BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI- DU LỊCH
………. ………
TIỂU LUẬN
MƠN HỌC: Kỹ Năng Giao Tiếp
Đề tài: Sự khác biệt trong giao tiếp phương Đông và
phương Tây ( liên hệ với người Việt Nam)
Họ và tên
NGỌC LINH ( Nhóm trưởng).
1.TRỊNH THỊ
SĐT:0913037884
2.NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
3.HUỲNH TRẦN TRỌNG HIẾU
4.NGUYỄN VÕ HỒNG NGÂN
5.TRẦN HỒNG NGỌC
6.NGUYỄN NGỌC KIỀU TRINH
7.PHẠM THỊ THÚY KIỀU
8.TĂNG BÍCH TRÂN
Mã số sinh viên
17097891
17081541
17097711
17015101
17017531
17085561
17015541
17032731
Bảng phân công nhiệm vụ và tự đánh giá theo nhóm:
Stt
Họ và tên
MSSV
Nội dung phân
cơng
Thời gian
thực hiện
Kết
quả
thực
hiện
Hồn
thành
Điểm
THANG
ĐIỂM
10
10
1
Trịnh Thị Ngọc Linh 17097891 Chương 1: Mở đầu
(nhóm trưởng)
7/3-12/3
2
Nguyễn Ngọc Kiều
Trinh
17085561 Chương 1: Mở đầu
7/3-12/3
Hoàn
thành
10
3
Nguyễn Võ Hồng
Ngân
17015101
Chương 2: Nội
dung
12/3-18/3
Hoàn
thành
10
4
Trần Hồng Ngọc
17017531
Chương 2: Nội
dung
12/3-18/3
Hoàn
thành
10
5
Tăng Bích Trân
17032731
Chương 2: Nội
dung
12/3-18/3
Hồn
thành
10
6
Huỳnh Trần Trọng
Hiếu
17097711
Chương 2: Nội
dung
12/3-18/3
Hồn
thành
10
7
Phạm Thị Thúy kiều 17015541
Chương 3: Kết
luận và đề xuất
18/3-21/3
Hoàn
thành
10
8
Nguyễn Thị Phương
Thảo
Tổng hợp kết quả
thành file word
21/3-24/3
Hoàn
thành
10
17081541
Contents
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU.....................................................................................................
1.1
Khái quát chung:...................................................................................................
1.2 Mục tiêu của bài tiểu luận.........................................................................................
1.3 Phương pháp tiến hành.............................................................................................
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG..................................................................................................
2.1 Văn hóa giao tiếp......................................................................................................
2.1.1 Khái niệm:..........................................................................................................
2.2 Văn hóa giao tiếp phương Đơng..............................................................................
2.3Văn hóa giao tiếp phương Tây...................................................................................
2.4 Sự khác nhau về văn hóa phương Tây với phương Đơng.........................................
2.5 Liên hệ Việt Nam......................................................................................................
2.5.1 Ảnh hưởng phươngTây đến Việt Nam...............................................................
2.5.2Ảnh hưởng phương Đông với Việt Nam...........................................................
2.6 Đề xuất và bài học rút ra từ giao tiếp phương dông và phương tây.........................
2.6.1 Các điểm cần tránh trong giao tiếp giữa hai nền văn hóa:................................
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.......................................................................
3.1Tóm tắt các kết quả nghiên cứu:..............................................................................
3.2 Đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam.....................................................
3.2.1 Xét về thái độ đối với việc giao tiếp.................................................................
3.2.2 Đặc điểm trọng tình nghĩa ghi dấu trong văn hoá giao tiếp của người Việt
...................................................................................................................................
3.2.3 Với đối tượng giao tiếp.....................................................................................
3.2.4 Tính cộng đồng trong văn hố giao tiếp của người Việt...................................
3.2.5 Về cách thức giao tiếp......................................................................................
3.2.6 Người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú..................................
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Khái quát chung:
Giao tiếp luôn là một kỹ năng cần có cho sự thành cơng trong cuộc sống. Kỹ
năng giao tiếp tốt làm vững chắc mối quan hệ tương quan giữa con người với nhau
đặc biệt là giữa những con người ở các quốc gia khác nhau thì kỹ năng giao tiếp
càng đáng được lưu tâm bởi thế giới khơng chỉ có một nền văn hóa. Đăc biệt trong
xã hội tồn cầu hóa và hội nhập như hiện nay, con người từ khắp các nước có cơ hội
giao lưu, tiếp xúc và hợp tác làm việc với nhau nhiều hơn. Từ đó sự giao lưu giữa
hai nền văn hóa phương Đơng - phương Tây ngày càng phổ biến hơn, địi hỏi con
người khơng ngừng tiếp thu, cải tiến nền văn hóa sao cho phù hợp với tình hình phát
triển hiện nay nhưng khơng qn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đơi khi, lại xảy ra
tình huống dở khóc, dở cười; khơng như mong muốn chỉ vì những ảnh hưởng đến
kết quả hoạt động của tổ chức. Vì vậy, nhóm em xin phân tích đề tài: “ Sự khác biệt
trong giao tiếp giữa phương Đông - văn hóa phương Tây”. Qua đó rút ra được
những ảnh hưởng của các điểm khác biệt này đến hành vi của con người khi hoạt
động trong một tổ chức, đề từ đó rút ra được những kinh nghiệm trong quy tắc ứng
xử, giao tiếp trong văn hóa tổ chức.
1.2 Mục tiêu của bài tiểu luận
- Giải thích được các khái niệm văn hóa phương Đơng và phương tây.
- Làm rõ đặc điểm văn hóa giao tiếp giữa người phương Đông và phương Tây (Liên
hệ với Việt Nam).
- Đánh giá được sự khác biệt trong giao tiếp của người phương Đông và phương
Tây.
- Ảnh hưởng của sự khác biệt đến q trình giao tiếp.
- Làm rõ được tại sao có sự khác biệt đó.
1
1.3 Phương pháp tiến hành
- Nêu cơ sở lý luận của đề tài
- Tìm hiểu khái niệm
- Ảnh hưởng đến Việt Nam
-Ảnh hưởng tiêu cực và tích cực đến quá trình giao tiếp
- Cách khắc phục sự khác biệt đó trong giao tiếp
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
2.1 Văn hóa giao tiếp
2.1.1 Khái niệm:
Văn hóa giao tiếp là một phần khơng thể thiếu trong cuộc sống của con
người vì nó chính là những mắc xích gắn kết các mối quan hệ giữa con người với
con người. Phong cách sống của mỗi con người sẽ khác nhau và điều đó thể hiện
qua văn hóa giao tiếp ứng xử của chính những con người đó, bởi vì giao tiếplà một
nghệ thuật. Và trong thời đại của thế giới phẳng.
