Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Bài tập quản lý tài chính công phần 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.48 MB, 94 trang )

HÀ N Ộ I N G Ậ P L Ụ T ■
T H Ấ Y GÌ V Ể Q U Y H O Ạ CH VÀ Đ A U t ư
T Ừ NGÂN SÁ C H NH À N Ư Ớ C C H O HẠ T A N G ?

TS. P h a m Văn K h o a n

Trận mưa lớn nhất trong 35 năm đố xuống ngày
31/10/2008 và 1/11/2008 đã biến Hà Nội thành biển
nước.
Thủ đô phải gánh chịu cảnh chưa từng có: Đường
phố mênh mơng nước, giao thơng tê liệt, nhà nhà
chìm trong nước cịn nhiều người trong vùng ngập
phải chạy ăn từng bữa. Tại cuộc họp giao ban chiều
3/11/2008, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Hoàng
Trung Hải, Ban chỉ đạo PCLB TƯ cho biết, mưa lũ
gây thiệt hại nặng nề cho các tỉnh phía Bắc. 47 người
bị thiệt mạng, 7 người bị mất tích (trong đó riêng Hà
Nội đã là 20 người). Tổng thiệt hại vật chất gần 5.300
tỷ đồng, trong đó nặng nề nhất là Hà Nội với ước tính
ban đầu 3.000 tỷ đồng (chưa kể sản xuất công nghiệp,
dịch vụ)...
101


Vê mức độ ngập lụt có thể thấy rất nghiêm trọng
ngay cả sau khi có 5 ngày ra sức bơm thốt nước, sau
đây là 2 ví dụ:
G ần 2 .8 0 0 hộ ở T ân M ai v ẫ n bị c h ia c ắ t!

Dù nước đã rút 40-50 cm, nhưng 2.796 hộ dân ở
phường Tân Mai, quận Hoàng Mai vẫn ngập trong


nước lũ, nơi sâu nhất 1,2 m, thấp nhất là 0,5 m. So
với 4 ngày trước, sô" hộ bị ngập ở đây giảm từ 3.000
xuống còn gần 2.800 hộ.
Sau 3 ngày bị ngập, chị Nguyễn Thị Hoa, sô" nhà
155, khu dân cư sô 6 đo được mực nước trong nhà
mình đã rút đi hơn 40 cm, vẫn bị ngập gần 1 m, chưa
thể nhìn thấy giường ngủ tầng 1. Thực phẩm đến
ngày hôm nay đã sạch, chị quyết định bắt một chiếc
thuyền giá 100.000 đồng/lượt, vượt 600 m ngập, ra
ngồi phơ mua thực phẩm.
Chị kể, sáng 5/11, khi tổ trưởng khu phố đi
thuyền xuống phát mì tơi mới biết ngồi phố đã bình
thường. Ra đây lại nghe nói mai mưa tiếp, sợ lần sau
khơng thể quay ra được nên chị mua hẳn 20 cây nến
160.000 đồng, ngày thường chỉ hơn 70.000 đồng thôi.
Mua thêm được 10 kg gạo của lương thực lưu động,
giá 100.000 đồng thì... hết tiền, chị phải vay tạm
102


người quen 500.000 đồng mua thêm trứng và rau về
dự trữ, sơ tiền cịn lại đê trả nhà thuyền chở hàng.
Gần UBND phường, cáu chuyện “mai mưa tiếp”
của những người thạo tin càng làm xơn xao bến đị
tạm. Tại đây, ngồi 4 chiếc thun của UBND phường
đê tiếp tê mì tơm, có thêm gần 100 chiếc thuyền tự
tạo từ các ngõ ngách đỗ vế điểm tiếp giáp giữa vùng
ngập và vùng nước đã rút hắn này.
Chị Huệ, khu C2 cho biết, chưa kịp mừng vì trịi
hửng nắng thì nghe mai mưa tiếp. Nhưng nhà tôi đã

dự trữ được thức ăn cho 4 người đủ... cả tuần rồi! chỉ
lo khơng có nước mà nấu thôi. Cũng may so với hôm
chủ nhật, hơm nay giá cả đã gần như trỏ lại bình
thường.
Trong 2 ngày 4 và 5/11, 2 mặt hàng thiết yếu
nhất là mì tơm và gcỌO đã được bán tại đây với giá
bình thường nhờ sự có mặt của xe lương thực lưu
động.
Anh Nguyễn Quốc Huy, tổ trưởng tổ bán hàng
lưu động, (thuộc Phịng kinh doanh của Cơng ty phân
phối bán lẻ) cho biết, do dân ở đây nói với nhau mai
lại mưa nên hôm nay sức mua tăng mạnh, gần gấp
đơi so với hơm qua. Tính đến 17h ngày 5/11 đã bán
103


