PHẠM TRÙ GIAO TIẾP
a. Định nghĩa phạm trù giao tiếp.
Giao tiếp là quá trình tác động tâm lý giữa người với người thông qua hệ thống
ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ nhằm mục đích trao đổi thơng tin, cảm xúc, lĩnh hội tri
thức, tác động qua lại lẫn nhau để thiết lập nên những mối quan hệ phối hợp với nhau
trong hoạt động thực tiễn.
C.Mác, Ph. Ăngghen và V.I Lênin là những người đặt nền móng cho nghiên cứu
giao tiếp như là một tồn tại xã hội trong quan hệ “chủ thể - chủ thể”, giao tiếp là phạm
trù đi sâu nghiên cứu mặt quan hệ xã hội của con người. Trong tác phẩm “Bản thảo
kinh tế triết học” của Mác, (1844) và tác phẩm “Tình cảnh giai cấp cơng nhân Anh”
của Ph.Ăngghen, giao tiếp được xem là công cụ kết nối sự hợp tác giữa người với
người, sự tác động lẫn nhau giữa họ trong hoạt động chung. Trong tác phẩm “Hệ tư
tưởng Đức” hai ông đã phê phán quan điểm giao tiếp thuần túy của M.Stirunhera và
cho rằng giao tiếp của con người mang bản chất xã hội. Nền sản xuất xã hội quyết định
nội dung, hình thức của giao tiếp.
Phạm trù giao tiếp đã được nghiên cứu từ lâu trong tâm lý học. I.M Sechenốp
(Nga) đã nghiên cứu, giao tiếp của con người và ý nghĩa của nó đối với phát triển các
tình cảm đạo đức của con người. V. M Becherép đã nghiên cứu sự khác biệt của quá
trình nhận thức trong điều kiện chủ thể làm việc một mình và trong giao lưu với người
khác. Ông là người đầu tiên đã xây dựng được lý thuyết tâm lý đại cương về giao tiếp,
trong đó V.M.Beccherev chỉ ra tính đặc thù của các q trình tâm lý diễn ra trong điều
kiện giao tiếp. Hướng nghiên cứu tâm lý giao tiếp của ông được B.G. Ananhev tiếp tục
phát triển. Những vấn đề tâm lý giao tiếp cũng được nghiên cứu trong các cơng trình
của A.Ph.Ladurxki, V.N. Masisev. Chính ở đây cấu trúc tâm lý ba thành phần lần đầu
tiên đã được các ông nêu ra, gồm sự phản ánh có tính xã hội; thái độ của cảm xúc và
phương thức hành vi. Các nghiên cứu về giao tiếp chiếm vị trí trung tâm trong các
cơng trình khoa học của L.X.Vưgơtxki. Chính L.X.Vưgơtxki đã khẳng định rằng sự
phát triển tâm lý người ngay từ đầu đã bị quy định bởi các quy luật xã hội, trong đó có
giao tiếp. A.A Lêơnchép thì cho rằng giao tiếp cũng là một dạng của hoạt động. B.Ph
Lômôv lại cho rằng không nên xem giao tiếp là một dạng hoạt động. Bản chất của giao
tiếp nằm trong mối quan hệ chủ thể - chủ thể. B.Đ Parưghin lại xem giao tiếp là q
trình xử lý thơng tin phức hợp.Những năm 20-30 thế kỷ XX, vấn đề giao tiếp được
nghiên cứu rất mạnh, chủ yếu trong tâm lý học xã hội. Tuy nhiên, do tầm quan trọng
của nó, phạm trù giao tiếp được tâm lý học đại cương hiện nay tập trung nghiên cứu
mạnh mẽ.
b. Nội dung phạm trù giao tiếp.
* Nội dung, hình thức, chức năng, phương tiện của giao tiếp.
+ Nội dung của giao tiếp: là thông tin được truyền từ người này sang người kia
trong quá trình tiếp xúc tâm lý. Đó có thể là sự trao đổi các sản phẩm, đối tượng hoạt
động, trao đổi ý kiến, động cơ, mục đích, nhu cầu, hứng thú hoặc kinh nghiệm hoạt
động.
+ Hình thức của giao tiếp: có nhiều hình thức giao tiếp như giao tiếp trực tiếp,
gián tiếp, giao tiếp thẳng, tay đơi, giao tiếp có sử dụng cơng cụ, giao tiếp đại chúng,
giao tiếp liên nhân cách....