Ngày nay, khi khoảng cách về địa lý đã khơng thể ngăn nổi con người xích
lại gần nhau hơn thì giao tiếp là một cầu nối rất quan trọng để các quốc gia, các nền
văn hóa có thể hội nhập cùng nhau. Xuất phát từ ý nghĩa của văn hóa giao tiếp đó
mà tơi muốn được tìm hiểu về những nét văn hóa giao tiếp của ngườiViệt Nam để
từ đó phát huy những giá trị bản sắc dân tộc, thay đổi một số nét không phù hợp
với thời đại và cùng hịa nhập với văn hóa giao tiếp của nhân loại.
2.2 Văn hóa giao tiếp phương Đơng
Văn hóa Phương Đơng dựa trên cơ sở quan điểm “đạo khổng”, “Phật giáo”
coi trọng những gắn kết truyền thống , cảm xúc con người và duy trì những mối
quan hệ dài lâu trong cộng đồng, như những giá trị về gia đình, sự khiêm nhường,
tơn trọng lẽ phải và kính trọng những người lớn tuổi , sự hài hịa về tinh thần, ít ganh
đua , tinh thần hợp tác. Ngồi ra, họ quan niệm bản chất cơng việc là để phục vụ cho
2
“thượng đế” , khơng nhằm mục đích về kinh tế cá nhân mà đẻ tăng cường những giá
trị về tinh thần. trong môi trường làm việc, đề cao sự đồng cảm, cảm xúc hơn là
năng suất công việc. Đối với họ tầm quan trọng của tổ chức là để đáp ứng nhu cầu
xã hội và bày tỏ sự tôn trọng giữa các cá nhân với nhau.
Văn hóa Phương Đơng dựa trên yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc
về con người và gắn với cộng đồng. Điểm mạnh của nó là sự phát triển đầy đủ các
khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng, chăm lo về tâm hồn, cảm xúc,
tinh thần và sự tự do của mỗi cá nhân, tuy nhiên điểm yếu chính là thiếu đi tính kỉ
luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinh nghiệm chủ quan.
2.3Văn hóa giao tiếp phương Tây
Văn hóa phương tây dựa trên nền tảng các giá trị “Châu Âu cổ đại” thể hiện ở
các mặt của đời sống bao gồm các quy tắc xã hội, tục lệ truyền thống, niềm tin tơn
giáo, và hệ thống chính trị. Khái niệm truyên thống về văn hóa Châu u gắn liền với
các đé chế Châu Âu cổ đại với những “ tiến bô công nghệ và kinh tế vượt bật” và
hàng loạt những “cuộc xung đột quốc tế đẫm máu” ở thế kỉ XX và trước đó.
Phần nào đúng khi nói rằng, văn hóa Phương Tây có xu thế truyền bá và phổ
biến văn hóa theo kiểu định hướng nhà nước. văn hóa phương Tây dựa trên động lực
phát triển của xã hội ChâuÂu là kinh tế, định hướng thị trường, và cạnh tranh khốc
liệt. con người chỉ được đối xử và coi như những “ cổ máy vui vẻ” hay “ đơn vị
kinh tế” để đáp ứng những mục đích kinh tế và chính trị. Tuy vậy, nên văn hóa
Phương Tây vẫn chưa chú ý đến nhu cầu khác bên trong con người, cụ thể đó là
những nhu cầu về suy nghĩ, cảm xúc và tâm hồn của họ.
2.4 Sự khác nhau về văn hóa phương Tây với phương Đông
- Chào hỏi
Người Phương Tây thường bắt tay, ôm hoặc hôn má.
Người Phương Đông như ở Việt Nam khi gặp cơ, dì, chú, bác, cụ già, hay
những người lớn tuổi hơn thì chúng ta thường lên tiếng chào hỏi trước để thể hiện sự
3
lễ phép, và theo truyền thống thì thường hơi cúi người khi chào. Ở những nước
phương Đông khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, vv… họ cũng cúi người khi chào.
Người phương Đông quan niệm rằng khi chào hỏi càng cúi người thấp có nghĩa là
sự tơn trọng dành cho người đối diện càng nhiều.
- Làm quen
Người phương Tây: Nam, nữ thường rất bạo dạn và tư duy thống.
Người phương Đơng: Nữ - e thẹn và ngại ngùng, nam - bối rối và lúng túng.
- Cách thể hiện ý kiến cá nhân
Khác biệt giữa văn hóa phương Tây và Việt Nam (hay phương Đơng nói
chung).
Người Phương Tây quan trọng sự thẳng thắn.
Người Việt Nam đề cao sự khéo léo, mềm mỏng.
- Cách đặt vấn đề và cách giải quyết vấn đề
Khác biệt giữa văn hóa phương Tây và Việt Nam (hay phương Đơng nói
chung)
Người Phương Tây ln đi thẳng vào vấn đề.
Người Phương Đơng thường vịng vo, né tránh.
Người phương Tây thường coi trọng kết quả sau cùng, vì vậy, họ sẵn sàng
đương đầu với những vấn đề cản trở, cốt sao đạt được mục tiêu nhanh nhất.
Người Phương Đơng thì quan trọng q trình thực hiện. Vốn khơng thích đối
đầu, xung đột, nên người phương Đơng có thể chấp nhận đi vịng một chút, tuy mất
thời gian hơn nhưng đơi khi vẫn đạt được kết quả sau cùng và không tổn hao quá
nhiều sức lực.
- Phong cách sống
4
Người phương Tây đề cao cái Tôi, năng lực cá nhân, cá tính riêng… vì vậy
phong cách sống của họ thiên về lối sống tự lập, cá nhân.
Người phương Đông trân trọng cái Ta, con người phải ln biết hịa nhập với
môi trường xung quanh để tạo nên sự hài hịa. Người Việt mình ln sống có cộng
đồng, u thương và đùm bọc lẫn nhau vì thế phong cách sống của người Việt tình
cảm hơn rất nhiều so với ở phương Tây.
