Tải bản đầy đủ (.docx) (6 trang)

đất môi trường kỹ thuật môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (422.27 KB, 6 trang )

Khơ hạn
Mưa thay đổi

Biến đổi khí hậu

SA MẠC HỐ
XĨI MỊN ĐẤT

Hoạt động
nhân sinh

Mất diện
tích đất

-Thiếu ăn và đói.
-Bệnh do nước.
-Thay đổi dãy sinh thái của bệnh truyền nhiễm.
-Bệnh hô hấp cấp tính, mãn tính và tổn hại hoả hoạn.

-Giảm sản xuất nông nghiệp.
-Gia tăng thiếu nước.
-Tăng di cư
-Tăng cháy rừng, đồng cỏ
-Mất đa dạn sinh học.
-Tăng sự cô lập địa lý.

-Tăng đói nghèo
Ảnh hưởng của xói mịn đất
1.Mất năng suất của đất:
Link tham khảo
/> />-Bạn có biết rằng xói mịn đất cũng có thể làm giảm năng suất cây trồng một cách


nghiêm trọng? Hầu hết các hoạt động nông nghiệp, đặc biệt là trên các cảnh quan
dốc, làm tăng khả năng xói mịn đất. Khi xói mịn đất nghiêm trọng, đất bị xói mịn
nhanh hơn so với khả năng tái tạo. Đối với hầu hết các khu vực của Iowa, sự mất đi
1 inch trên mỗi mẫu Anh của lớp đất mặt tương ứng với khoảng 167 tấn trên mẫu
và khoảng 30 năm là cần thiết để phát triển 1 inch đất với các đặc tính của lớp đất mặt
điển hình.
(Did you know that soil erosion also can seriously impair crop productivity? Most
agriculture activities, especially on sloping landscapes, increase the potential for soil
erosion. When soil erosion is severe, soil erodes faster than it can be renewed. For
most areas of Iowa, the loss of 1 inch per acre of topsoil represents approximately
167 tons per acre and approximately 30 years is required to develop 1 inch of soil
with properties of typical topsoil)
-Để hiểu được ảnh hưởng của các đặc tính của đất và xói mịn đến năng suất của đất,
cần phải hiểu các đặc tính của đất. Ở Iowa, tác động lâu dài của xói mịn đất đến
năng suất có thể được đo lường bằng những thay đổi đặc tính của đất
(In Iowa, long-term effects of soil erosion on productivity can be measured by
changes in soil profile properties)
1.Bề dày lớp đất mặt


(Topsoil thickness):
-Lớp đất mặt nói chung được làm giàu chất hữu cơ và có các tập hợp dạng hạt giúp tạo
ra các lỗ rỗng của đất lớn hơn, giảm mật độ đất, tăng cường khả năng thấm nước và
thơng khí. Khi lớp đất mặt bị xói mịn, năng suất bị ảnh hưởng do mất chất dinh
dưỡng và làm hỏng các đặc tính vật lý của đất. Sự mất lớp đất mặt và ảnh hưởng
của nó đến năng suất rõ ràng hơn trên đất có độ dốc lớn.
(When topsoil is eroded, yield suffers due to nutrient loss and damage to soil
physical properties)
2. Nutrients


( Chất dinh dưỡng):
-Mất lớp đất mặt do xói mịn góp phần làm mất độ phì nhiêu vốn có của đất về nitơ, P,
K, và do đó làm giảm năng suất cây trồng tiềm năng.
-Các hạt đất sét có xu hướng tích tụ bên dưới lớp đất mặt do q trình rửa trơi. Khi lớp
đất mặt bị xói mịn, sự mất chất hữu cơ có thể làm thay đổi tính chất vật lý của đất, đặc
biệt là tỷ trọng của đất. Hàm lượng đất sét cao hơn ở bề mặt có thể làm giảm sự
xâm nhập của lớp đất mặt làm giảm khả năng nạp lại của đất, do đó làm giảm
lượng nước cung cấp cho cây trồng
(Higher clay content at the surface can reduce infiltration of topsoil reducing soil
recharge, thus reducing water availability to the plants)
-Phần lớn chất hữu cơ, khoảng 50 phần trăm phốt pho (P) và kali (K) có sẵn trong thực
vật tập trung ở lớp đất mặt.Mất lớp đất mặt do xói mịn góp phần làm mất độ phì
nhiêu vốn có của đất về nitơ, P, K, và do đó làm giảm năng suất cây trồng tiềm
năng(Losing topsoil to erosion contributes to a loss of inherent soil fertility levels
of nitrogen, P, K, and thus to a decline in potential crop yield)
2. Mức độ chua của đất
(Soil Acidity Levels)
Khi cấu trúc của đất bị tổn hại, và chất hữu cơ bị giảm nhiều, thì khả năng tăng độ
chua của đất cao hơn, điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phát triển của cây
cối và hoa màu.
(When the structure of the soil becomes compromised, and organic matter is
greatly reduced, there is a higher chance of increased soil acidity, which will
significantly impact the ability for plants and crops to grow)
3. Ô nhiễm nước