được hơn 2 tấn gạo. Thậm chí có người mua một lúc
60 kg.
Dù mì tơm cứu trợ của Thành phố đã dược
chuyển đến Phường từ hôm đầu ngày 4/11, nhưng hơn
10 hộ dân tố 36 vẫn chưa thế có mì cứu trợ vì lí do tổ
trưởng và tố phó tổ dân phơ đi sơ tán chưa về.
Phó Chủ tịch phường Vũ Ngọc Cương thừa nhận,
do nhà tố trưởng, tổ phó tổ này bị ngập nặng nên cả 2
ông đều đã đi sơ tán ở nhà con cháu. Mì cứu trợ lại
được chuyển qua “kênh” từng tổ dân phê/ nén nhiều hộ
thuộc tổ này mì đến chậm.
“Sau khi liên lạc để “triệu tập” mà chưa được,
phưòng đã giao cho cựu tố phó nhiệm kì trước đi giao
mì. Vì thế, đến chiều 5/11 chỉ còn hơn 10 hộ chưa

nhận được, hơn 90 hộ khác đã nhận được 1/2
thùng/hộ”, ông Cương cho biết.
Cũng trong chiều 5/11, có hơn 400 4thối nước
(trong tổng số 3.000 khơi) miễn phí đã được Xí nghiệp
nước quận Hai Bà Trưng kéo về bằng 3 vịi cơng cộng.
Cùng ngày, đoàn cán bộ Sở Y tế do Giám đổc sở
dẫn đầu cũng đã có mặt tại phường Tân Mai để cấp
phát CloraminB giúp khử trùng nước.
104


Khu vực Viện Q uân y 103 vẫn m ênh m ông
nước

6 ngày sau trận đại hồng thủy, Thành phố Hà
Đơng vẫn cịn nhiều đoạn ngập, chỗ sâu nhất trên
đường 70 qua Viện Quân y 103 đến chiều ngày 5/11 là
gần 1 m nước.
Sáng ngày 5/11 ngay từ đầu cầu Trắng - Hà
Đơng đã có rất nhiều CSGT và thanh tra GTCC có
mặt để phân luồng, nhằm hạn chế tối đa lượng người
và xe đi qua các điểm úng ngập trên đường 70 có nguy
cơ chết máy.
Bên cạnh đó, Trung đồn cảnh sát Đơng Bắc
Thủ đơ đã huy động 5 xe tải gầm cao và gần 100
chiến sỹ giúp dân di chuyển qua các điểm úng ngập.
•Tồn bộ xe đạp, xe máy của người dân có nhu cầu đi
hết tuyến đường 70 đều được đưa lên ô tô tải vận
chuyển miễn phí.
Chiến sỹ Lê Hồng Vân thuộc D9 - Trung đồn

Cảnh sát Đơng Bắc Thủ đơ cho biết: Gần 100 chiến sỹ
của Trung đoàn chia làm nhiều ca túc trực 24/24 để
vận chuyển giúp dân đi qua các điểm úng ngập, bữa
trưa của các chiến sỹ làm nhiệm vụ là bánh mỳ và
nước”.
105


Đường 70 qua Viện Quân y 103 vẫn còn ngập,
chỗ sâu nhất trong viện là ỏ khoa sản, khoảng hơn
60cm nước. Toàn bộ bệnh nhân đã được di chuyển lên
các điểm cao. Vịng quanh viện chỗ nào cũng ngập
nước.
Ĩ một số khoa còn người bệnh và tài sản úng
ngập, bệnh viện đã chạy máy bơm hút nước từ bên
trong ra bên ngoài. Một số bệnh nhân đã hồi phục
theo nguyện vọng của gia đình đểu được cho xuất viện
sớm nên hiện nay hầu như tồn bộ số bệnh nhân đã
khơng còn cảnh nằm trên giường bị ngập nưốc.
V ân để th ả o lu ậ n :

1. Quy hoạch được hiểu như thế nào? Theo các
văn bản pháp luật hiện hành thì phân cấp thẩm
quyền phê duyệt các dự án quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội ở nước ta được quy định như thế nào? Có
phải Hà Nội lụt vì thiếu tầm nhìn quy hoạch?
2. Qua trận lụt Hà Nội, hãy nhận xét về đầu tư
vào hạ tầng từ ngân sách nhà nước?

