TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
------------***------------
TRƯƠNG THU GIANG
MSSV: 1753801011045
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khóa: 2017 - 2021
Người hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THANH QUYÊN
TP.HCM – Năm 2021
TP.HCM – Năm 2021
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” là cơng trình khoa học do
chính tác giả tìm hiểu, nghiên cứu và xây dựng nên. Mọi kết quả nghiên cứu của các
cơng trình khoa học khác được sử dụng trong Luận văn này đều được giữ nguyên ý
tưởng và được trích dẫn phù hợp theo quy định. Nội dung của cơng trình khơng sao
chép bất kỳ Luận văn hay tài liệu nào.
Tác giả xin chịu trách nhiệm hồn tồn về tính trung thực của đề tài.
Tác giả
Trương Thu Giang
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” là
kết quả của quá trình nỗ lực từ bản thân và sự giúp đỡ tận tình của thầy cơ, người
thân và bạn bè. Qua đây, Em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học
Luật TP. HCM, Khoa Luật Hành chính đã tạo điều kiện tốt nhất để em hồn thành
khóa luận tốt nghiệp cũng như thời gian học tập tại trường suốt 4 năm qua.
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn Cô Nguyễn Thanh Quyên – Thạc sĩ Luật
Học, giảng viên Khoa Luật Hành chính – Người đã trực tiếp hướng dẫn cũng như
đưa ra những lời khuyên, định hướng và đánh giá vô cùng giá trị đối với đề tài này.
Chính sự hướng dẫn tận tình ấy đã giúp em hồn thành khóa luận tốt nghiệp của
mình.
Cuối cùng, Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, mọi người xung quanh
đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để hoàn thành cơng
trình này.
Một lần nữa, Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nội dung viết tắt
1
BLTTDS năm 2015
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
2
Luật TTHC
Luật Tố tụng hành chính
3
Luật TTHC năm 2010
Luật Tố tụng hành chính năm 2010
4
Luật TTHC năm 2015
Luật Tố tụng hành chính năm 2015
5
VAHC
Vụ án hành chính
6
HĐXX
Hội đồng xét xử
7
TAND
Tịa án nhân dân
8
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN HÀNH CHÍNH ...................................................................................................7
1.1. Khái niệm và đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án hành chính ...... 7
1.1.1. Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính ................................. 7
1.1.2. Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.......................... 11
1. 2. Ý nghĩa ................................................................................................... 15
1.2.1. Ý nghĩa chính trị, xã hội ...................................................................... 15
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................. 16
1.3. Những quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án hành
chính ............................................................................................................... 17
1.3.1. Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án......................................................... 18
1.3.2. Thẩm quyền .......................................................................................... 36
1.3.3. Hậu quả pháp lý ................................................................................... 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................44
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HỒN THIỆN CHẾ ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH .............................................45
2.1. Thực trạng .............................................................................................. 45
2.1.1. Thực trạng quy định của pháp luật ..................................................... 46
2.1.2. Thực trạng thực hiện pháp luật .......................................................... 57
2.2. Kiến nghị hoàn thiện .............................................................................. 63
2.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật ........................................... 64
2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện việc thực hiện pháp luật .................................. 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................73
KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................74
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước những thay đổi lớn lao trên các mặt của đời sống xã hội, trong bối
cảnh nền kinh tế đất nước đang phát triển hết sức mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập,
thêm vào đó là sự nhận thức pháp luật của người dân ngày càng nâng cao, những
VAHC xuất hiện với tính chất phức tạp ngày một gia tăng… đã đòi hỏi có sự điều
chỉnh, sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật, trong đó có Luật TTHC nhằm đáp
ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong bối cảnh mới. Theo đó, Luật TTHC năm 2015
được ban hành và chính thức đi vào thực tiễn kể từ ngày 01/7/2016, trên cơ sở kế
thừa, có sửa đổi và bổ sung những văn bản pháp luật ra đời trước đó “đã thể hiện
quan điểm tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết các khiếu nại hành
chính theo hướng mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà
nước, cá nhân và tổ chức có khiếu kiện hành chính”1. Có thể nói, sự ra đời của Luật
TTHC đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong công tác xét xử các VAHC, là cơ
sở pháp lý sắc bén cho việc giải quyết các khiếu kiện hành chính theo tinh thần của
đường lối cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay là “đổi mới mạnh mẽ thủ tục
giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tồ án” và góp phần bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của cơng dân trước những hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra từ phía
cơ quan cơng quyền.
Trong đó, đình chỉ giải quyết VAHC – một trong những quyết định tố tụng
được Tòa án ban hành khi vụ án phát sinh căn cứ đình chỉ luật định là một trong
những quy định nổi bật của Luật TTHC. Về nguyên tắc, sau khi quyết định đình chỉ
được ban hành, mọi hoạt động tố tụng sẽ chấm dứt, đương sự có khả năng không
được khởi kiện trở lại. Mặc dù chỉ là một nội dung nhỏ được quy định trong pháp
luật tố tụng hành chính, tuy nhiên đình chỉ giải quyết VAHC có những ý nghĩa quan
trọng về mặt chính trị, xã hội và thực tiễn, góp phần quan trọng vào quá trình giải
quyết VAHC nói chung.
Chính vì tầm quan trọng của đình chỉ giải quyết VAHC trong việc giải quyết
nhanh chóng và hiệu quả VAHC nên pháp luật tố tụng hành chính, từ Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và
năm 2006) đến Luật TTHC năm 2010 và hiện nay là Luật TTHC năm 2015 đã dành
nhiều Điều luật quy định về chế định này. Những quy định đó đã đã thực sự đáp
1
Phạm Công Hùng (2012), “Một số vấn đề về trình tự, thủ tục và kỹ năng xét xử vụ án hành chính tại phiên
tịa sơ thẩm”, Tạp chí Tịa án nhân dân, (02), tr. 9.
2
ứng đáng kể các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quan trọng nhất là
bảo đảm tính thượng tơn pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hành chính.
Tuy vậy, qua gần 05 năm thực thi, một số quy định của đình chỉ giải quyết
VAHC dần bộc lộ những bất cập, vướng mắc đã gây ra những rào cản nhất định đối
với các cơ quan có thẩm quyền trong q trình thực thi nhiệm vụ, ảnh hưởng khơng
nhỏ đến thực tiễn xét xử và quyền lợi hợp pháp của đương sự. Không chỉ vậy, qua
nghiên cứu cho thấy, chế định đình chỉ giải quyết VAHC là vấn đề chưa được
nghiên cứu nhiều về mặt lý luận và thực tiễn.