- Các mối quan hệ và sự kết nối trong xã hội
Các mối quan hệ trong thế giới phương Tây thì rất là rõ ràng chứ khơng phức
tạp và mang nặng tính “dắt dây” như trong xã hội phương Đơng.
Ở phương Đơng thì cái Tơi thường nhỏ bé, dễ bị khỏa lấp và việc quên đi cái
Tôi được cho là một đức tính đáng khen ngợi của người Việt Nam hay người
phương Đơng nói chung.
- Cách nói chuyện:
Phương Tây: Người Mỹ khi nói chuyện thì thường khơng ngại ca ngợi bản
thân và thường nâng mình lên và điều đó thể hiện sự tự tin của họ.
Phương Đơng: khi nói chuyện thường khiêm tốn, hạ mình xuống một chút để
thể hiện sự khiêm nhường.
Người Việt thường chú trọng sự nhường nhịn, kính trên nhường dưới. Trong
khi người Mỹ thì chú trọng sự cạnh tranh. Vì vậy, trong một tập thể, người Việt
thường hay bị người Mỹ lấn át.
Người Mỹ có tinh thần trọng luật rất cao, đôi khi trở nên máy móc. Cứ đúng
luật là được, cịn có tình nghĩa hay khơng thì khơng quan trọng. Người Việt thì
thường chú tâm vào các khuôn mẫu đạo đức chung hơn là luật, để sao cho hợp tình
hợp lý.
5
Người Mỹ thích đặt câu hỏi, vì họ quan niệm rằng trong cuộc đối thoại nếu
như người đối diện không đặt ra những câu hỏi thì có nghĩa là họ không quan tâm
đến vấn đề mà người kia đề cập hay khơng quan tâm đến họ. Cịn người Việt thì lại
rất ngại hỏi.
-Cấp trên(Sếp)
Phương Tây: sếp cũng là người đi làm kiếm sống như nhân viên và bao người
khác, chỉ có điều cấp bậc, tầm nhìn và lương bổng của sếp thì cao hơn một chút.
Phương Đơng: sếp được coi là “người khổng lồ”.
- Vấn đề đúng giờ
Phương Tây: Đúng giờ là yếu tố rất được tôn trọng trong các cuộc hẹn ở
phương Tây. Tính chính xác và đúng giờ đối với người phương Tây là cực kỳ quan
trọng. Người ta không cần thiết phải đến sớm để thể hiện sự tơn trọng nhưng họ sẽ
khơng đến muộn, vì họ quan niệm đó là hành động bất lịch sự.
Phương Đơng: Có thể xê dịch giờ hẹn đơi chút và đơi khi điều đó khơng trở
thành vấn đề lớn. Vì thế mà ở Việt Nam mới có danh từ “giờ cao su”.
Ví dụ: ở Mỹ khi bạn mua vé xem phim, vé kịch hoặc các hoạt động giải trí có giờ
giấc quy định cụ thể như các tour tham quan … bạn phải đến sớm 5 phút hoặc đến
đúng giờ. Nếu bạn đến trễ thì sẽ gây khó chịu cho những người xung quanh. Và đặc
biệt, nhân viên gác cửa hoặc nhân viên phục vụ có quyền từ chối phục vụ hoặc
khơng cho bạn vào.
- Văn hóa xếp hàng
Phương Tây: Chờ tính tiền ở siêu thị, vào rạp chiếu phim, cơ quan hành
chính, các văn phịng của trường đại học, kể cả ra chợ trời... chỗ nào họ cũng xếp
hàng, xếp hàng dài trên đường phố, xếp hàng khi lấy thức ăn ... Chỉ hai người cũng
xếp hàng và không chen lấn, xô đẩy.
6
Phương Đơng: Thực tế văn hóa xếp hàng đã dần hình thành tại nhiều nước phương
Đơng, đặc biệt tại các thành phố lớn. Tuy vậy, nhìn chung, nó vẫn chưa ăn sâu vào
nếp sống của người phương Đông ở mọi lúc mọi nơi. Chúng ta thấy là ở nhiều nơi
mọi người vẫn thường xếp hàng ngang, rất ồn ào, và cịn xơ đẩy và chen lấn nữa.
Văn hóa xếp hàng ở Mỹ thể hiện rõ nhất trong mùa bán hàng đại hạ giá. Để
mua được món hàng ưng ý với giá “trong mơ”, mọi người phải thức dậy từ 5 giờ
sáng, xếp hàng rồng rắn lên mây trước cửa các shop, siêu thị chờ đến giờ mở cửa để
mua được món hàng “độc” mà mình u thích, như trường hợp các bạn trẻ xếp hàng
mua máy điện tử PlayStation 3, điện thoại I-Phone, Ipad …
- Văn hóa xin lỗi
Phương Tây: Ở phương Tây thì việc nói “xin lỗi” là chuyện hết sức bình
thường. Chẳng hạn khi họ vừa bước vào cửa một nhà hàng nào đó hay là trên xe
buýt, vơ tình chạm phải một người khác thì chưa cần biết lỗi thuộc về ai, có khi cả
hai người đều cùng lên tiếng xin lỗi. Họ quan niệm xin lỗi là hành vi nhận lỗi về bản
thân mình để tiến tới hịa giải, vui vẻ và khơng chạm tự ái người ta. Tại Mỹ, nhiều
chính trị gia phạm lỗi gì đó, cứ biện minh mãi, cuối cùng phải xin lỗi, khi đó mới
được dân chúng bỏ qua. Xin lỗi là hành vi can đảm.
Phương Đơng: Đơi khi vẫn cịn rất khó khăn trong việc nói từ “xin lỗi”.
- Văn hóa cảm ơn
Phương Tây: “Cám ơn” là câu nói rất phổ thông của xã hội Phương Tây. Khi
vợ tặng chồng một món quà, chồng nói cám ơn. Khi con cái biếu quà cha mẹ, cha
mẹ nói cám ơn. Vào nhà hàng, bồi bàn đưa đồ ăn ra, khách nói cám ơn. Vào siêu thị
mua hàng, khách trả tiền xong, người tính tiền nói cám ơn. Lên thang máy hay trên
xe buýt, khi người này đứng nhích qua 1 bên cho người kia đứng, người kia nói cám
ơn. Họ quan niệm rằng chỗ nào, lúc nào cũng cần lời nói “cám ơn” để thể hiện sự
hài hòa và vui vẻ.
