ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị phương Tây.
Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
Học phần:
Chính trị học
Lớp học phần:
Giáo viên giảng dạy:
Họ và tên:
Mã số sinh viên:
Lớp:
Hà Nội - 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 1
NỘI DUNG.................................................................................................................. 2
Chương 1. Cơ sở hình thành...................................................................................2
1.1. Tư tưởng chính trị..........................................................................................2
1.2. Cơ sở hình thành............................................................................................2
Chương 2. Những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị phương Tây..................3
2.1. Một số những quan điểm tiêu biểu...............................................................3
2.2. Giá trị và hạn chế cơ bản của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại.4
Chương 3. Giá trị của tư tưởng chính trị phương Tây thời cận đại trong việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay................5
3.1. Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam..5
3.2. Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay.................................................................................................................. 5
3.3. Vận dụng tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại nhằm hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay...............................7
KẾT LUẬN.................................................................................................................. 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................9
MỞ ĐẦU
Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại, thời kỳ ở phương
Tây nổi lên tư tưởng của các đại diện tiêu biểu như: Montesquieu, J. Rousseau. Các
ông được đánh giá là những con người khơi nguồn tri thức cho phong trào Khai sáng.
Những giá trị và ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng chính trị thời kỳ này đã thôi thúc
nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều thế hệ trên thế giới khai thác và tìm cách luận giải để
vận dụng trong quá trình tạo lập nhà nước hợp lý, có hiệu quả. Nó đã trở thành cơ sở
nền tảng trong nghiên cứu lý luận để xây dựng nhà nước hiện đại.
Tuy nhiên, là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, luôn không ngừng biến đổi,
cho nên những tri thức, sự hiểu biết về chính trị, nhà nước vẫn chưa bao giờ được xem
là đầy đủ, hoàn bị. Việc tạo lập một nhà nước thật sự hợp lý, có hiệu quả vẫn ln là
sự tìm tòi, thể nghiệm của các lực lượng cầm quyền và cũng là đòi hỏi, mong muốn
của các cộng đồng dân cư ở mỗi quốc gia trong thế giới đương đại. Xây dựng nhà
nước là xu thế phát triển tất yếu của thời đại, thể hiện qua sự đảm bảo cho nhà nước
được tổ chức và hoạt động phù hợp với những tư tưởng chính trị tiến bộ của nhân loại,
đó là công bằng, dân chủ, tự do và quyền con người.
Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng nhà nước về tư tưởng chính trị được Đảng ta
chính thức đưa vào Văn kiện Đại hội VII. Đây chính là quyết tâm chính trị của Đảng
trong việc tiến hành đẩy mạnh cơng tác cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước,
phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, đánh dấu một bước phát triển mới của sự
nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đại
hội X và Đại hội XI của Đảng đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở xây dựng
cơ chế vận hành nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân,
nâng cao năng lực quản lý và điều hành của nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Những giá trị cơ bản của tư tưởng chính
trị phương Tây. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay.” làm đối tượng nghiên cứu
của bài tiểu luận mơn Chính trị học của mình.
Trang 1 |
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở hình thành
1.1. Tư tưởng chính trị.
Tư tưởng.
Theo Từ điển triết học, tư tưởng là “một hình thái phản ánh thế giới xung
quanh con người, tổng hợp các quan niêm, khái niệm thành 1 thể duy nhất” 1. Theo
Đại từ điển Tiếng Việt, tư tưởng là những “quan điểm và ý nghĩ chung của con người
đối với thế giới tự nhiên và xã hội”2. Nhìn chung, tư tưởng là suy nghĩ, là quan điểm
và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội.
Chính trị.
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ khi xã hội phân chia
giai cấp, nhà nước. Trong lịch sử, chính trị từng được coi là lĩnh vực hoạt động, là
công cụ đặc quyền của tầng lớp trên, thậm chí của một người. Tư tưởng dân chủ ra đời
là một bước tiến lịch sử, chính trị trở thành cơng việc của đơng đảo quần chúng nhân
dân, mọi người có quyền tham gia vào chính trị, vào cơng việc nhà nước, Tuy nhiên,
mức độ này phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi cơng
dân.
Tư tưởng chính trị.
Tư tưởng chính trị là một hình thái ý thức xã hộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong đời sống xã hội. Nó xuất hiện trong lịch sử cùng với sự xuất hiện của nhà nước
cổ đại. Tư tưởng chính trị của một thể chế xã hội là hệ thống quan điểm tư tưởng thể
hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định, nó xác định nội dung và hình thức
hoạt động của Nhà nước về mặt đối nội cũng như đối ngoại.