Với những lý do trên, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chế định đình chỉ
giải quyết VAHC một cách khoa học, toàn diện là yêu cầu thực sự cần thiết. Đặc
biệt trong bối cảnh công cuộc cải cách tư pháp của nước ta đang diễn ra hết sức
mạnh mẽ, nhiệm vụ “hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng, hợp pháp của người dân thông qua hoạt động tư pháp” được đẩy mạnh
hơn lúc nào hết. Theo đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đình chỉ giải quyết vụ án
hành chính” để nghiên cứu với mong muốn trình bày kết quả nghiên cứu liên quan
đến quy định pháp luật thực định về đình chỉ giải quyết VAHC, kết hợp đi sâu phân
tích thực trạng áp dụng quy định này trên thực tế. Qua đó, tác giả hy vọng rằng đề
tài sẽ cung cấp một số kiến nghị mang tính tham khảo, liên quan đến việc hồn
thiện chế định này dưới góc nhìn lý luận và quy định pháp luật hiện hành. Song
song đó, hướng đến nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết các VAHC trên
bình diện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
“Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” là một trong những vấn đề được
quan tâm khi nghiên cứu về pháp luật tố tụng hành chính. Đây là đề tài khơng mới
nhưng đến nay, rất ít cơng trình khoa học pháp lý hay bài viết nào nghiên cứu một
cách toàn diện, độc lập và trực tiếp về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt dưới góc độ
nghiên cứu của Luật TTHC hiện hành. Theo đó, chế định đình chỉ giải quyết VAHC
mới chỉ được tiếp cận gián tiếp hoặc thơng qua một số khía cạnh nhỏ trong các sách
chun khảo, bài báo, bài viết trên ấn phẩm, tạp chí hoặc được thảo luận tại các diễn
đàn, hội nghị. Một số cơng trình nghiên cứu có đề cập một số khía cạnh liên quan
đến đình chỉ giải quyết VAHC như sau:
- Có thể kể đến các Luận văn:
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Yến Mai “Xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính thuộc thẩm quyền của Tịa án nhân dân cấp tỉnh” (bảo vệ năm 2013)
đề cập đến nội dung xét xử sơ thẩm VAHC thông qua thẩm quyền của TAND cấp
3
tỉnh. Trong Luận văn này, tác giả có đánh giá sơ bộ về đình chỉ giải quyết VAHC
với tư cách là một trong những quyết định tố tụng mà Tòa án có thể ban hành
trong q trình xét xử sơ thẩm VAHC. Chính vì vậy, quy định về đình chỉ giải
quyết VAHC mới chỉ dừng lại ở mức độ phác thảo sơ bộ như một quy định pháp
luật có liên quan đến quá trình xét xử sơ thẩm VAHC.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Huyền “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án hành chính” (bảo vệ năm 2014) có đánh giá về đình chỉ giải quyết VAHC một trong những quyết định tố tụng mà Tòa án có thể ban hành tại giai đoạn chuẩn
bị xét xử sơ thẩm nhằm đánh giá tầm quan trọng của giai đoạn này - là giai đoạn
tiếp theo của quá trình tố tụng, kể từ ngày VAHC được thụ lý cho đến khi khai
mạc phiên tòa sơ thẩm. Tương tự như Luận văn trên, chế định đình chỉ giải quyết
VAHC trong cơng trình khoa học này khơng được tiếp cận một cách cụ thể. Theo
đó, Luận văn chỉ dừng lại ở mức độ phân tích các căn cứ đình chỉ chứ chưa nghiên
cứu toàn diện về chế định này trên các phương diện khác và được viết theo Luật
TTHC năm 2010.
Luận văn cử nhân của tác giả Nguyễn Thùy Linh “Thủ tục phúc thẩm vụ án
hành chính: Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” (bảo vệ năm 2013). Luận văn
này phân tích khá chi tiết những vấn đề lý luận và pháp lý về thủ tục phúc thẩm
VAHC cũng như thực trạng và phương hướng hoàn thiện thủ tục phúc thẩm
VAHC. Tuy nhiên, vì nội dung chính của cơng trình này là tập trung vào giai đoạn
phúc thẩm nên đình chỉ giải quyết VAHC chỉ là vấn đề được khái quát sơ bộ trong
sự tương quan so sánh với quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm được ban hành
trong giai đoạn phúc thẩm, dưới góc độ nghiên cứu của Luật TTHC năm 2010.
Luận văn cử nhân của tác giả Nguyễn Thục Đoan “Đình chỉ giải quyết vụ
án hành chính” (bảo vệ năm 2013) đã đánh giá một cách toàn diện và trực tiếp các
quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về đình chỉ giải quyết VAHC.
Tuy vậy, vì thời điểm thực hiện cơng trình là vào năm 2013 nên luận văn nói trên
chỉ tiếp cận chế định này theo quy định của Luật TTHC năm 2010.
Luận văn cử nhân của tác giả Trương Nguyễn Nhật Hồng “Tạm đình chỉ
giải quyết vụ án hành chính” (bảo vệ năm 2017). Luận văn này tập trung phân tích
những vấn đề chung về tạm đình chỉ giải quyết VAHC cũng như thực trạng và giải
pháp hoàn thiện quy định này. Theo đó, tác giả có đề cập đến đình chỉ giải quyết
VAHC, tuy nhiên chỉ phác thảo sơ lược trong sự tương quan với tạm đình chỉ giải
quyết VAHC – nội dung trọng tâm mà tác giả này nghiên cứu.
4
Nhìn chung, các cơng trình khoa học nói trên chỉ đề cập đến đình chỉ giải
quyết VAHC một cách gián tiếp, ở phạm vi tương đối hẹp. Hơn hết, chúng chỉ tiếp
cận đình chỉ giải quyết vụ án dưới góc độ nghiên cứu của Luật TTHC năm 2010. Về
cơ bản, một số quy định pháp luật đã bị thay thế, sửa đổi hoặc bãi bỏ. Do vậy,
những vấn đề liên quan trực tiếp đến chế định này vẫn chưa được nghiên cứu
chun sâu, tồn diện và đầy đủ ở khía cạnh lý luận và thực tiễn theo quy định của
pháp luật hiện hành.
- Bên cạnh đó là một số cơng trình khoa học nghiên cứu về đình chỉ giải
quyết VAHC hoặc một số khía cạnh khác của nội dung này, được thể hiện thông
qua các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học như: “Trao đổi một số vấn đề về
quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính của tịa án” của
tác giả Vương Văn Bép, Tạp chí Kiểm sát số 24/2016; “Nâng cao hiệu quả xét xử
sơ thẩm vụ án hành chính” của tác giả Nguyễn Thị Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, số 18 (346)/2017; “Một số vấn đề về trình tự, thủ tục và kỹ năng xét xử vụ án
hành chính tại phiên tịa sơ thẩm” của tác giả Phạm Cơng Hùng, Tạp chí Tịa án
nhân dân số 02/2012; “Vướng mắc khi giải quyết đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”
của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền, Tạp chí Kiểm sát số 06/2020; “Những vấn đề
cơ bản về đình chỉ giải quyết các vụ án dân sự” của tác giả Tưởng Duy Lượng, Tạp
chí Tịa án nhân dân số 07/2012; “Kinh nghiệm pháp luật về ban hành quyết định
hành chính của Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc” của tác giả Phạm Hồng Quang, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 12/2014; …
Có thể nói, phần lớn bài viết nêu trên tiếp cận đình chỉ giải quyết VAHC một
cách gián tiếp, thông qua một số nội dung liên quan đến chế định này như phiên tịa
sơ thẩm VAHC, tạm đình chỉ giải quyết VAHC... Ngồi ra, có nhiều đề tài, bài viết
nghiên cứu về đình chỉ giải quyết vụ án nhưng những đề tài này không tập trung ở
lĩnh vực tố tụng hành chính, mà thuộc lĩnh vực dân sự, hình sự. Chẳng hạn như đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;…Điều này có
thể xuất phát từ nguyên nhân tố tụng hành chính là lĩnh vực tố tụng cịn khá mới
mẻ, án hành chính là loại án khá mới so với án hình sự, dân sự; các quy định pháp
luật chưa được phổ biến rộng rãi và nhận được sự quan tâm từ dư luận xã hội…
Các bài viết, cơng trình nghiên cứu này được tham khảo và một số vấn đề
liên quan sẽ được tác giả trích dẫn trong Luận văn của mình.