7
Phương Đơng: Vẫn cịn tiết kiệm lời nói “cám ơn”. Vào các siêu thị của
người Việt ở Mỹ (thực ra là của người Tàu) cũng ít nghe thấy tiếng “cám ơn”.
Không phải người Việt hay người Phương Đông không biết ơn người khác, mà là
văn hóa Phương Đơng thường ít bộc lộ ra bên ngồi mà dấu kín ở bên trong. Những
người ngoại quốc sang sinh sống và làm việc ở Việt Nam lâu năm thì cũng hiểu và
thơng cảm với người Việt mình vì họ hiểu rằng đó là tính cách của người Việt.
- Văn hóa đổ lỗi
Phương Tây: Tinh thần trách nhiệm của họ rất cao. Khi họ lãnh đạo một đất
nước, cộng đồng, cơ quan, đoàn thể…thành cơng thì họ hưởng, thất bại họ phải chịu
trách nhiệm chứ không thể đổ lỗi cho ai hết.
Phương Đông: Thường hay biện minh, đổ thừa tại Trời, tại số, tại người này,
người kia và cả trăm thứ khác. Chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc tự nhận
trách nhiệm về bản thân.
- Cách thể hiện cảm xúc của người phương Tây và phương Đông cũng khác nhau.
Người phương Tây: vui buồn đều thể hiện khá rõ ràng.
Người phương Đông: thường che giấu cảm xúc thật của mình, có thể “trong
héo ngồi tươi”.
- Cách ứng xử nơi cơng cộng
Phương Tây: Người phương Tây rất ngại gây ồn ào, nói chuyện quá to ở
những nơi công cộng như nhà hàng, khách sạn, tiệm cà phê, cửa hàng, siêu thị…
nhất là ở những nơi tham quan mang tính trang nghiêm như bảo tàng, nhà lưu niệm,
đài tưởng niệm…
Vì thế ở nhà hàng, qn ăn thì họ thường ăn nhẹ nói khẽ, nói sao chỉ đủ để
những người đối diện nghe thấy mà thôi. Ngay cả trong việc gọi nhân viên phục vụ
cũng được thể hiện bằng ánh mắt hay động tác tay một cách rất khéo léo và tinh tế.
8
Phương Đông: chúng ta thường rất là vô tư trong vấn đề này, có thể gọi nhau
í ới nơi đơng người hay nói chuyện ồn ào.
Tiệc tùng: Tại những bữa tiệc trang trọng, người phương Tây thích đứng
thành nhóm nhỏ, rủ rỉ trị chuyện. Người Việt mình thì thích ngồi thành những nhóm
lớn, trị chuyện ồn ào, và đó được coi là biểu hiện của sự hào hứng, vui vẻ. Vì thế
mà ở Việt Nam tiệc nào càng ồn có nghĩa là tiệc đó tổ chức thành cơng.
- Vai trị vợ chồng trong gia đình
Ở Phương Tây sự bình đẳng thể hiện khá rõ nét. Người chồng và người vợ
đều có trách nhiệm đối với gia đình như nhau. Đàn ông thường san sẻ với phụ nữ
công việc nhà và việc ni dạy con cái. Ở Mỹ thì dù có là tổng thống, quan chức cấp
cao hay là ai đi chăng nữa, thì khi về nhà họ vẫn vào bếp và chia sẻ công việc nhà
với vợ.
Ở Việt Nam vai trò của người chồng quan trọng hơn, người chồng đi làm
kiếm tiền là chủ yếu. Người vợ dù có đi làm hay khơng đi chăng nữa thì hầu như
cơng việc gia đình thường được giao nghiễm nhiên cho phụ nữ.
- Trẻ em trong gia đình
Phương Tây: Trẻ em khơng được cả gia đình chăm lo, ưu ái như trẻ em ở
Việt Nam. Trẻ em phương Tây có vị trí ngang bằng như những thành viên khác
trong gia đình, có quyền lợi và nghĩa vụ riêng. Trẻ em ở phương Tây thường được
dạy cách tự lập từ khi còn rất nhỏ, được khuyến khích đi làm thêm ngay trong lúc
cịn đi học để có tiền tiêu xài riêng. Khi trẻ em tới tuổi trưởng thành, cha mẹ hết
trách nhiệm. Ở Mỹ thì trẻ em đến 16 tuổi là gia đình cho ra ở riêng, cho một số tiền
nhất định, rồi muốn làm gì thì làm, muốn sống sao thì sống, phải tự bươn trải chứ
khơng được dựa dẫm vào gia đình.
Phương Đông: Trẻ em được bao bọc và che chở bởi rất nhiều người thân
trong gia đình, được chiều chuộng và yêu thương hết mực. Ở Việt Nam, trẻ em
9
thường được coi là trung tâm thú vị của cả nhà và các thành viên sẽ xoay quanh
“tâm điểm” này.
- Cuộc sống của người già
Phương Tây: Dạo chơi công viên ở phương Tây, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh các
cụ già dắt thú cưng đi dạo.
Phương Đơng: Ơng bà thì thường sống quây quần bên con cháu, rất tình cảm.
Ở Việt Nam thì bạn sẽ thường bắt gặp hình ảnh những cụ già dắt cháu đi chơi.
Vì thế mà ở phương Tây khơng có chuyện cúng giỗ ơng bà, cha mẹ. Vì họ
quan niệm là người đã mất thì dù có làm gì đi chăng nữa cũng khơng cịn ý nghĩa gì
cả.
Người Việt thường có truyền thống uống nước nhớ nguồn, nên thường cúng
giỗ ông bà, cha mẹ để nhớ lại cội nguồn, và cũng là để anh chị em trong họ hàng có
dịp qy quần, ơn lại những kỷ niệm xưa cũ rất thân thương đã qua. Đối với người
Việt Nam, gia đình mà thiếu thốn, nghèo quá mà khơng làm giỗ cha mẹ mình, ngày
30 Tết khơng nhang khói rước ơng bà về là nỗi bất hạnh lớn. Thờ cúng tổ tiên là văn
hóa truyền thống rất đáng trân trọng của Việt Nam.