106



T IÊ U C H Í NÀO Đ Ẻ P H Â N B ố
C H I NG ÂN SÁ C H N H À N Ư Ớ C

Ths. Đ ào Thị B íc h H a n h
B ệ n h đ a u đ ầ u c ủ a Ong H iệu trư ở n g trư ờ n g
T ru n g h ọ c c ơ sở B ìn h G ian g

Hơm nay sau khi họp thảo luận dự tốn ngân
sách với Phịng Tài chính - Kê hoạch huyện. Ông
Thanh lại bị đau đầu, cơn đau đầu này xuất hiện kể
từ khi ông nhận chức Hiệu trưởng trường Trung học
cơ sở Bình Giang. Nhiều lúc vợ ông lo lắng, khuyên
ông nên đi vê bệnh viện tỉnh kiểm tra xem có vấn đê
gì về sức khỏe không. Thỉnh thoảng vợ ông lại hỏi
khéo: “Cùng làm hiệu trưởng nhu anh, sao ông
Khuyên thông gia nhà chúng ta lúc nào cũng có vẻ an
nhàn hơn nhu vậy”. Ơng Thanh không biết trả lời vợ
nhu thế nào và kiên quyết khơng đi chữa bệnh, vì ơng
biết mình khơng có bệnh gì cả. Thỉnh thoảng vỢ ơng
lại giật mình khi đơi lúc nghe ơng nói: “Khéo ăn thì
no, khéo co thì ấm”, khơng biết có phải ơng chê bà
chẳng biết chi tiêu trong gia đình hay khơng? Chúng
107


ta sẽ tìm hiểu rõ nguyên nhân căn bệnh đau đầu của
ơng Thanh và trả lịi cho những câu hỏi băn khoăn
thắc mắc của vợ ơng.

Trưịng trung học cơ sỏ Bình Giang được xếp vào
diện trường vùng sâu, vùng xa của huyện Gia Kiến,
tỉnh Bắc Hà. Nói là trường vùng sâu nhưng nhờ có
chính sách tun truyền phổ cập giáo dục cũng như
truyền thơng hiếu học từ bao đời cịn để lại, số lượng
học sinh theo học ở trường ông Thanh hầu như không
năm nào thua kém trường ở trung tâm Thị trấn Long
Bình nơi ơng Khuyến thơng gia làm Hiệu trưởng. Sô"
lượng học sinh nhập học đông mỗi năm, nhất là
những năm mà các học sinh đi học được sinh vào tuổi
rồng, tuổi thân... là niềm vui của cả xã Bĩnh Giang,
nhưng cũng là nỗi lo cho ông Thanh về việc thiếu
phịng học, thiếu giáo viên.
Năm nay sơ học sinh của trường trung học Bình
Giang là 557 em, được chia thành 15 lớp, với 12
phịng học. Sơ" biên chê" của trường là 32 người, trong
đó có 1 Hiệu trưởng, 2 Phó hiệu trưởng, 1 bảo vệ, 1 kê"
tốn, 1 cán bộ làm cơng tác hành chính kiêm thủ quỹ,
25 cán bộ giáo viên. Định mức biên chê giáo viên trên
lớp của trường Bình Giang = 26 giáo viên/15 = 1,7.
Như vậy năm nay ông Thanh sẽ phải mượn người hợp
108


đồng để giảng, nhưng l ấ y tiền đâu ra để trả lương cho
giáo viên theo hợp đồng? Hơn nữa kinh phí hoạt động
của trường được phân bổ 20% quỹ lương cũng không
đủ cho các hoạt động chuyên môn của trường, chưa
nói đến tiền trả lương cho giáo viên hợp đồng cũng
như tiền đầu tư cho 3 phòng học còn thiếu. Có cán bộ

của huyện hỏi ơng thu học phí mỗi năm của trường là
bao nhiêu? Vì là xã vùng sâu nên mức thu học phí của
trường Bình Giang chỉ áp dụng ở mức 72.000 đồng/01
học sinh/01 năm, hiện nay số thu này vẫn phải nộp
cho Phòng Giáo dục huyện để hỗ trợ quản lý ngành là
20% tổng thu học phí. Mặt khác là xã có nhiều hộ
nghèo nên mỗi năm trường Bình Giang đều phải thực
hiện miễn giảm học phí cho con em các hộ nghèo.
So s á c h T rư ờ n g tr u n g h ọ c c ơ sở B ìn h G ian g
v à

trư ờ n g T ru n g h ọ c c ơ

SỞ

L o n g B ìn h

B ả n g so sá n h g iữ a h a i trư ờ n g t ru n g học sơ sở
B ìn h G ia n g và L o n g B ìn h
T iêu ch í