Nói tóm lại, qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng, tính đến thời điểm hiện
nay, chưa có một cơng trình khoa học nào đánh giá một cách có hệ thống và tồn
diện các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết VAHC cũng như thực tiễn thi
5
hành các quy định này theo pháp luật hiện hành. Đa phần những tài liệu nghiên cứu
nói trên mới chỉ đề cập một cách sơ lược hoặc nếu có chuyên sâu cũng chỉ dừng lại
ở góc độ nghiên cứu của Luật TTHC năm 2010. Mặc dù vậy, các cơng trình nói trên
đều là những thành tựu có giá trị rất lớn trong việc kế thừa và phát triển đề tài.
Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các kết quả nghiên cứu về đình
chỉ giải quyết VAHC ở góc độ lý luận, đánh giá thực trạng của pháp luật qua thực
tiễn thực hiện, để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện chế định này là nhiệm
vụ hết sức cần thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề lý luận và quy định
của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành xoay quanh chế định đình chỉ giải quyết
VAHC. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về đình
chỉ giải quyết VAHC, tác giả nêu lên thực trạng áp dụng các quy định này trong
thực tiễn xét xử và rút ra những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng quy định này
dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả. Qua đó, đề xuất một số giải pháp mang tính
tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các VAHC, bảo đảm quyền,
lợi ích thiết thực cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức và Nhà nước nói chung.
Để thực hiện được mục tiêu đó, đề tài có những nhiệm vụ sau:
1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định đình chỉ giải quyết VAHC
theo quy định pháp luật thực định. Đồng thời, phân tích những quy định
chung của đình chỉ giải quyết VAHC về căn cứ ban hành, thẩm quyền ban
hành và hậu quả pháp lý của việc ban hành quyết định này, lần lượt qua các
giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
2. Nêu lên thực trạng của đình chỉ giải quyết VAHC, trên hai khía cạnh: quy
định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành chế định này.
3. Trình bày một số kiến nghị mang tính tham khảo đối với chế định đình chỉ
giải quyết VAHC. Bao gồm các giải pháp góp phần hồn thiện quy định
pháp luật và thực tiễn thi hành chế định này.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài mang tên “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính”. Trước hết, nội dung
mà đề tài hướng đến là những vấn đề có trọng tâm về đình chỉ giải quyết VAHC,
thơng qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, hậu quả pháp lý của chế định
này nói chung và trong từng giai đoạn tố tụng nói riêng.
Trên cơ sở nghiên cứu tồn diện các vấn đề lý luận kết hợp quy định pháp
luật thực định, luận văn đi sâu vào việc phân tích thực trạng của đình chỉ giải quyết
6
VAHC trên phương diện quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành. Về mặt lý
luận, đình chỉ giải quyết VAHC cần được ban hành dựa trên những căn cứ, thẩm
quyền và trình tự, thủ tục luật định. Về mặt thực tiễn, nêu lên một số bất cập, vướng
mắc trong việc áp dụng quy định này trong quá trình giải quyết VAHC. Từ đó, đề
xuất một số kiến nghị, phương hướng sửa đổi trên hai góc độ này.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, những
mục tiêu, nhiệm vụ trong chiến lược cải cách tư pháp của nước ta giai đoạn hậu
2020 “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” cùng những luận điểm khoa học trong
các cơng trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và bài viết của một số tác giả.
Nhằm nghiên cứu, đánh giá một cách sâu sắc, tồn diện quy định pháp luật
về đình chỉ giải quyết VAHC trên phương diện pháp lý và thực tiễn, trong cơng
trình khoa học này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu liệt kê, phân tích,
bình luận, chứng minh, kết hợp lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết các nội dung
nghiên cứu dưới góc nhìn lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh,
đối chiếu cũng được sử dụng nhằm đánh giá chế định này trong mối tương quan với
các văn bản pháp luật trước đó hoặc các văn bản liên quan có nội dung tương ứng.
Ngồi ra, tác giả cịn sử dụng phương pháp thống kê - được thể hiện thông qua số
vụ án được giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm trên tổng số vụ án
được thụ lý theo số liệu tổng kết trong các báo cáo của ngành Tòa án qua các năm,
nhằm đánh giá chất lượng giải quyết VAHC. Đồng thời, phương pháp tổng hợp,
quy nạp, đánh giá, tổng kết cũng được áp dụng, đối với từng quan điểm, từng luận
cứ, luận điểm mà tác giả làm rõ hoặc đề cập. Theo đó, các phương pháp nghiên cứu
nói trên được sử dụng phối hợp, đan xen trong toàn luận văn.
6. Bố cục của Luận văn
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; tình hình nghiên cứu đề tài; mục đích,
nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài; giới hạn phạm vi nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu của đề tài.
Phần nội dung: gồm 02 Chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.
Chương 2: Thực trạng và kiến nghị hồn thiện chế định đình chỉ giải quyết
vụ án hành chính.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm và đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
1.1.1. Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Luật TTHC năm 2015 ra đời và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016
đã kế thừa cơ bản những quy định pháp luật trước đó về VAHC và giải quyết
VAHC, đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới như bổ sung các quy định
liên quan đến thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm; về đối thoại, về người tiến hành tố tụng,
về kế thừa quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính,… cùng nhiều nội dung quan
trọng khác. Bên cạnh những điểm đáng chú ý, quy định của Luật TTHC năm 2015
về “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” là một trong những nội dung nổi bật.
Quá trình giải quyết VAHC theo Luật TTHC năm 2015 có thể trải qua các
giai đoạn: khởi kiện và thụ lý vụ án; chuẩn bị xét xử sơ thẩm; xét xử sơ thẩm; xét
xử phúc thẩm; giám đốc thẩm, tái thẩm và cuối cùng là thi hành án. Tuy nhiên,
không phải mọi VAHC đều trải qua lần lượt và tất cả 06 giai đoạn trên, mà tùy tính
chất, tùy trường hợp cụ thể, nhiều vụ án có thể chỉ trải qua một vài giai đoạn2. Nhìn
chung, một VAHC thường trải qua tối thiểu hai giai đoạn: giai đoạn khởi kiện, thụ
lý vụ án và giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Theo đó, q trình tố tụng chính thức
được khởi động từ giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án. Sau khi nhận đơn khởi kiện,
Tòa án tiến hành xem xét đơn3 và nếu thỏa mãn các điều kiện để thụ lý, Tịa án ra
thơng báo thụ lý vụ án và q trình tố tụng hành chính chuyển sang giai đoạn chuẩn
bị xét xử. Trong giai đoạn này, Tịa án có thể ban hành quyết định tố tụng4, trong đó
có những quyết định ảnh hưởng đến việc tiếp tục hay không q trình giải quyết vụ
2
Chẳng hạn như trường hợp Tịa án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử thì vụ án sẽ ngừng lại ngay ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm; hoặc bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật nhưng hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị vẫn khơng có kháng cáo, kháng nghị thì chỉ dừng ở giai
đoạn sơ thẩm và không trải qua thủ tục xét xử phúc thẩm.
3
Tịa án có thể ban hành một trong các quyết định: Thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết;
chuyển đơn khởi kiện cho Tịa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án khác; trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó khơng thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án. Hoặc tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để
giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại Khoản 1 Điều 246 Luật TTHC năm 2015.