- Các bữa ăn trong ngày
Phương Tây: thường ăn sáng vội vàng, ăn tối qua loa, thường ăn đồ ăn nhanh,
vì thế nên bữa trưa- bữa ăn thư thái nhất trong ngày, họ có thể mời bạn bè ra tiệm
dùng bữa.
Phương Đông: đề cao tầm quan trọng của cả 3 bữa ăn trong ngày, thích sự
nóng sốt. Ăn uống qua loa theo kiểu “cơm đường cháo chợ” là điều khơng người
Việt nào thích cả. Vì thế mà ở Việt Nam “bữa cơm gia đình” là rất quan trọng. Đó
là dịp để các thành viên trong gia đình có thể qy quần bên nhau sau khi trở về nhà
từ cơ quan, nơi làm việc hay trường học. Đó thật sự là những giây phút rất là ấm
cúng.
10
- Đường phố ngày cuối tuần
Những ngày cuối tuần, đường phố phương Tây thường vắng vẻ, họ không đổ
ra đường mà thường có hai lựa chọn: một là ở nhà ngủ bù cho cả tuần lao động vất
vả, hai là về miền q vui chơi, hít thở khơng khí trong lành.
Ở phương Đông, đặc biệt tại các thành phố lớn, người dân thường đổ ra
đường, tới các khu vui chơi và trung tâm mua sắm để giải trí.
- Phương tiện di chuyển
Trước đây, khi người phương Tây coi ô tô là phương tiện di chuyển hiệu quả
nhất, người phương Đông còn đi xe đạp. Giờ đây, người phương Tây lại coi xe đạp
là phương tiện di chuyển “lành mạnh” nhất vì nó vừa giúp rèn luyện sức khỏe và
vừa có thể bảo vệ mơi trường, trong khi đó, người phương Đơng đã chuyển sang đi
ơ tơ (nếu có điều kiện)
- Vẻ đẹp lý tưởng
Người phương Tây thích da nâu.
Người phương Đơng thích da trắng. Vì thế mà ở Việt Nam vào mùa hè, phụ
nữ khi ra đường thường trang bị cho mình áo chống nắng, kem chống năng, kính
râm, khẩu trang...
- Đông Tây trong mắt nhau
Trong mắt người phương Tây, người phương Đơng đặc trưng với nón lá,
thích uống trà và ăn cơm. Trong khi đó người phương Đơng ấn tượng với người
phương Tây bởi mũ nồi cao, xúc xích và bia.
2.5 Liên hệ Việt Nam
2.5.1 Ảnh hưởng phương Tây đến Việt Nam
Việt Nam, tuy có sự đặc thù về thể chế chính trị, giúp chúng ta hạn chế bớt
được những tác động tiêu cực của nền kinh tế tư bản, nhưng chính bản sắc truyền
thống của văn hóa Việt Nam cũng đang bị những biến thái do toàn cầu hóa từ văn
hóa phương Tây đưa tới những ảnh hưởng rất xấu. Vốn theo truyển thống văn hóa,
11
tâm linh lâu đời của người Việt thì hạnh phúc được đặt nền tảng trên những giá trị
tinh thần nhiều hơn là trên những giá trị vật chất. Vậy mà những giá trị tinh thần ấy,
như đạo lý, nhân nghĩa, đạo làm người theo quan niệm truyền thống Á Đông, thì
đang bị xói mịn trầm trọng bởi thời buổi “kinh tế thị trường”, nhất là qua lối sống
của lớp dân thành thị mới giàu lên nhờ “mở cửa”, “kinh tế thị trường” và một số khá
lớn thanh niên nam nữ. Vào lúc đã thóat khỏi gánh nặng học hành, thi cử, các bạn
trẻ lại chỉ biết đổ xô vào những chỗ làm có thu nhập cao, tức tìm kiếm thành đạt.
Làm ra tiền thì tiếp tục “năng động” trong tiêu xài, hưởng thụ vật chất. Có thể là đã
phải “cày” miệt mài kiếm tiền, giàu lên, thì các bạn xứng đáng xài bộ quần áo hàng
hiệu, cái điện thoại di động tối tân nhất hay cái xe gắn máy “mốt” nhất – tất cả là
dành cho sinh hoạt về mặt vật chất, nhưng các bạn trẻ lại đang bị nghèo đi rất nhiều
về mặt tinh thần, cảm xúc. Báo chí trong nước thường đưa tin về tình trạng vơ cảm,
dửng dưng của các bạn trẻ trước những tình cảnh khốn khó, cần giúp đỡ giữa đường
của người già, em bé, phụ nữ mang thai. Cả phép lịch sự tối thiểu như tiếng “cám
ơn” cũng thiếu sót đối với người lớn tuổi hay khách nước ngoài. Tuổi trẻ ngày nay
khác tuổi trẻ ngày xưa nhiều quá! Có một chuyện đáng suy nghĩ là trong mùa Giáng
sinh vừa qua, dù ai nấy rất bận rộn nhưng nơi một số người lớn tuổi (rất ít bạn trẻ),
có thể ghi nhận được một hình ảnh văn hóa khá cổ điển nhưng đẹp và thấm đẩm tình
cảm tương thơng giữa mọi người. Đó là gởi thiệp chúc Noel và năm mới. Có tốn
cơng, tốn tiền gì lắm đâu khi mình ra hiệu sách hay lề đường chọn một tấm thiệp
đẹp, rồi suy nghĩ lời chúc riêng cho từng đối tượng và nắn nót ghi ra bằng chính nét
chữ của mình, rồi gởi bưu điện hay trao tận tay người thân, bạn bè, thậm chí gởi cho
thầy giáo cũ, ông xếp cũ đã về hưu của mình? Cách chúc vui vẻ, hạnh phúc gì đó
cho một người bằng thiệp thì có tốn một ít thời gian nhưng như thế mới đủ chứng tỏ
tình cảm thương yêu chân thực hay thành ý của người gởi, cũng lòng tôn trọng đối
với người nhận. Như vậy mà nhiều bạn trẻ, chỉ cần 2 -3 phút trên máy vi tính, gõ lời
chúc ngắn, nhanh, gọn – nhanh gọn đến mức lạnh lùng – đơi khi có chịu khó kèm
theo ít tấm ảnh Noel có sẵn trên mạng, rồi gởi đi bằng một cái liste danh sách thật
12
nhiều người, ở trong nước hay ở các nước ngoài. Chắc đây là kiểu gởi “đa quốc
gia”, “tồn cầu hóa”?
u cuồng, sống vội, sống thử…, cũng là sự nhanh, gọn thảm hại của nhiều
bạn trẻ trong lãnh vực tình yêu. Lao vào yêu nhau mà không cần nghĩ đến trách
nhiệm và tương lai. Có thống kê rằng: .“Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,4 triệu ca
nạo phá thai, trong đó 500 ngàn ca ở tuổi vị thành niên, 25% số ca chưa lập gia-đình
và 20% ca nạo phá thai khi cịn ở tuổi vị thành niên.”.