B ìn h G ian g

L o n g B ìn h

Học sinh (học sinh)

557

585


Phịng học (phịng)

12

15

Số lớp (lớp)

15

15
109


Số giáo viên (giáo viên)

26

35

Định mức đứng lớp (giáo
viên/lốp)

1,7

2,3

72.000


90.000

Kinh phí NSNN phân bố 587. 593.000
(đồng)

866.787.000

Mức thu học phí (đồng)

Trường trung học cơ sỏ Long Bình nơi ơng
Khuyến làm hiệu trưởng được đặt tại trung tâm thị
trấn huyện. Cũng như trường Bình Giang, trường
Long Bình đã thực hiện chê độ tài chính áp dụng cho
đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định sơ"
10/2002/NĐ-CP ngàyl6/01/2002 của Chính phủ (Nay
là cơ chê tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối
với các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số
43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ) từ
năm 2003. Khi thảo luận dự tốn ngâm sách với
Phịng Tài chính - Kế hoạch huyện ơng Thanh được
biết trường Long Bình năm nay cũng có 15 lớp học, sơ"
cán bộ của trường là 40 người, trong đó sơ" cán bộ giáo
viên là 35 trong biên chế. Theo ơng Khun thì mặc
dù năm nay trường chỉ có 15 lớp học và định mức biên
chế giáo viên đứng lớp của trường Long Bình = 35
110


giáo viên/15 = 2,3 cao hơn định mức qui định1, nhưng

các năm trước sô lớp học của trường cao hơn năm nay,
hơn nữa có nhiều giáo viên biên chê từ lâu năm. Ông
Thanh cũng hiểu rằng từ nhiều năm nay có nhiều
giáo viên muốn cơng tác ở trường thị trấn hơn là đến
một trường vùng sâu như trường Bình Giang.
T iêu ch í p h â n b ổ kin h phí n g â n s á c h ch o
h ai trư ờ n g B ìn h G ian g v à L o n g B ìn h

Ngày 29 tháng 6 năm 2006 Thủ tướng Chính
phủ ban hành quyết đinh số: 151/2006/QĐ-TTG về
việc ban hành Định mức phân bổ dự toán chi thường
xuyên ngân sách nhà nước năm 2007. Căn cứ Định
mức phân bổ dự toán chi thưòng xuyên ngân sách nhà
nước ban hành kèm theo Quyết định này và khả năng
tài chính - ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa
phương, Ưỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Hà đã trình Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành định mức phân bổ
chi ngân sách địa phương theo quyết định sô" 1762/
2006/QĐ-UBND ngày 14/08/2006 để làm căn cứ xây

1 Theo Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT/BGDĐT-BNV, ngày 23
tháng 08 năm 2006, hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các
cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Định mức biên chế giáo viên ỏ
các trường trung học cơ sỏ được qui định: Mỗi lốp được bơ' trí biên
chê khơng q 1,90 giáo viên.

111


dựng dự toán và phân bổ ngân sách ỏ địa phương cho

thời kỳ ôn định ngân sách mới bắt đầu từ năm ngân
sách 2007.
Theo quyết định của UBND tỉnh Bắc Hà, mức
phân bô chi sự nghiệp giáo dục của ngân sách cấp
huyện được tính tốn căn cứ vào biên chê sự nghiệp
giáo dục được giao, các chê độ chính sách của nhà
nước ban hành, trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ chi lương,
phụ cấp, các khoản có tính chất lương (BHXH, BHYT,
KPCĐ) tối đa 80%, chi sự nghiệp giáo dục khơng kể
lương và các khoản có tính chất lương tối thiểu 20%
(chưa kể nguồn thu học phí). Trong trường hợp trên
kinh phí phân bổ cho hai trường Bình Giang và Long
Bình có 80% là các khoản chi cho con người, 20% tính
theo quỹ lương chi cho các hoạt động chuyên mơn.
C âu hỏi th ả o lu ận :