4
Trong giai đoạn này, Tịa án có thể ban hành một trong các quyết định: quyết định đưa vụ án ra xét xử;
quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
8
án. Trong trường hợp ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC, quá trình giải
quyết VAHC sẽ bị chấm dứt.
Trên thực tế, VAHC có thể bị chấm dứt hẳn khi xuất hiện các căn cứ được
pháp luật quy định. Nói cách khác, khi xuất hiện một trong các căn cứ làm cho vụ
án khơng thể tiếp tục, Tịa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi
Tịa án ban hành quyết định này, q trình tố tụng sẽ chấm dứt ngay và điều này dẫn
đến khả năng đương sự có khả năng khơng được khởi kiện trở lại5. Chính vì tầm
quan trọng của đình chỉ giải quyết VAHC nên việc làm rõ khái niệm này sẽ giúp
nhận thức đúng bản chất, tránh nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật. Đồng thời,
việc nắm bắt quy định pháp luật về đình chỉ ở từng giai đoạn giúp hiểu rõ từng căn
cứ áp dụng, thẩm quyền ban hành, hậu quả pháp lý… để đương sự, đặc biệt là các
cơ quan có thẩm quyền áp dụng một cách chính xác và phù hợp trong thực tiễn. Tuy
nhiên, hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm
đình chỉ giải quyết VAHC. Vì vậy, trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn thi
hành còn nhiều cách hiểu khác nhau. Do đó, khi nghiên cứu khái niệm này, chúng ta
cần phải tiếp cận dưới nhiều góc độ. Cụ thể là ở góc độ ngơn ngữ học, khoa học
pháp lý và các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính.
Xét ở góc độ ngơn ngữ học, đình chỉ có nghĩa là “ngừng lại hoặc làm cho
phải ngừng lại trong một thời gian hay vĩnh viễn” (đình: ngừng lại)6; vụ là “việc,
sự việc không hay, rắc rối cần phải giải quyết”7; hành chính là “thuộc phạm vi chỉ
đạo, quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách của Nhà nước”8. Trong khi đó,
thuật ngữ “vụ án hành chính” là thuật ngữ pháp lý chuyên ngành, không được định
nghĩa trong từ điển phổ thơng. Nhưng có thể hiểu đơn giản, VAHC là vụ án phát
sinh trên cơ sở tranh chấp trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước và được Tịa
án có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Như vậy, các khái niệm nêu trên đều cho rằng đình chỉ vụ án là việc ngừng
giải quyết một VAHC – liên quan đến nội dung tranh chấp là quyết định hành chính
hoặc hành vi hành chính. Nhìn chung, các khái niệm này đưa ra khá đơn giản và
khơng phản ánh được bản chất của đình chỉ giải quyết VAHC, khi chỉ đề cập đến
5
Trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123, điểm b và điểm đ
khoản 1 Điều 143 của Luật TTHC năm 2015 và trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì đương sự
được quyền khởi kiện lại.
6
Viện Ngơn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 324.
7
Viện Ngôn ngữ học, tlđd 6, tr.1130.
8
Viện Ngôn ngữ học, tlđd 6, tr.422.
9
đình chỉ có nghĩa là ngừng giải quyết VAHC trong một thời gian hay vĩnh viễn.
Trong khi đó, với Từ điển Bách khoa, đình chỉ vụ án là “việc các cơ quan tố tụng
quyết định kết thúc vụ án khi có những căn cứ luật định”9. Có thể thấy, khái niệm
đình chỉ vụ án này rõ ràng hơn các khái niệm nêu trên rất nhiều song vẫn còn khá
chung chung, chưa phản ánh cụ thể bản chất của đình chỉ giải quyết vụ án ở từng
lĩnh vực tố tụng, trong đó có tố tụng hành chính là như thế nào.
Khi tiếp cận nội dung này dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhà luật học và
một vài tài liệu khoa học giảng dạy có đưa ra những quan điểm tham khảo về đình
chỉ giải quyết vụ án. Chẳng hạn, đình chỉ giải quyết VAHC là “việc chấm dứt (hay
ngừng) hồn tồn việc giải quyết vụ án hành chính khi có các căn cứ do Luật Tố
tụng hành chính quy định”10. Một quan điểm khác lại cho rằng, đình chỉ vụ án là
“một trong những cách thức cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc vụ án khi có những
căn cứ do pháp luật quy định”11. Trong quyển 900 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam,
đình chỉ giải quyết vụ án được giải thích là “sau khi Tịa án đã thụ lý vụ án phát
hiện thấy những căn cứ do luật qui định không cho phép tiếp tục giải quyết vụ án
mà phải thực hiện việc ngừng giải quyết vụ án”12.
Bên cạnh đó, theo quan điểm Giáo trình Luật TTHC Việt Nam của Trường
Đại học Luật Hà Nội, đình chỉ giải quyết VAHC là “việc Thẩm phán được phân
công làm chủ phiên tòa hoặc Hội đồng xét xử ra quyết định chấm dứt việc giải
quyết vụ án khi có một trong các căn cứ theo quy định của pháp luật”13. Trong khi
đó, quan điểm của Giáo trình Luật TTHC Việt Nam của Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh lại xem đình chỉ giải quyết VAHC là “việc Tịa án có thẩm quyền sau
khi thụ lý vụ án phát hiện những căn cứ theo quy định của pháp luật đã ra quyết
định chấm dứt việc giải quyết vụ án”14. Có thể thấy, cách giải thích đình chỉ giải
9
Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam tập
1, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr.815.
10
Đồn Tấn Minh (2011), Bình luận khoa học Luật tố tụng hành chính và các văn bản áp dụng giải quyết
các khiếu nại hành chính tại Tịa, NXB Lao động, tr.104.
11
Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa – NXB Pháp lý,
Hà Nội, tr.263.
12
Nguyễn Ngọc Diệp, Đinh Thị Ngọc Dung (1996), 900 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB Thành phố Hồ
Chí Minh, tr.291.
13
Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 299.
14
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, NXB Hồng Đức –
Hội Luật Gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 416.
10
quyết VAHC ở những tài liệu này tập trung vào việc Tòa án sẽ quyết định chấm dứt
việc giải quyết vụ án khi phát hiện các căn cứ đình chỉ theo quy định pháp luật là
tương đối chính xác và đầy đủ, khi tiếp cận khái niệm đình chỉ giải quyết VAHC
thông qua căn cứ ban hành và chủ thể có thẩm quyền ban hành.
Trong tố tụng dân sự, khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án được hiểu là “hành
vi tố tụng sau khi thụ lý vụ án của Tịa án có thẩm quyền. Quyết định đình chỉ vụ án
được ban hành khi phát hiện có một trong các căn cứ do pháp luật quy định. Quyết
định đình chỉ vụ án là căn cứ làm chấm dứt quá trình giải quyết vụ án. Là quyết
định có ý nghĩa và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tố tụng của Tòa án”15. Những
vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý giải quyết, nếu có quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án, đồng nghĩa rằng quá trình giải quyết vụ án dân sự sẽ chấm dứt. Với tố tụng
hình sự, đình chỉ giải quyết vụ án được xem là “quyết định chấm dứt việc tiến hành
các hoạt động tố tụng đối với vụ án hoặc đối với từng bị can khi có những căn cứ
do Bộ luật tố tụng hình sự quy định”16.