Nhìn chung, trong q trình tồn cầu hóa, văn hóa, tư duy, cung cách làm
ăn… của phương Tây cũng đem lại những lợi ích nhất định cho Việt Nam ta, như về
các mặt kinh tế, thu nhập quốc dân, mức sống, tiện nghi vật chất.v.v.., nhưng đồng
một trật lại gây những tổn hại đáng báo động về mặt tinh thần, đạo lý và các giá trị
truyển thống. Văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam đang thật sự bị xâm hại, đến nỗi
rất bức bối nên người ta đang hô hào thực hiện nếp sống văn minh, cách sống “có
văn hóa”. Trước nguy cơ có thật này, cần có ngay những giải pháp thích hợp để
chỉnh đốn lại những nền nếp truyển thống, đồng thời tìm cách phát huy cái hay, cái
đẹp, cái độc đáo của bản sắc Việt Nam trên đường hội nhập vào kho tàng văn hóa
tồn cầu
2.5.2Ảnh hưởng phương Đơng với Việt Nam
Bây giờ bàn đến ảnh hưởng của văn hoá phương Đơng trong nếp sống người
Việt. Có thể chia sẻ với quan điểm của cố Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng khi ông
cho rằng “Việt Nam vừa thuộc context Đông Nam á, vừa thuộc context Đông á”.
Đất nước ta nằm đúng trong khu vực này cả về mặt địa lý lẫn về mặt khơng gian văn
hố cho nên ảnh hưởng văn hố của Đơng á và Đơng Nam á đến Việt Nam là rất
lớn, được thẩm thấu và thấm đậm trong nếp sống của người Việt chúng ta, tức trong
các cách thức và quy ước đã hoàn toàn quen thuộc đối với người Việt Nam, từ sản
xuất, sinh hoạt đến tổ chức đời sống xã hội. Là cư dân của vùng văn minh lúa nước
nên môi trường nước đã tác động mạnh và hình thành các dạng thức văn hố sơng
nước trong cư dân Việt Nam, tạo nên tính cách can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ
13
thích ứng và dễ xử lý tình huống. Tính cộng đồng cố kết (điển hình là làng Việt
Nam) được nhấn mạnh trong q trình lao động sản xuất nơng nghiệp trồng lúa
nước từ bao đời nay. Trọng kinh nghiệm, tuổi tác là nét đặc trưng của văn minh lúa
nước và văn hố phương Đơng cũng được phản chiếu trong các giá trị đạo đức
truyền thống của con người Việt Nam.
Chịu ảnh hưởng mơ hình Nho giáo của Trung Hoa, hình thức tổ chức nhà
nước trung ương tập quyền gần như là xu hướng chủ đạo trong lịch sử Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng sự cố kết của cộng đồng và sự đề cao chính
quyền trung ương tập quyền như vậy cũng làm cho tính chất tư hữu, cá thể, cá nhân
kém phát triển hơn so với các khu vực khác.
Bên cạnh đó, cũng do ảnh hưởng của Nho giáo nên quy phạm đạo đức chuẩn
mực được cho là sự tôn trọng khuôn phép, tôn ti trật tự, lễ độ, đề cao thi cử. Nhìn
chung, Nho giáo ảnh hưởng mạnh và chi phối cách tổ chức nhà nước, tổ chức xã
hội, giáo dục thi cử ở Việt Nam cho nên cũng ảnh hưởng và chi phối cả chính trị,
học thuật, tác động đến luân lý, đạo đức xã hội. Chẳng hạn, chế độ gia tộc ở Việt
Nam mang đậm nét của Nho giáo Trung Hoa. Gia đình Việt Nam, nhất là ở miền
Bắc, có truyền thống duy trì gia đình bằng sự kế thừa dịng họ thơng qua người con
trai trưởng. Con trai trưởng được kế thừa gia phả, quyền kế tự và thờ cúng. Trước
đây, quyền được kế tự, được thờ cúng tổ tiên được coi trọng hơn cả tài sản bởi ý
nghĩa thiêng liêng của nó là sợi dây kết nối giữa tổ tiên và con cháu. Có thể nói, thờ
cúng tổ tiên vừa là tín ngưỡng, đạo lý vừa là điểm tựa tinh thần, đáp ứng nhu cầu
tâm lý của người Việt Nam.
Nếp sống của người Việt còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo. Phật
giáo ở một mức độ nhất định cũng đã tạo nên không gian cho nghệ thuật ở Việt
Nam. Những ngôi chùa cùng với nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật hội hoạ được thể
hiện tại đó khiến cho chùa chiềng trở thành nơi vãng cảnh của du khách. Nhiều
người Việt đi lễ chùa khơng phải vì họ là phật tử mà đơn giản vì người ta tìm thấy ở
đó một sự thanh thản, một sự vỗ về và yên ủi, một sự động viên tinh thần. ảnh
14
hưởng của Phật giáo còn in dấu trong nhiều lễ hội nông nghiệp như lễ xuống đồng,
hội mùa, hội đua thuyền...
Chịu ảnh hưởng của Đạo giáo cho đến nay vẫn có rất nhiều người Việt Nam
chú trọng đến lễ bái, cầu xin tại các phủ, các đền..., chú trọng đến xem hướng khi
xây cất nhà cửa, xem ngày khi muốn thực hiện một công việc quan trọng như hiếu,
hỷ, đi xa, thay đổi chỗ ở...
Có thể nói Việt Nam là một quốc gia đa tơn giáo và đa tín ngưỡng. Người
Việt Nam thờ nhiều thần, ở một người cùng một lúc có thể chấp nhận niềm tin và sự
sùng kính vào nhiều vị thần. Người ta có thể đến Văn Miếu thắp hương cho Khổng
Tử, rồi đến chùa cầu khấn Bồ Tát, Phật tổ Như Lai, về làng thắp hương thờ Thành
Hoàng, đến Phủ cầu xin lộc Thánh rồi về nhà thờ cúng ơng bà tổ tiên. Những nét
văn hố phương Đơng và nét văn hố Việt nhiều khi hồ trộn với nhau để rồi tạo
thành một bản sắc đặc trưng của Việt Nam như vậy đấy.