1.2. Cơ sở hình thành.
- Cơ sở lý luận
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, do những đòi hỏi của lịch sử xuất phát từ
khát vọng về tự do, dân chủ, bình đẳng và quyền con người của nhân dân, đã có hai
thời kỳ xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm tích cực và tiến bộ về tư tưởng chính trị.
Đó là thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại và thời kỳ cận đại ở châu Âu.
1 Từ điển Triết học, Nxb. Sự Thật, 1960, tr. 1033
2 Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1757
Trang 2 |
- Cơ sở thực tiễn
Phong trào phục hưng văn hóa đã mở đầu cho một thời đại mới, đó là sự kết
thúc đầy ý nghĩa của lịch sử Tây Âu trung đại, mở đầu cuộc hành trình tìm về với
những giá trị xưa cũ và cũng đặt cơ sở cho sự vận động tiến lên phía trước. Bên cạnh
đó, các khám phá, phát minh khoa học đã làm lung lay nền chuyên chế tinh thần của
nhà thờ, mở ra triển vọng khám phá vũ trụ không dựa vào uy quyền mà dựa vào ánh
sáng của lý trí khoa học.
Chương 2. Những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị phương Tây.
Thời cận đại là thời kỳ triết học khai sáng, những tư tưởng chính trị phát triển
rất rực rỡ, phong phú và đa dạng. Cụ thể là những giá trị cơ bản của nhà nước pháp
quyền phương Tây cận đại.
2.1. Một số những quan điểm tiêu biểu.
Montexkiơ (1689-1755) phê phán kịch liệt chế độ chuyên chế, cho rằng về bản
chất chuyên chế đối lập với tự do. Nhà thờ là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Ông đề ra
thuyết địa lý cho rằng: Đạo đức cũng như đặc điểm của một dân tộc tùy thuộc vào
hoàn cảnh địa lý của nước đó. Trước khi có chính trị thì đã tồn tại tự nhiên rồi. Quy
luật tự nhiên là bình đẳng, hịa bình, tồn tại trong cộng đồng, kêu gọi mọi người từ bỏ
bạo lực1. Ông là người đưa ra thuyết tam quyền phân lập một cách có hệ thống và là
đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên chế phong kiến. Đây là tư tưởng có ảnh hưởng
sâu rộng trong lịch sử chính trị nhân loại.
Rútxơ (1712-1778) là đại biểu cho tầng lớp dân chủ thị dân, ông phê phán gay
gắt quan hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ chuyên chế. Ông ủng hộ dân chủ tư sản và
quyền tự do cơng dân, quyền bình đẳng của con người, bất chấp nguồn gốc xuất thân.
Ơng nói: Ngun nhân của bất bình đẳng trong xã hội là do sự xuất hiện chế độ tư hữu
và tán thành chế độ tư hữu nhỏ. Nhà nước hình thành trãi qua hai giai đoạn, quyền lực
nhà nước làm cho bất công về kinh tế chuyển sang bất cơng chính trị 2. Ông phê phán
lối giáo dục đẳng cấp phong kiến cũ, địi hỏi giáo dục phải đào tạo ra những cơng dân
biết quý trọng lao động. Tóm lại, tư tưởng của ông ảnh hưởng rất lớn đến hàng loạt
1,2 ĐHQGHN, Đại học KHXH & NV, Khoa Triết học, Giới thiệu kinh điển triết học Mác – Lênin, Nxb Đại học
QGHN, Hà Nội, 2007, Tr.230 – Tr. 274
2
Trang 3 |
hình thức hoạt động chính trị dân chủ đã được thể hiện và thực thi trong đời sống
chính trị ở phương Tây và nhân loại.
Điểm lại sự ra đời và quá trình phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong
lịch sử, có thể thấy rằng, tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có từ thời cổ đại. Nhưng
với tư cách là một học thuyết thì chỉ ra đời trong điều kiện nhất định, đó là thời kỳ
chuẩn bị cho cách mạng tư sản, người ta kế thừa tư tưởng pháp quyền trong lịch sử, hệ
thống hóa và phát triển thành học thuyết về tổ chức và quản lý nhà nước nhằm chống
lại sự quản lý tùy tiện, chuyên quyền, độc đoán trong nhà nước phong kiến chuyên
chế.
2.2. Giá trị và hạn chế cơ bản của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại.
Đến thời kỳ cận đại ở phương Tây, tư tưởng pháp quyền đã phát triển đến đỉnh
cao và khái quát thành những lý luận cơ bản về NNPQ, chứa đựng nhiều giá trị tiến bộ
mang tính chất “vạch thời đại”1.