Sự xói mịn dần của đất tạo ra trầm tích, một q trình mà đá và khống chất trong
đất tách ra khỏi đất và lắng đọng ở nơi khác, thường đọng lại ở các dịng sơng và
suối. Các chất ơ nhiễm trong đất, chẳng hạn như phân bón và các chất phòng trừ sâu
bệnh được sử dụng để bảo vệ mùa màng, cũng lắng đọng trong các con sông và

suối. Các chất ô nhiễm trong nước dẫn đến chất lượng nước kém - bao gồm cả chất
lượng nước uống nếu chất ô nhiễm không được loại bỏ trước khi tiêu thụ .
A major problem with runoff from soils – particularly those used for agricultural
processes – is that there is a greater likelihood that sediment and contamination like
the use of fertilizer or pesticide. This can have significant damage on fish
and water quality.

Ảnh hưởng sa mạc hóa
Ảnh hưởng đến cuộc sống của con người
 Sa mạc hoá kéo theo sự thiếu hụt trầm trọng lương thực, thực phẩm.

Thực tế tốc độ sản xuất lương thực, thực phẩm cao là nhờ vào công nghệ sinh
học và những cải tiến kỹ thuật canh tác, tuy nhiên sự phân chia không điều dẫn
đến một số nơi lạm dụng và khai thác đất thiếu khoa học. Dân số Thế giới ngày
càng tăng, đòi hỏi con người phải tấn công vào tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục
tùng một cách vơ tội vạ. Vì vậy, diện tích đất bị sa mạc hoá ngày một tăng lên.
Dân số gia tăng, sa mạc hoá tăng lên, đất canh tác giảm xuống. Đó là hậu quả
về mặt xã hội của nạn sa mạc hoá.
 Gia tăng các vấn đề về sức khoẻ do gió mang cát bụi nhiều như các bệnh về
đường hô hấp, dị ứng và ảnh hưởng xấu đến tinh thần.
 Làm mất nơi sinh sống dẫn đến di cư tìm nơi ở mới.
(Desertification is a serious form of land degradation that results in the
destruction of natural ecosystems and the end of services they provide for us )


Ví dụ

Các vùng đất khơ hạn hiện chiếm khoảng 46,2% (± 0,8%) diện tích đất tồn cầu
và là nơi sinh sống của 3 tỷ người. Sự đa dạng và phức tạp của các q trình sa mạc
hóa làm cho việc định lượng nó trở nên khó khăn. Các điểm nóng sa mạc hóa, được

xác định bởi sự suy giảm năng suất thảm thực vật giữa những năm 1980 và 2000,
mở rộng đến khoảng 9,2% diện tích đất khơ hạn (± 0,5%), ảnh hưởng đến
khoảng 500 (± 120) triệu người vào năm 2015. Số người bị ảnh hưởng cao nhất là ở
Nam và Đông Á, khu vực quanh Sahara bao gồm Bắc Phi và Trung Đông bao gồm cả
Bán đảo Ả Rập Các vùng đất khô hạn khác cũng đã trải qua q trình sa mạc hóa. Q
trình sa mạc hóa đã làm giảm năng suất và thu nhập nông nghiệp và góp phần làm
mất đa dạng sinh học ở một số vùng đất khô hạn .Ở nhiều vùng đất khô hạn, sự lan
tràn của các loài thực vật xâm lấn đã dẫn đến tổn thất các dịch vụ hệ sinh thái trong khi
khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt nguồn nước ngầm. Quản lý đất đai không bền
vững, đặc biệt khi đi cùng với hạn hán, đã góp phần làm tăng hoạt động của bão bụi,
làm giảm phúc lợi của con người ở các vùng đất khô hạn và xa hơn nữa Bão bụi
có liên quan đến tỷ lệ tử vong do tim phổi trên toàn cầu của khoảng 402.000 người
vào năm 2005. Cường độ cao hơn của bão cát và sự di chuyển của cồn cát đang gây
ra gián đoạn và thiệt hại cho giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng thu hoạch năng
lượng mặt trời và gió
Drylands currently cover about 46.2% (±0.8%) of the global land area and are
home to 3 billion people. The multiplicity and complexity of the processes of
desertification make its quantification difficult. Desertification hotspots, as identified
by a decline in vegetation productivity between the 1980s and 2000s, extended to
about 9.2% of drylands (±0.5%), affecting about 500 (±120) million people in
2015. The highest numbers of people affected are in South and East Asia, the circum
Sahara region including North Africa and the Middle East including the Arabian
Peninsula Other dryland regions have also experienced desertification. Desertification
has already reduced agricultural productivity and incomes (high confidence) and
contributed to the loss of biodiversity in some dryland regions. In many dryland areas,
spread of invasive plants has led to losses in ecosystem services while over-extraction
is leading to groundwater depletion Unsustainable land management, particularly
when coupled with droughts, has contributed to higher dust-storm activity, reducing
human well-being in drylands and beyond Dust storms were associated with global
cardiopulmonary mortality of about 402,000 people in 2005. Higher intensity of