Trong nếp sinh hoạt hàng ngày người Việt thích ăn cơm, ăn rau, thích đồ ăn
tươi sống và đồ ăn có nhiều hương liệu; thích mặc đồ nhẹ, thống mát; thích ở theo
kiểu quần tụ nhiều thế hệ. Trong quy phạm đạo đức người Việt trọng tình hơn trọng
lý, coi trọng gia đình và quan hệ cộng đồng, trọng kinh nghiệm và tuổi tác.
Tuy nhiên, trong thời đại tồn cầu hố hiện nay nếp sống của người Việt cũng
đang có nhiều thay đổi. Văn hố của Việt Nam cũng đang chịu những xung kính của
làn sóng tồn cầu hố, của sự xâm nhập văn hố từ bên ngồi. Chúng ta khơng thể
bảo thủ giữ hết tất cả mọi thứ, song thiết nghĩ những nét hay nét đẹp trong văn hố
Việt Nam nói chung và trong nếp sống của người Việt nói riêng cần phải được duy
trì và gìn giữ bởi văn hố của mỗi dân tộc luôn là nền tảng quan trọng để duy trì sự
ổn định của xã hội và nó góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước.
2.6 Đề xuất và bài học rút ra từ giao tiếp phương dông và phương tây
2.6.1 Các điểm cần tránh trong giao tiếp giữa hai nền văn hóa:
- Sử dụng tốt giọng điệu, ngữ điệu:
15
Dù là nói chuyện với người lạ hay bạn bè người thân ngữ diệu cũng sẽ giúp
truyền tải những gì ta muốn nói và giúp người nghe cảm thấy thoải mái, thú vị hơn
khi nghe ta nói. Cũng như ngữ điệu sẽ góp phần thể hiện sự chuyên nghiệp.
-Để ý đến ngôn ngữ cơ thể:
Trong việc giao lưu nhiều nền văn hóa thì có thể cử chỉ cử dộng tay chân
cũng là một cách giúp bạn truyền thông diệp đi nhanh hơn. Nhưng cần dể ý rằng có
thể những cử chỉ của bãn cảm thấy bình thường nhưng đối với người nghe lại là một
điều khuyết nhã.
- Suy nghĩ gì hãy nói là kỹ năng giao tiếp hay
- Đi vào chi tiết hơn:
Giao tiếp rõ ràng rất cần cho tiến hành mọi việc và chi sẽ những suy nghĩ,
cảm xúc nội tâm
- Rành mạch, dễ hiểu
- Đừng thao thao bất tuyệt
Trong giao tiếp đừng bao giờ để bản thân tự giành hết lời thoại. Mà hãi dể
người khác chen vào. Và thường xuyên đặt câu hỏi để mõi người cùng bày tỏ quan
điểm của mình. Như vậy cuộc nói chuyện sẽ đạt hiệu quả.
- Ánh mắt nói lên tất cả
Nhìn thẳng một cách tự tin vào người mà bạn đang nói chuyện. Điều đó cho
thấy bạn là con người ngay thẳng và đáng tin cậy. Cử chỉ này cũng là một biểu hiện
tôn trọng.
-Trang phục phù hợp
Cách ăn mặc cũng góp phần quan trọng trong việc giao tiếp của bạn. Hãy
đảm bảo là bạn ln gọn gàng, lịch sự thì mới có thể tự tin đứng trước mặt mọi
16
người trình bày vấn đề của bạn. Đứng thẳng, nói chuyện rõ ràng và tự nhiên cũng là
những điểm nên chú ý khi nói chuyện với người khác.
-Biết lắng nghe hiêpu quả
Nếu bạn có thể liệt kê những vấn đề trong mối quan hệ đang làm bạn khó
chịu thì hãy xé nó ngay lập tức. Hãy làm nó bốc hơi với những yêu cầu và bạn sẽ
đẩy đối tác vào thế phịng thủ. Để khởi sự một cuộc nói chuyện tốt, hãy bắt đầu bằng
một câu hỏi hay dù là bạn phải bắt đầu với một câu hỏi chung chung về mối quan hệ
của hai bạn và chuẩn bị sẵn sàng để lắng nghe.
-Tôn trọng những diểm khác nhau
Nếu bạn ln tán đồng mọi thứ, thì đó sẽ là một mối quan hệ tẻ nhạt. Sự xung
đột về ý kiến là một điều lành mạnh. Nó cho cho thấy bạn là một cá nhân độc lập, có
khả năng hình thành niềm tin của riêng mình cũng như tranh luận về chúng. Mặc dù
bạn khơng đồng ý với ai đó về những vấn đề chính trong cuộc sống thì sự tơn trọng
lẫn nhau sẽ động viên bạn tìm được hướng giải quyết.
-Tìm diểm chung của nhau
Thỏa hiệp là điều cốt yếu khi cần đàm phán cách thức giải quyết vấn đề trong
bất cứ mối quan hệ nào. Một đôi tai biết lắng nghe và tơn trọng quan điểm của đối
tác tình cảm sẽ giúp bạn giữ được cuộc nói chuyện với người ấy. Linh hoạt, mềm
dẻo là yếu tố cần để giúp hai bạn tìm gặp nhau ở điểm giữa của lối đi tìm giải pháp.
- Hiểu nhau
Cần phải hiểu rõ người mà bạn đang nói chuyện, họ thích và khơng thích điều
gì. Bạn khơng thể lấy lịng người khác khi khơng biết họ muốn nghe những gì. Một
yếu tố cực kỳ quan trọng trong kỹ năng giao tiếp thông minh là nói những điều
người khác muốn nghe.
-Hiểu rõ quan diểm của chính bạn
17
Nếu bạn muốn nói chuyện thật thuyết phục, điều đầu tiên bạn phải biết là bạn
đang nói về điều gì. Hiểu rõ quan điểm của bản thân, biết rõ điều cần nói bạn mới có
thể có được một cuộc thương thuyết thành công theo ý muốn.