Thứ nhất, nhà nước pháp quyền khẳng định nguồn gốc của chính quyền nhà
nước là ở nhân dân, mặc dù. Đó chính là bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền,
là “Quyền lực của nhân dân”. Trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay, nguyên tắc đó
được khẳng định và tiếp tục phát triển, được ghi nhận trong các Hiến pháp của các
nước với các chế độ chính trị khác nhau.
Thứ hai, để đảm bảo “Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, nhà nước pháp
quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, rằng
“Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép”, còn nhân dân “Được làm tất
cả những điều pháp luật không cấm”, pháp luật đảm bảo cho sự phát triển “Tự do tối
đa” của nhân dân. Tất nhiên, pháp luật trong quan niệm nhà nước pháp quyền là mang
tính nhân văn, nhân đạo, là “Pháp luật vì con người” chứ khơng phải “Con người vì
pháp luật”.
Hai mặt nói trên, dân chủ và pháp luật trong nhà nước pháp quyền là gắn bó
hữu cơ, làm tiền đề tồn tại cho nhau và tạo nên bản chất của nhà nước pháp quyền
trong lịch sử nhân loại.
Như vậy, chính trị phương Tây khác với chính trị phương Đơng. Tư tưởng
chính trị phương Đơng thường gắn với đạo đức, còn phương Tây gắn với pháp luật và
1 Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, Tr.60
Trang 4 |
thường xuất phát từ trạng thái tự nhiên của con người, đề cao quyền lợi của con người.
Về cơ bản, tư tưởng chính trị phương Tây thời cận đại, nếu loại trừ những yếu tố siêu
hình, duy tâm thì những tri thức về mơ hình nhà nước, vai trị của pháp luật, phẩm
cách nhà chính trị… là những tri thức có giá trị lâu dài.
Chương 3. Giá trị của tư tưởng chính trị phương Tây thời cận đại trong việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
3.1. Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Một là, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.” 1, “Tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nơng dân và đội ngũ trí thức”2.
Hai là, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp”3
Ba là, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; nhà nước được tổ chức và
hoạt động trên cơ sở hiến pháp và pháp luật.
Bốn là, nhà nước tôn trọng, bảo đảm quyền con người, nâng cao trách nhiệm
pháp lý của Nhà nước, thi hành dân chủ đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản Việt Nam
lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam.
Sáu là, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và đề cao vai trị tối thượng của
pháp luật.
Bảy là, tơn trọng và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế.
3.2. Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay.
*Những thành tựu:
Thứ nhất, nền dân chủ XHCN có bước phát triển đáng kể.
1,2,3 Điều 2 - Hiến pháp năm 2013
2
3
Trang 5 |
Thứ hai, tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ngày càng hoàn thiện,
phương thức hoạt động nhà nước được đổi mới.
Thứ ba, hệ thống pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung và khơng ngừng được
hồn thiện.
Thứ tư, cải cách hành chính được chú trọng, bộ mặt của nền hành chính nhà
nước đã bước đầu thay đổi, hướng tới phục vụ nhân dân.
Thứ năm, mơ hình chính quyền địa phương được củng cố, kiện toàn, chất
lượng, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên.
Thứ sáu, công tác đấu tranh phịng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí
được tích cực chỉ đạo, đạt một số kết quả.
Thứ bảy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã có bước đổi mới cả về
nội dung và về phương thức lãnh đạo, vừa đảm bảo tăng cường vai trị lãnh đạo của
Đảng, vừa phát huy tính chủ động của các cơ quan nhà nước.
*Những hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam
vẫn cịn bộc lộ hạn chế khó tránh khỏi.
Thứ nhất, về phát huy dân chủ.
Tình trạng thiếu dân chủ vẫn còn những biểu hiện và diễn biến phức tạp. Tình
trạng bng lỏng kỷ cương, pháp luật, dân chủ hình thức, cán bộ cửa quyền, hách dịch
vẫn còn nhiều.
Thứ hai, về hệ thống pháp luật.
Hệ thống luật pháp của nước ta vẫn chưa theo kịp với sự phát triển chung của
đất nước và thế giới, đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế. Pháp luật thường xuyên thay
đổi, các văn bản luật có tuổi thọ rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn
thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Nhiều văn bản pháp luật có tính quy phạm thấp.
Thứ ba, về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước
Tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, sự phân công phối hợp giữa các cơ
quan quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) cịn có những điểm chưa rõ
ràng, dẫn tới tính trạng tập trung quan liêu, cục bộ địa phương.
Thứ tư, bộ máy nhà nước chưa thật sự được trong sạch, vững mạnh. Cơng tác
phịng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra.
Trang 6 |
Năm là, sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước cịn tình trạng vừa bng
lỏng, vừa bao biện, làm thay.