+ Các chức năng của giao tiếp: giao tiếp có nhiều chức năng, chức năng biểu
cảm, thông tin, thiết lập liên hệ, chức năng xã hội hoá nhân cách, tự nhận thức, tổ chức
hoạt động cùng nhau, phát triển quan hệ liên nhân cách....
+ Các phương tiện giao tiếp: Theo A.A.Boocdanốp, có phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ của giao tiếp. Phương tiện ngơn ngữ nói và ngơn ngữ viết. Phương
tiện phi ngơn ngữ gồm: các phương tiện nghe, nhìn, sờ mó, mùi vị...
Tóm lại, trong tâm lý học giao tiếp được xem là một không gian tâm lý phức
tạp, là môi trường phát triển nhân cách, một trong những động lực thôi thúc hoạt động
và phát triển con người.
*Cấu trúc tâm lý của giao tiếp: Giao tiếp là quá trình phức tạp, nhiều mặt của
sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, nảy sinh do động cơ hoạt động cùng nhau.
Giao tiếp có cấu trúc gồm 3 thành phần cơ bản sau:
- Thành phần giao lưu của giao tiếp (trao đổi thơng tin):
Giao tiếp là để tìm được tiếng nói chung, để gắn kết với nhau trong lao động
cùng nhau, địi hỏi phải có ngơn ngữ làm phương tiện giao tiếp. Trong ngơn ngữ có
chứa đựng thơng tin nằm ở nghĩa của từ, lời nói. Thơng tin giúp con người hiểu mục
đích hành động của nhau, điều chỉnh hành vi, hành động của mình cho phù hợp. Trong
giao tiếp, các bên phải dùng một ngôn ngữ chung và phải hiểu được nghĩa, ý chứa
đựng trong các từ, ký hiệu ngơn ngữ, thơng qua đó mà thực hiện việc lĩnh hội và
truyền thông tin cho nhau.
- Thành phần tác động lẫn nhau của giao tiếp.
Trong giao tiếp, con người thực hiện mục đích tác động lên nhau. Giao tiếp bao
giờ cũng có kết quả là làm biến đổi hành vi, hoạt động của đối tác hoặc ít, hoặc nhiều.
Do vậy, tác động qua lại lẫn nhau là tập hợp các mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau được
tạo ra qua quá trình hoạt động cùng nhau. Tác động lẫn nhau diễn ra như một q trình
có khởi đầu, diễn biến, kết thúc và diễn ra dưới sự kiểm soát xã hội, theo những mơ
hình, mẫu quan hệ thơng dụng trong xã hội. Mỗi cá nhân có thể có các vai trị xã hội
khác nhau, do đó là chủ thể của các quá trình giao tiếp khác nhau theo những mẫu
khác nhau.
Giao tiếp địi hỏi phải có sự phù hợp nhau về hành vi, tâm thế. Tuy nhiên, trong
thực tiễn có khi giao tiếp diễn ra trong điều kiện có mâu thuẫn về tâm lý giữa các bên.
Do vậy, cần nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của xung đột tâm lý trong giao tiếp.
- Thành phần hiểu biết lẫn nhau của giao tiếp:
Giao tiếp cần sự tri giác lẫn nhau và kết quả là các bên hiểu biết rõ về nhau.
Đây là điều kiện cần của giao tiếp. Để tác động, điều khiển được nhau thì các bên giao
tiếp phải hiểu biết về nhau. Sự hiểu biết lẫn nhau trong giao tiếp bao gồm tri giác lẫn
nhau, hiểu hành vi, tâm lý của nhau, kết luận, đánh giá tâm lý của nhau. Để hiểu nhau,
các bên giao tiếp còn dùng các cơ chế “phản tư”, “đồng nhất hố”, dùng động hình tâm
lý....
c. Vai trò, ý nghĩa của phạm trù giao tiếp.
Giao tiếp có vai trị quan trọng trong đời sống tâm lý con người, bởi giao tiếp
cùng lúc thực hiện nhiều chức năng khác nhau như: thông báo, trao đổi thông tin, suy
nghĩ, tình cảm thơng qua tiếng nói, cử chỉ, ký hiệu, điều lệ... Truyền đạt cho nhau các
giá trị xã hội, văn hoá, đạo đức... tác động lên ý thức, hành vi con người, làm tiền đề
cho hoạt động có hiệu quả, yếu tố cấu thành hành vi, tự nhận thức về mình, nhận biết
về mình và người khác, điều kiện hiện thực hoá các quan hệ liên nhân cách.