Dưới góc độ văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hành chính, hiện nay
khơng có văn bản nào đưa ra khái niệm về đình chỉ giải quyết VAHC. Trước thời
điểm ban hành Luật TTHC năm 2010 và Luật TTHC năm 2015 (được sửa đổi, bổ
sung năm 2019), thủ tục tố tụng hành chính được giải quyết dựa trên Pháp lệnh Thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và
năm 2006) nên quan niệm về VAHC được hiểu là những trình tự, thủ tục giải quyết
các tranh chấp giữa người khởi kiện với cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính nhà nước, liên quan đến đối tượng khởi kiện là quyết định hành
chính hoặc hành vi hành chính. Đối với quy định pháp luật hiện hành, Luật TTHC
năm 2015 mới chỉ quy định căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục ra quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án trong từng giai đoạn tố tụng mà chưa đưa ra khái niệm thế nào
là đình chỉ giải quyết VAHC. Như vậy, khái niệm đình chỉ giải quyết VAHC chưa
được định nghĩa một cách rõ ràng trong các văn bản pháp luật.
Qua việc tiếp cận khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dưới nhiều góc độ, tác
giả nhận thấy rằng, tuy khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án được diễn đạt bằng
nhiều cách khác nhau, cả trên phương diện đời sống lẫn pháp lý nhưng đều có điểm
chung ở chỗ: đưa ra được những đặc điểm cơ bản của đình chỉ giải quyết vụ án là
15
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 342.
16
Trường Đại học Luật Tp.HCM (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội
Luật Gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 493.
11
chấm dứt quá trình giải quyết vụ án khi phát sinh những căn cứ được quy định bởi
pháp luật. Như vậy, bản chất pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa
án sẽ chấm dứt quá trình tố tụng khi phát hiện những căn cứ đình chỉ luật định.
Tóm lại, trên cơ sở tiếp cận khái niệm đình chỉ giải quyết VAHC dưới góc
độ ngơn ngữ học, khoa học pháp lý và quy định của pháp luật tố tụng hành chính,
theo tác giả, “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là một thủ tục tố tụng của Tịa
án, theo đó Tịa án có thẩm quyền sẽ ra quyết định chấm dứt việc giải quyết vụ án
sau khi phát hiện các căn cứ đình chỉ theo quy định pháp luật”.
1.1.2. Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Về ngun tắc, trong q trình giải quyết vụ án, nếu Tòa án phát hiện một
trong những căn cứ đình chỉ giải quyết VAHC được pháp luật quy định, Tịa án sẽ
ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và quá trình tố tụng chấm dứt hẳn17.
Từ khái niệm nêu trên, tác giả rút ra những đặc điểm cơ bản của đình chỉ giải quyết
VAHC. Đó là:
Thứ nhất, về thời điểm phát sinh căn cứ đình chỉ giải quyết VAHC:
Những căn cứ đình chỉ mà Luật TTHC quy định là những trường hợp phát
sinh sau khi vụ án được Tòa án thụ lý giải quyết. Nói cách khác, quyết định đình chỉ
giải quyết VAHC chỉ được ban hành sau khi Tòa án thụ lý vụ án. Bởi lẽ, chỉ sau khi
vụ án được thụ lý, đang trong quá trình tiến hành tố tụng thì Tịa án – bằng các hoạt
động nghiệp vụ của mình, chẳng hạn như tiến hành xác minh tài liệu, chứng cứ mà
đương sự đã giao nộp hoặc Tòa án tự mình thu thập chứng cứ cùng những cơng việc
khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát hiện ra các căn cứ nhằm đưa ra quyết định
đình chỉ giải quyết VAHC một cách chính xác, khách quan. Thêm vào đó, thông
qua hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành sau khi thụ lý vụ án, Tịa án sẽ có
cơ sở vững chắc, khẳng định chắc chắn hơn những căn cứ đình chỉ được áp dụng.
Nói cách khác, sau khi vụ án đảm bảo các điều kiện thụ lý18, Tòa án mới ban
hành thông báo thụ lý vụ án19 và q trình giải quyết hành chính tiếp tục chuyển
sang giai đoạn sơ thẩm. Tại giai đoạn này, nếu vụ án phát sinh những căn cứ đình
chỉ luật định, Tịa án sẽ ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC. Như vậy,
17
Trừ một số trường hợp đương sự được quyền khởi kiện lại theo quy định tại Khoản 1 Điều 144 Luật TTHC
năm 2015.
18
Điều kiện để Tòa án thụ lý VAHC là vụ án đó khơng thuộc trường hợp phải trả, chuyển đơn khởi kiện và
đương sự xuất trình được biên lai đóng tạm ứng án phí (trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền
tạm ứng án phí hoặc khơng phải nộp tiền tạm ứng án phí).
19
Điều 125 Luật TTHC năm 2015.
12
quyết định đình chỉ giải quyết VAHC chỉ có thể được ban hành sau khi thụ lý
VAHC.
Ngược lại, trong trường hợp chưa thụ lý vụ án mà Tòa án phát hiện ra những
căn cứ luật định sẽ không gọi là đình chỉ mà là “trả lại đơn khởi kiện” cho cá nhân,
cơ quan, tổ chức khởi kiện20. Vì ở giai đoạn này, Thẩm phán được phân công xem
xét đơn khởi kiện mới chỉ nhận đơn khởi kiện và vẫn đang trong thời gian xem xét.
Giả sử phát sinh một trong các căn cứ để trả lại đơn khởi kiện, Tòa án sẽ có văn bản
trả lại đơn khởi kiện. Nói cách khác, lúc này vụ án chưa phát sinh nên dù có căn cứ
cũng khơng gọi là đình chỉ giải quyết VAHC mà là “trả lại đơn khởi kiện”.
Thứ hai, về căn cứ đình chỉ giải quyết VAHC:
Căn cứ đình chỉ giải quyết hành chính được quy định tại nhiều điều khoản
trong Luật TTHC năm 2015, cụ thể nhất là tại Điều 143 và một số điều khoản khác
được dẫn chiếu. Việc làm sáng tỏ nội dung của những căn cứ này khơng những có ý
nghĩa trong việc đảm bảo cho cơ quan tiến hành tố tụng ban hành quyết định một
cách chính xác mà cịn giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng, khách quan.
Theo đó, những căn cứ đình chỉ giải quyết VAHC được thể hiện trong Luật
TTHC là những căn cứ được quy định bởi pháp luật, thể hiện một cách rõ ràng, cụ
thể trong trường hợp nào sẽ chấm dứt việc giải quyết vụ án. VAHC, nếu rơi vào
một trong các căn cứ đình chỉ được quy định thì tiến trình tố tụng sẽ bị chấm dứt
hồn tồn. Chính vì hệ quả mang lại của đình chỉ giải quyết hành chính là chấm dứt
ngay q trình giải quyết vụ án và có thể gây ra những thiệt hại nhất định đến
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, do vậy, căn cứ đình chỉ phải đảm bảo là
những căn cứ do pháp luật quy định và Tịa án có trách nhiệm thực hiện đúng quy
định pháp luật về áp dụng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án. Tịa án khơng thể áp
dụng căn cứ dựa theo ý chí chủ quan để ra quyết định đình chỉ giải quyết VAHC.
Nói khác đi, những căn cứ này là cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó ban
hành quyết định chấm dứt hồn tồn việc giải quyết vụ án mà không phải tiến hành
xét xử thông qua quyết định đưa vụ án ra xét xử hay tạm đình chỉ giải quyết VAHC
khi xuất hiện căn cứ tạm đình chỉ. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền, trong phạm vi
nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm áp dụng đúng đắn những quy định
của pháp luật để đưa ra quyết định đình chỉ giải quyết VAHC một cách chính xác,
khách quan và cơng bằng.