3.3. Vận dụng tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại nhằm hoàn thiện nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Sở dĩ, Đảng và Nhà nước ta đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam vì:
Trước hết bản thân lý luận về nhà nước pháp quyền có những điểm tiến bộ, hợp
lý trong việc thực hành quyền dân chủ, trong việc tổ chức, hoạt động của Nhà nước và
đó cũng là mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới. Đồng thời đặc trưng của nó có
nhiều điểm phù hợp với bản chất của Nhà nước ta.
Thứ hai, xuất phát từ thực trạng tổ chức, hoạt động của nhà nước ta còn nhiều
khiếm khuyết, yếu kém, chưa thực sự là nhà nước tuân thủ pháp luật và thực hiện
quản lý xã hội bằng pháp luật, như: Bộ máy nhà nước ta chưa thực sự trong sạch,
vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu cịn nghiêm trọng, chưa được
ngăn chặn; hiệu lực quản lý điều hành còn chưa nghiêm; kỷ cương xã hội bị buông
lỏng làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Thứ ba, xuất
phát từ tính tất yếu khách quan của sự phát triển của đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và mục tiêu cơ bản là xây dựng một
chế độ: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh.
Thứ tư, xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế tồn cầu hóa. Nhu cầu hội
nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp
luật, đảm bảo cho nhà nước khơng ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết các
nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội
nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
Tóm lại, trong cơng cuộc đổi mới của đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, trong đường lối lãnh đạo của mình, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc đề ra
đường lối xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước - yếu tố trung tâm của hệ thống
chính trị. Để thực hiện mục tiêu đó, phải tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước,
mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây
Trang 7 |
dựng và quản lý nhà nước, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh
vực.
Trang 8 |
KẾT LUẬN
Xun suốt tồn bộ lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây, đặc biệt là tư tưởng
pháp quyền trong thời kỳ cận đại là quan điểm “nhân dân là tối thượng”. Xuất phát từ
nền tảng tư tưởng đã từng bước phác thảo dưới dạng khái lược nhất mơ hình tổ chức
nhà nước theo hình thức NNPQ, được các nhà tư tưởng sau này hoàn thiện và áp dụng
vào thực tiễn tổ chức nhà nước ở các nước có nền dân chủ phát triển. Đó là mơ hình
nhà nước mà nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, quyền lực ấy không
phải do ai ban tặng mà xuất phát từ các quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm
phạm của con người. Cũng theo đó, nhân dân là người đã trao quyền của mình cho
nhà nước thông qua việc ký với nhau bản khế ước. Khi đi vào xã hội cơng dân, xã hội
chính trị thì các quyền này khơng hề mất đi mà nó chỉ ẩn vào trong nhà nước và nếu
nhà nước vi phạm khế ước thì nhân dân sẽ hủy khế ước đã ký bằng cách xóa bỏ nhà
nước hiện tồn để thành lập một nhà nước mới tốt đẹp và xứng đáng hơn.
Qua tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là qua quá trình gần 30 năm
thực hiện đường lối đổi mới tồn diện đất nước của Đảng, có thể khẳng định rằng:
NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân là vấn đề có tính quy luật, đây cũng chính là
những địi hỏi, u cầu khách quan và cấp bách trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
nước ta. Việc nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng pháp quyền đã làm phong phú
thêm cơ sở lý luận về NNPQ và NNPQ XHCN, giải quyết được những khó khăn về
mặt lý luận và hướng dẫn cho thực tiễn xây dựng NNPQ ở nước ta hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu và luận giải các tư tưởng pháp quyền ở phương Tây
thời kỳ cận đại, đề tài kết hợp phân tích làm rõ thực tiễn, tổng kết những kinh nghiệm
trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta trong những năm qua, hướng đến xây dựng
hệ thống các giải pháp có tính kế thừa những tư tưởng pháp quyền tiến bộ của các đại
diện tiêu biểu ở phương Tây thời kỳ cận đại vào việc tiếp tục hoàn thiện NNPQ
XHCN của dân, do dân và vì dân, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại và
dân tộc
Trang 9 |
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ điển Triết học, Nxb. Sự Thật, 1960
2. Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh,
3. Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2013.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Triết học, Nxb CTQG Hà Nội, 2001, tập 2.
6. PGS.TS Dỗn Chính, PGS.TS Đinh Ngọc Thạch (CB), Vấn đề triết học trong tác
phẩm của C.Mác, Ăngghen, V.I. Lênin, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
7. Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học KHXH & NV, Khoa Triết học, Giới thiệu kinh
điển triết học Mác – Lênin, Nxb Đại học QGHN, Hà Nội, 2007
8. PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (CB), Triết học, phần 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,
2009.
9. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, Tr.60
10. Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
Trang 10 |