sand storms and sand dune movements are causing disruption and damage to
transportation and solar and wind energy harvesting infrastructures
Ví dụ
Theo một báo cáo mới đây của Liên Hợp Quốc, thì hàng chục triệu người có thể bị mất
chỗ ở do q trình sa mạc hóa. Đặc biệt là khu vực Tiểu sa mạc Sahara Châu Phi và
Trung Á đang phải chịu hậu quả lớn nhất của tình trạng sa mạc hóa, với nguy cơ 50


triệu người ở các khu vực này mất nơi sinh sống truyền thống vào năm 2020. Châu Phi
có thể chỉ nuôi được 25% dân số vào năm 2025 nếu tốc độ sa mạc hóa ở Lục địa Đen
tiếp tục như hiện nay.
(According to a recent United Nations report, tens of millions of people could be
displaced due to desertification. In particular, the sub-Saharan Africa and Central
Asia regions are experiencing the greatest consequences of desertification, with
the risk of 50 million people in these regions losing their traditional habitats by
2020. Africa could only feed 25% of its population by 2025 if the rate of
desertification in the Black Continent continues at the current rate.)

Ảnh hưởng của sa mạc hố đến mơi trường – sinh thái tự nhiên:
-

Làm suy giảm tính đàn hồi tự nhiên của đất đai, khả năng phục hồi độ phì nhiêu

-

do những rối loạn của khí hậu.
Làm giảm tính năng sản xuất của đất.
Làm hư hại thảm phủ thực vật, những thực vật ăn được có thể thay thế bằng

-


thực vật khơng ăn được.
Chất lượng dịng chảy giảm sút, làm gia tăng nguy cơ lụt lội.
Đặc biệt, sa mạc hố có tác động rất lớn đến sinh thái học.

Do điều kiện khí hậu ở sa mạc rất khắc nghiệt cho nên nơi đây khá nghèo
nàn về chủng loại động, thực vật nói cách khác đa dạng sinh học


(Biodiversity) ở mức thấp.
Sự đa dạng về lồi của động – thực vật có liên quan rất mật thiết với nhau và
lien quan trực tiếp tới lượng mưa. Dưới gốc độ sinh thái học, lượng mưa là
yếu tố rất quan trọng vì nó quyết định đến năng xuất cây trồng và sự phong
phú, đa dạng của sinh vật. Nhiều tài liệu về năng suất của cây trồng cho thấy
ở sa mạc lượng sinh khối trung bình thường ở mức 0,02 – 0,7 kg chất



khơ/m2 so với 45 kg/m2 ở vùng nhiệt đới và 30 kg/m2 ở vùng ơn đới.
Ở vùng bị sa mạc hố chỉ có những thực vật có tính thích nghi cao mới có
khả năng tồn tại điển hình như xương rồng, các cây bụi, cây có gai,… nhưng



năng xuất sinh khối của chúng rất thấp.
Sự nghèo nàn của thực vật làm cho động vật khơng có điều kiện để phát
triển. Một số loài động vật đặc trưng như chuột, một số lồi bị sát, đà điểu,


…có cuộc sống gắn liền với lượng sinh khối thực vật là các trảng cỏ, cây

than bụi,…thì có khả năng tồn tại nhưng tình trạng sinh học vẫn rất nghèo
nàn. Các lồi động vật ở sa mạc cần có những khả năng thích nghi cao để có

thể tồn tại trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

Hạn hán ở Somalia



×