Thứ ba, về thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC:
20
Khoản 1 Điều 123 Luật TTHC năm 2015.
13
Như đã trình bày ở đặc trưng pháp lý thứ nhất, những căn cứ đình chỉ giải
quyết VAHC là những căn cứ được quy định bởi Luật TTHC. Vì vậy, việc đình chỉ
VAHC đương nhiên phải do người có thẩm quyền ra quyết định, tuân theo những
trình tự, thủ tục được quy định trong Luật TTHC.
Việc tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án được thể hiện thông qua vai trò của
Tòa án – cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc HĐXX. Thẩm
phán được phân cơng giải quyết vụ án là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình
chỉ giải quyết VAHC trước khi phiên tòa diễn ra. Còn tại phiên tòa, HĐXX sẽ đưa
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Quy định này xuất phát từ tính hiệu quả trong tiến trình giải quyết VAHC nói
riêng và những vụ án khác nói chung, từ khâu xem xét đơn, ra quyết định thụ lý vụ
án nếu đủ điều kiện thụ lý cho đến khi vụ án được đem ra giải quyết. Theo đó,
hướng giải quyết vụ án từ Tịa án cũng chính là kết luận của tồn bộ q trình tố
tụng đã được thực hiện từ khi quy trình giải quyết vụ án hành chính được khởi
động. Việc Thẩm phán xem xét đơn, thụ lý vụ án, đồng thời được phân công xét xử,
tạo thành một vịng khép kín từ khâu xét đơn đến xét xử sẽ tạo nhiều điều kiện
thuận lợi để họ đưa ra quyết định một cách đúng đắn vì thơng qua q trình nghiên
cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, họ sẽ hiểu rõ bản chất VAHC đó như thế nào, tranh
chấp này diễn biến ra sao để có hướng xử lý sao cho cơng tâm nhất. Ngồi Thẩm
phán, HĐXX cũng có thẩm quyền này tại phiên tịa vì đây là chủ thể có thẩm quyền
cao nhất tại phiên tòa. Hơn nữa, HĐXX là chủ thể nắm rõ bản chất vụ án, thông qua
việc nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ, do đó, họ sẽ đưa ra quyết định một cách phù hợp.
Thứ tư, về hậu quả pháp lý của việc ban hành quyết định đình chỉ giải
quyết VAHC:
Vì là một hình thức kết thúc hoạt động tố tụng và có thể được áp dụng trong
các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án nên quyết định đình chỉ giải
quyết VAHC khi được ban hành ở mỗi giai đoạn sẽ có những tên gọi khác nhau.
Chẳng hạn, nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm sẽ kết thúc
bằng quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn xét xử
phúc thẩm sẽ kết thúc bằng quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm…
Ngồi ra, đình chỉ giải quyết vụ án phải được Tịa án thực hiện bằng việc ban
hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC. Sau khi các chủ thể có thẩm quyền ban
hành, quyết định này sẽ có hiệu lực đối với tất cả các đương sự trong vụ án này. Nói
khác đi, sau khi quyết định được ban hành, tiến trình tố tụng sẽ chấm dứt, những
đương sự trong vụ án đó sẽ khơng có quyền khởi kiện u cầu Tòa án giải quyết lại
14
vụ án đó, nếu việc khởi kiện này khơng có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người
khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, ngoại trừ một số trường
hợp ngoại lệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 144 Luật TTHC năm 2015 (sẽ được
phân tích ở phần sau).
Khơng chỉ ảnh hưởng đến quá trình tố tụng, đình chỉ giải quyết quyết vụ án
còn dẫn đến những hệ quả khác về mặt án phí, lệ phí và chi phí tố tụng. Theo đó, số
tiền án phí và lệ phí đương sự đã nộp sẽ được sung vào công quỹ Nhà nước hoặc trả
lại cho người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tùy từng trường hợp do Pháp lệnh án phí,
lệ phí quy định.
Thứ năm, quyết định đình chỉ giải quyết VAHC là đối tượng kháng cáo,
kháng nghị:
Trong thực tiễn giải quyết VAHC, có rất nhiều trường hợp Tịa án ban hành
quyết định đình chỉ giải quyết khơng đúng quy định pháp luật, chẳng hạn như vi
phạm về mặt thẩm quyền, hoặc vụ án khơng thuộc các trường hợp phải đình chỉ
song Tịa án vẫn ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án…Điều này đã gây tác động
không nhỏ đến quyền và lợi ích chính đáng của đương sự và uy tín của ngành Tịa
án. Vì vậy, thực hiện ngun tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử”21, đảm bảo chế
độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Luật TTHC cho phép đương sự có quyền kháng cáo
quyết định đình chỉ giải quyết VAHC. Theo đó, đương sự hoặc Viện kiểm sát22 có
quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chưa có hiệu lực
pháp luật, trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Ngoài ra, quyết định đình chỉ giải quyết VAHC cịn có thể bị kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo đó, chủ thể có thẩm quyền23 có quyền
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có các
căn cứ, điều kiện giám đốc thẩm và tái thẩm theo quy định24.
21
Trừ khiếu kiện về danh sách cử tri theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật TTHC năm 2015.
22
Cụ thể là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị.
23
Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao hoặc của Tòa án khác khi
xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tịa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện trong
phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
24
Khoản 1 Điều 255 và Điều 281 Luật TTHC năm 2015.
15
Những quy định này thực sự phát huy tính dân chủ trong quá trình giải quyết
VAHC, mặt khác, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của ngành Tòa án khi giải quyết
VAHC nói chung, đưa ra quyết định đình chỉ giải quyết VAHC nói riêng.
Thứ sáu, về mối quan hệ với tạm đình chỉ giải quyết VAHC:
Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VAHC đều là những quyết định tố tụng mà
Tịa án có thể ban hành khi phát hiện những căn cứ luật định. Tuy nhiên, xét về mặt
bản chất, giữa chúng có sự khác nhau.
Tạm đình chỉ giải quyết VAHC chỉ là tạm ngừng các hoạt động tố tụng, tạm
ngưng việc giải quyết vụ án trong một khoảng thời gian nhất định khi phát hiện căn
cứ tạm đình chỉ và vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết nếu căn cứ tạm đình chỉ khơng
cịn. Sự tạm ngưng trong một khoảng thời gian này nhằm mục đích bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp cho đương sự, đồng thời, góp phần giải quyết đúng đắn, khách
quan VAHC. Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VAHC là việc chấm dứt
hẳn quá trình giải quyết VAHC. Kể từ đây, mọi hoạt động tố tụng coi như ngừng
lại. Các đương sự khơng có quyền khởi kiện lại, trừ một số trường hợp ngoại lệ có
thể khởi kiện lại theo quy định của pháp luật hiện hành.
