
Sáng kiến, giải pháp có cải tiến so với
1.2
20
trước đây với mức độ khá;
Sáng kiến, giải pháp có cải tiến so với
1.3
10
trước đây với mức độ trung bình;
Khơng có yếu tố mới hoặc sao chép từ các
1.4
0
giải pháp đã có trước đây.
Nhận xét:
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
..
2
Sáng kiến có tính khả thi (điểm tối đa: 30 điểm)
Thực hiện được và phù hợp với chức năng,
2.1
10
nhiệm vụ của tác giả sáng kiến;
Triển khai và áp dụng đạt hiệu quả (chỉ
2.2
chọn 01 (một) trong 04 (bốn) nội dung
bên dưới)
a)
Có khả năng áp dụng trong tồn tỉnh
20
Có khả năng áp dụng trong nhiều ngành,
b)
lĩnh vực công tác và triển khai nhiều địa
15
phương, đơn vị trong tỉnh.
Có khả năng áp dụng trong một số ngành
c)
10
có cùng điều kiện.
Có khả năng áp dụng trong ngành, lĩnh
d)
5
vực công tác.
Nhận xét:
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
16
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....
3
Sáng kiến có tính hiệu quả (điểm tối đa: 40 điểm)
Sáng kiến phải mang lại lợi ích thiết thực
3.1
cho cơ quan, đơn vị nhiều hơn so với khi
10
chưa phát minh sáng kiến;
Hiệu quả mang lại khi triển khai và áp
3.2
dụng (chỉ chọn 01 (một) trong 04 (bốn)
nội dung bên dưới)
a)
Có hiệu quả trong phạm vi tồn tỉnh
30
Có hiệu quả trong phạm vi nhiều ngành,
b)
20
nhiều địa phương, đơn vị
Có hiệu quả trong phạm vi một số ngành
c)
15
có cùng điều kiện
Có hiệu quả trong phạm vi ngành, lĩnh
d)
10
vực công tác.
Nhận xét:
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
......
Tổng cộng
THÀNH VIÊN TỔ THẨM ĐỊNH
HIỆU TRƯỞNG
(Họ, tên và chữ ký)
17