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1Tóm tắt các kết quả nghiên cứu:
Khi Việt Nam ngày càng hội nhập vào văn hóa thế giới thì việc tìm hiểu về
sự khác biệt càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, trước tiên chúng ta cần tránh
những cú sốc về văn hóa và tiếp đến là để nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế
giới.
Người Việt Nam thiên về tế nhị, kín đáo trong giao tiếp ứng xử và những tính
cách đó đã thấm vào suy nghĩ cử chỉ hành vi. Nhiều dân tộc khác, nhất là phương
Tây thì ngược lại họ bộc trực và biểu lộ thái độ tình cảm khá thẳng thắn.
Trên con đường tồn cầu hóa và hội nhập hiện nay, con người từ khắp các
nước có cơ hội giao lưu, tiếp xúc và hợp tác làm việc với nhau nhiều hơn. Từ đó sự
giao lưu văn hóa giữa hai nền văn hóa phương Đơng và phương Tây ngày càng phổ
biến hơn địi hỏi con người khơng ngừng tiếp thu cải tiến nền văn hóa sao cho phù
hợp với tình hình phát triển hiện nay nhưng khơng qn phần giữ gìn bản sắc và văn
hóa dân tộc.
Trong giao tiếp, người phương Tây là người thẳng thắn bộc trực luôn thể hiện
quan điểm cá nhân một cách rõ ràng; người phương Đông khéo léo, tinh tế và có
nhiều hàm ý.
3.2 Đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam
3.2.1 Xét về thái độ đối với việc giao tiếp
Có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất
rụt rè.
18
Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc
giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng, chính tính cộng
đồng này là nguyên nhân khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng việc giao tiếp, và
do vậy rất thích giao tiếp.
Việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai đặc điểm:
+ Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng. Đã
thân nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần chăng nữa, lúc rảnh rỗi
họ vẫn tới thăm nhau.Thăm viếng khơng cịn là nhu cầu cơng việc (như ở phương
Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.
+ Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách. Có khách đến nhà,
dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu cũng cố gắng tiếp đón
chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon
nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, khơng bằng đói bữa. Tính
hiếu khách này càng tăng lên khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng
núi xa xôi.
3.2.2 Đặc điểm trọng tình nghĩa ghi dấu trong văn hố giao tiếp của người Việt
Xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nơng nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn
người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử:Yêu nhau yêu cả đường
đi/ ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba,ghét nhau cau sáu bổ
ra làm mười; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn,ghét nhau quả
bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề/một trăm chỗ lệch cũng kê cho
bằng…
Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng
vẫn thiên về âm hơn, thì trong cuộc sống, người Việt Nam sống có lý có tình nhưng
vẫn thiên về tình hơn: Một bồ cái lý khơng bằng một tý cái tình. Người Việt Nam
ln coi trọng tình cảm hơn mọi thứ trên đời. Ai nhớ mình một chút đều phải nhớ
19
ơn, ai bảo ban một chút cũng phải tôn làm thầy – khái niệm “thầy” được mở ra rất
rộng: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc, thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý, thầy phù thủy…
3.2.3 Với đối tượng giao tiếp
Người Việt Nam có thể quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá…Tuổi tác, quê
quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình (bố mẹ cịn hay mất, đã có
vợ/ chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái…) là những vấn đề người Việt Nam
thường quan tâm. Thói quen ưa tìm hiểu này khiến cho người nước ngồi có nhận
xét là người Việt Nam hay tị mị.Đặc tính này – dù gọi bằng tên gì đi nữa – chẳng
qua cũng chỉ là một sản phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra.
Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm
đến người khác, mà muốn quan tâm thì phải biết rõ hồn cảnh. Mặt khác, do lối
sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hơ riêng, nên nếu
khơng có đủ thơng tin thì khơng thể lựa chọn từ xưng hơ cho thích hợp được. Biết
tính cách, biết người để lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp: Chọn mặt gửi vàng; Tùy
mặt gửi lời/tùy người gửi của. Khi khơng được lựa chọn thì người Việt Nam dùng
chiến lược thích ứng một cách linh hoạt: Ở bầu thì trịn, ở ống thì dài; Đi với bụt
mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.
3.2.4 Tính cộng đồng trong văn hố giao tiếp của người Việt
Tính cộng đồng cịn khiến người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có
đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Trâu
chết để da, người ta chết để tiếng. Danh dự gắn với năng lực giao tiếp: Lời hay nói
ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai
tiếng
Chính vì q coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện: Ở đời
muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi; Đem chuông đi đấm
nước người, không kêu cũng đánh ba hồi lấy danh; Một quan tiền công không bằng
một đồng tiền thưởng. Ở làng quê, thói sỹ diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi
20
thứ nơi đình ttrung và tục chia phần. Do danh dự (sỹ diện), các cụ già vẫn có thể to
tiếng nhau vì miếng ăn: Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Lối sống trọng
danh dự dẫn đến cơ chế tạo tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc
nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã.
3.2.5 Về cách thức giao tiếp
Người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hịa thuận.Tính tế nhị khiến
cho người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vịng vo tam quốc”, không bao giờ mở
đầu tực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương Tây. Truyền thống Việt Nam khi bắt
đầu giao tiếp là phải xấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn.Cũng để đưa đẩy
tạo khơng khí là truyền thống miếng trầu là đầu câu chuyện. Với thời gian, chức
năng “mở đầu câu chuyện” này của “miếng trầu” được thay thế bởi chén trà, điều
thuốc lá…
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy
trong các mối quan hệ. Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng:
Ăn có nhai, nói có nghĩ; Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì
thưa thốt, khơng biết thì dựa cột mà nghe; Người khơn ăn nói nửa chừng, để cho
người dại nửa mừng nửa lo… Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt
Nam có nhược điểm là thiếu tính quyết đốn, nhưng đồng thời giữ được sự hịa
thuận, khơng làm mất lịng ai.
Người Việt Nam rất hay cười, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói
quen giao tiếp của người Việt; người ta có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả lúc ít
chờ đợi nhất. Tâm lý ưa hịa thuận khiến người Việt Nam ln chủ trương nhường
nhịn: Một sự nhịn là chín sự lành; Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sơi nhỏ lửa có đời
nào khê…
3.2.6 Người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú
Trước hết, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô: trong khi các ngôn ngữ
phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt cịn sử
21