1. 2. Ý nghĩa
Mặc dù chỉ là một nội dung nhỏ được quy định trong Luật TTHC, tuy nhiên
đình chỉ giải quyết VAHC có những ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, xã hội và
thực tiễn, góp phần quan trọng vào q trình giải quyết VAHC, cụ thể như sau:
1.2.1. Ý nghĩa chính trị, xã hội:
Đình chỉ giải quyết VAHC nói riêng, cùng những quy định pháp Luật TTHC
nói chung được sửa đổi cho phù hợp với bối cảnh mới đã góp phần đẩy mạnh đáng
kể tiến trình cải cách tư pháp đang diễn ra hết sức mạnh mẽ ở nước ta hiện nay và
“có tác dụng tích cực trong việc kiểm sốt nền hành chính”25. Theo đó, việc xây
dựng và ban hành Luật TTHC hiện hành với những quy định được sửa đổi, bổ sung,
trong đó có đình chỉ giải quyết VAHC cịn nhằm mục đích tăng cường cơng tác
kiểm tra, thanh tra, giám sát của Nhà nước về tính hợp pháp của các quyết định,
hành vi hành chính do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong các cơ
quan nhà nước ban hành và thực hiện; góp phần đảm bảo tính đồng bộ và thống
nhất của hệ thống pháp luật; bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng cho cơng dân.
Ngồi ra, khi nhìn nhận dưới góc độ con người và quyền con người, sự ra đời
của Luật TTHC năm 2015 với những nội dung tiến bộ, trong đó có quy định về đình
25
Nguyễn Thị Hà (2017), “Nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, 18 (346), tr. 22.
16
chỉ giải quyết VAHC được xem là cơ sở và điều kiện quan trọng để bảo đảm và
phát huy hơn nữa “quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”26, làm
sáng rõ tinh thần nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt trong bối
cảnh lĩnh vực tố tụng hành chính nước ta vẫn còn khá non trẻ, mới mẻ với đại bộ
phận người dân; các quy định pháp luật lại chưa được phổ biến rộng rãi; án hành
chính là loại án mới so với án hình sự, dân sự; mặt khác lại khá khó và phức tạp.
Thêm vào đó, việc quy định đình chỉ giải quyết VAHC cịn nhằm mục đích
đảm bảo cơng bằng, bình đẳng trong xã hội, khơng để vụ án nào bị đình chỉ giải
quyết nếu như khơng dựa vào những căn cứ được pháp luật quy định.
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Một là, quyết định đình chỉ giải quyết VAHC là điều kiện để đương sự thực
hiện quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bản thân mình, đặc biệt trong trường hợp Tòa án ra quyết định nhưng vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như vi phạm về mặt thẩm quyền; khơng đảm bảo
trình tự, thủ tục ra quyết định, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi đương sự và
tiến trình giải quyết VAHC nói chung.
Hai là, bảo đảm tính khách quan, chính xác và tồn diện trong cơng tác giải
quyết VAHC. Bởi lẽ, trong q trình giải quyết vụ án, bên cạnh những nguyên nhân
khách quan xuất phát từ tính chất phức tạp của vụ án, cịn có những trường hợp Tịa
án đơi khi xử lý thơng tin, phân tích các chứng cứ thu thập được chưa khoa học, đầy
đủ và thận trọng,… nên có thể dẫn đến ban hành quyết định không đúng, đưa ra
phán quyết thiếu công bằng, khách quan,… Việc quy định căn cứ đình chỉ giải
quyết VAHC được xem là cơ sở pháp lý vững chắc để đương sự và Tòa án cấp trên
xem xét quyết định đình chỉ giải quyết VAHC của Tịa án cấp dưới có đúng pháp
luật, có dựa vào những căn cứ được quy định bởi pháp luật hay khơng.
Hơn nữa, xây dựng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án cịn thể hiện tính thượng
tơn pháp luật - một trong những ngun tắc quan trọng nhất, có tính ràng buộc đối
với mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cơng dân. Theo đó,
ngun tắc này đặt ra yêu cầu đối với Tòa án cùng các cơ quan có thẩm quyền khác
trong q trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phải chủ động, tích cực và thận trọng
trong nghiên cứu hồ sơ, rà soát tài liệu, chứng cứ để áp dụng căn cứ một cách chính
xác, tránh sự chủ quan khi ra quyết định đình chỉ, đảm bảo vụ án được xử lý khách
quan, hiệu quả.
26
Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013;
Điều 19 Luật TTHC năm 2015.
17
Do đó, nếu quyết định đình chỉ giải quyết VAHC của Tòa án cấp dưới bị
xem xét, xét xử lại bởi Tịa án cấp trên, đó sẽ là cơ sở để Tòa án cấp dưới sửa chữa,
khắc phục những sai lầm hoặc vi phạm thủ tục tố tụng (nếu có) và đúc rút kinh
nghiệm sâu sắc để giải quyết đúng đắn hơn những vụ án sau này.
Ba là, xem xét căn cứ đình chỉ giải quyết VAHC là một trong những điều
kiện cơ bản để đương sự tránh đi, hạn chế tối đa khả năng rơi vào những trường hợp
bị đình chỉ, nhất là khi họ muốn theo đuổi VAHC đến cùng. Bởi lẽ nếu vụ án đương
sự đang theo đuổi có căn cứ đình chỉ, về ngun tắc, mọi hoạt động tố tụng sẽ chấm
dứt, quy trình giải quyết vụ án sẽ ngừng lại. Trong một số trường hợp nhất định,
đương sự có thể khơng được quyền khởi kiện lại, gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền
và lợi ích hợp pháp của họ.
Bốn là, việc xây dựng những căn cứ đình chỉ giải quyết VAHC khơng chỉ có
ý nghĩa hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn tố tụng khi khơng cần thiết – trong
trường hợp Tịa án khơng phát hiện ra căn cứ để đình chỉ mà vẫn tiến hành thụ lý
giải quyết, thậm chí trải qua nhiều vòng xét xử, kể cả thi hành án dù thuộc trường
hợp phải đình chỉ, mà cịn khắc phục hiện tượng tồn đọng án, giảm bớt sự tốn kém
những chi phí khơng cần thiết cho hoạt động tố tụng nếu kéo dài. “Kiểm sát tốt ở
giai đoạn này sẽ đảm bảo Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án hành chính đúng quy định
của pháp luật, góp phần tránh lãng phí về thời gian, cơng sức, tiền của từ phía cơ
quan có thẩm quyền, cũng như của người dân, từ đó góp phần nâng cao chất lượng
giải quyết VAHC, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay”27.
1.3. Những quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án hành
chính
Đình chỉ giải quyết VAHC là quyết định có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
tố tụng của Tòa án, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Theo quy định của Luật TTHC hiện hành, đình chỉ giải quyết vụ án có thể được áp
dụng ở những giai đoạn khác nhau: giai đoạn sơ thẩm; giai đoạn phúc thẩm; giai
đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm. Tùy vào từng giai đoạn tố tụng khác nhau mà quy
định của pháp luật sẽ có sự điều chỉnh cho phù hợp, chẳng hạn như tên gọi, đặc
điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hậu quả pháp lý.
27
Vương Văn Bép (2016), “Trao đổi một số vấn đề về quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án
hành chính của tịa án”, Tạp chí Kiểm sát (24), tr. 33.
18
1.3.1. Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án:
1.3.1.1. Giai đoạn sơ thẩm:
Giai đoạn sơ thẩm (gồm chuẩn bị xét xử sơ thẩm và xét xử sơ thẩm) là giai
đoạn tiếp theo của q trình tố tụng hành chính, kể từ khi VAHC được thụ lý cho
đến khi Tòa án ra được bản án, quyết định sơ thẩm. Như những lĩnh vực tố tụng
khác, đây là giai đoạn tố tụng quan trọng, địi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải nắm
rõ quy định pháp luật để vận dụng một cách nhuần nhuyễn, trong đó có quy định về
đình chỉ giải quyết vụ án. Đó là yêu cầu cơ bản để thực thi pháp luật hiệu quả, thể
hiện vai trò của Tòa án trong lĩnh vực tư pháp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
cho cơng dân.
* Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm là giai đoạn giúp các chủ thể tố tụng chuẩn bị những
điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử cơng khai tại phiên tịa sơ thẩm. Tại giai
đoạn này, Tịa án hồn tồn có thể ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC
nếu vụ án xuất hiện căn cứ đình chỉ luật định. Theo đó, trong giai đoạn này, pháp
luật tố tụng hành chính có quy định về thủ tục đối thoại. Tương tự như “hòa giải”
của tố tụng dân sự, “đối thoại” được xem là cơ chế đặc thù trong hoạt động tố tụng
hành chính, nhằm giúp các đương sự trao đổi, bàn bạc, thảo luận về những nội
dung, yêu cầu, hướng giải quyết tranh chấp. Nội dung này là thủ tục bắt buộc trong
quá trình giải quyết vụ án28, diễn ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VAHC.
Việc người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện trong giai đoạn này thể hiện mong muốn
chấm dứt VAHC sau khi đã hiểu rõ về đối tượng khởi kiện qua cuộc đối thoại29.
Theo đó, nếu qua đối thoại mà người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện,
Thẩm phán sẽ lập biên bản về việc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện. Đồng
thời, khi nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì
28
Vụ án có khiếu kiện là danh sách cử tri, vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn, những vụ án không thể tổ
chức đối thoại được thì tính chất bắt buộc khơng đặt ra.
29
Ơng Vũ Văn T khởi kiện Chi cục thuế Chi cục thuế khu vực Lạc Sơn – Yên Thủy. Sau đó, Chi cục thuế đã
thu hồi Thông báo nộp tiền sử dụng đất và Thơng báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất mang tên ông Vũ Văn T.
Hai bên đương sự thống nhất nội dung này. Sau khi hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được thơng báo
của Tịa án về việc người bị kiện đã ban hành quyết định hành chính mới và người khởi kiện đã nộp cho Tịa
án văn bản rút đơn khởi kiện. Đồng thời, khơng có đương sự nào có ý kiến phản đối nên Tịa án ra quyết định
cơng nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Nguồn: Quyết định Số: 02/2020/QĐST-HC Ngày: 22/9/2020 về công nhận kết quả đối thoại thành và đình
chỉ giải quyết vụ án của Tịa án nhân dân huyện n Thủy, tỉnh Hịa Bình.
19
Tịa án phải thơng báo cho các đương sự khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được thơng báo, nếu các đương sự khơng có ý kiến phản đối gì thì Thẩm
phán ra quyết định cơng nhận kết quả đối thoại thành và đình chỉ việc giải quyết vụ
án.
Ngoài quy định trên, về cơ bản, các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án trong
giai đoạn sơ thẩm được Luật TTHC năm 2015 nêu tương đối cụ thể tại Khoản 1
Điều 143. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC
năm 2015 có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Tuy giai đoạn sơ thẩm nói riêng và
các giai đoạn xét xử khác nói chung, cơ sở pháp lý đình chỉ giải quyết VAHC là
khác nhau nhưng phần lớn đều viện dẫn các căn cứ chung quy định tại Khoản 1
Điều 143, bao gồm các căn cứ sau:
Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không
được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tun bố phá sản mà khơng có
cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điểm a Khoản 1
Điều 143);
Theo Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm
2019), “người khởi kiện” được hiểu là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện VAHC
đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thơi
việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết
định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước; danh sách cử tri bầu
cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân
(gọi chung là danh sách cử tri). Theo đó, khi tham gia tố tụng hành chính, người
khởi kiện sẽ có các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật30 và những
quyền, nghĩa vụ tố tụng này khi rơi vào các sự kiện pháp lý được quy định thì sẽ kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính31. Tương tự tố tụng hành chính, Điều 74
BLTTDS năm 2015 có quy định: “Đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết
mà quyền và nghĩa vụ tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố
tụng”.
Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều trường hợp người khởi kiện là cá nhân bị
chết khi vụ án đang trong quá trình giải quyết. Lúc này, vấn đề kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng chỉ đặt ra khi cá nhân đó chết và quyền, nghĩa vụ của họ được thừa kế.
Ngược lại, nếu họ chết mà quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ khơng được thừa kế thì
30
Điều 55, 56 Luật TTHC năm 2015.
31
Điều 59 Luật TTHC năm 2015.
20
không đặt ra vấn đề kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính. Vậy trong
trường hợp nào, quyền và nghĩa vụ tố tụng sẽ không được thừa kế?
Theo quy định của pháp luật dân sự, quyền và nghĩa vụ tố tụng bao gồm hai
loại: quyền, nghĩa vụ nhân thân và quyền, nghĩa vụ tài sản. Đối với quyền nhân
thân, quyền này là “quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao
cho người khác, trừ một số trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”32. Nói
cách khác, nếu VAHC có nội dung tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân thì về
nguyên tắc, quyền này sẽ “không được thừa kế”, trong trường hợp người khởi kiện
là cá nhân đã chết. Như vậy, chỉ trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của người
khởi kiện là cá nhân đã đã chết là quyền và nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế sẽ
tham gia tố tụng, còn đối với các quan hệ về nhân thân sẽ khơng có sự kế thừa về
quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính (chẳng hạn như trường hợp người khởi kiện
yêu cầu đổi tên nhưng sau đó đột ngột qua đời). Do đó, nếu người khởi kiện là cá
nhân chết và quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện đang yêu cầu Tòa án giải quyết là
quyền nhân thân, Tịa án phải ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC.
…cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà khơng có cơ
quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điểm a Khoản 1 Điều
143);
Tương tự như cá nhân là người khởi kiện, trong q trình giải quyết VAHC,
rất có thể xảy ra khả năng một trong các đương sự là cơ quan, tổ chức đã giải thể
hoặc tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, việc giải thể hoặc phá sản của cơ quan, tổ chức
đó lại khơng có cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì đây sẽ là
cơ sở để Tòa án sẽ ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VAHC33.
32
Khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015.
33
Vụ án bà Đỗ Thị H. khởi kiện yêu cầu TAND huyện tuyên huỷ Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 144/TB-
CCT và Công văn số 2907/CCT-QLT giải quyết khiếu nại của Chi cục Thuế huyện Đ khi không đồng ý với
quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục thuế huyện Đ. TAND huyện Đ đã ban hành Quyết định số
01/2020/QĐST-HC đình chỉ giải quyết VAHC, với lý do “đối tượng khởi kiện khơng cịn tồn tại, nên chưa đủ
điều kiện khởi kiện”. Bà H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án, theo
hướng hủy Quyết định đình chỉ giải quyết VAHC để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Tòa án tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu mở phiên họp giải quyết việc kháng cáo, HĐXX phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà H, “hủy Quyết định đình chỉ giải quyết VAHC số 01/2020/QĐST-HC của TAND huyện Đ và chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án” vì Chi cục Thuế huyện Đ được hợp nhất
với cơ quan thuế khác và cơ quan sau khi hợp nhất này sẽ kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng nên đối tượng khởi
kiện vẫn còn tồn tại. Do vậy, TAND huyện Đ ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là khơng đúng
quy định của pháp luật.