1. Tìm hiểu lý do và bình luận sự khác nhau vê
mức kinh phí ngân sách phân bổ cho hai trường Bình
Giang và Long Bình?
2. Tiêu chí phân bố ngân sách chi sự nghiệp giáo
dục từ ngân sách cấp huyện của tỉnh Bắc Hà có ưu,
nhược điểm gì?
3. Tỉnh Bắc Hà có thế áp dụng những tiêu chí
nào đê phân bổ ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục?
Tiêu chí nào là phù hợp? Tại sao?
112


Q U Y Ể N T ự C H Ủ , T ự C H ỊU T R Á C H N H IỆ M
V Ể T À I C H ÍN H ở CÁC T R Ư Ờ N G Đ ẠI H Ọ C


TS. H o à n g Thị Thúy N guyệt

Huyền là một sinh viên tốt nghiệp loại giỏi khố
40 chun ngành Quản lý Tài chính Cơng, khoa Tài
chính Cơng, Học viện Tài chính. Sau khi đỗ đầu trong
kỳ thi tuyển công chức nhà nước thuộc Bộ Tài chính
cuối năm 2007, cơ được Vụ Tổ chức cán bộ phân cơng
vê làm việc tại Vụ Hành chính - Sự nghiệp. Cơ vui
mừng biết bao vì được làm đúng ngành nghề đào tạo
vối hy vọng góp phần nhỏ bé của mình cho sự nghiệp
cải cách Tài chính Cơng của đất nước.
Đầu năm 2008, một trong những nhiệm vụ quan
trọng mà Bộ Tài chính giao cho Vụ Hành chính - Sự
nghiệp là tổng kết kinh nghiệm thực hiện quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học nhằm
từng bước “cởi trói” để các trường có thể nâng cao hiệu
quả hoạt động thời hội nhập. Cô được lãnh đạo Vụ cử
làm nhiệm vụ thu thập thông tin, phân tích và viết
báo cáo về vấn đề này cùng với một bạn đồng nghiệp
trẻ tuổi khác. Huyền lo lắm, băn khoăn không biết
113


làm thế nào để có thể phản ánh khách quan thực
trạng tình hình tự chủ tài chính của các trường đại
học hiện nay, từ đó đề xuất Nhà nước thay đổi cơ chê
chính sách cho phù hợp. Học hỏi kinh nghiệm các bác
lớn tuổi trong Vụ, các bác đều cho biết tốt nhất để
hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn là viết công văn

yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá kết quả tự
chủ và gửi Vụ Hành chính - Sự nghiệp tổng hợp viết
báo cáo. Huyền tự hỏi: “Oĩig cha ta có câu: trăm nghe
khơng bằng một thấy sao minh lại khơng trực tiếp đi
tìm hiếu thực tế ở một sô' trường đại học n h ỉT
Cô mạnh dạn bày tỏ băn khoăn của mình thì
được các bác trong phòng chia sẻ: “Phải tự bỏ tiền
mua xăng mà đi, phịng mình củng được khốn rồi,
khơng có tiền cơng tác phí đâu. Hơn nữa, thấy cán bộ
Trung ương xuống, các trường kêu ca, đề xuất nhiều
thứ lắm, cơ c h ế chung của nhà nước, Vụ mình củng có
giải quyết được đâu chỉ thêm đau đầu”.
Khơng ngăn cản được nhiệt huyết cửa tuổi trẻ
Huyền và anh bạn đồng nghiệp vẫn quyết định đi tìm
hiểu thực tế ở một số’ trường đại học.
B ối cản h
Cải cách Tài chính cơng là một trong bốn nội
dung của Chương trình tổng thể c ả i cách hành chính
114


nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 đã được Chính phủ
phê duyệt tại Quyết định số 136/2001/QĐ-TTG ngày
17/09/2001; trong đó, cải cách cơ chê quản lý tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp là bước đột phá. Triển khai
chương trình này, ngày 16/01/2002, Chính phủ đã ban
hành Nghị định sơ" 10/2002/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị
định 10) vê đổi mới cơ chê tài chính, trao quyền tự
chủ cho các đơn vị sự nghiệp cơng lập có thu.
Mục đích của sự đổi mới này là thực hiện việc

trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho đơn vị
sự nghiệp trong việc sử dụng lao động và các nguồn
lực tài chính của đơn vị; từ đó, tạo điều kiện cho các
đơn vị chủ động sắp xếp lao động, tổ chức công việc và
quản lý tài chính.
Sau bơn năm thực hiện Nghị định 10/2001/NĐCP (2002-2005), cho thấy cơ chế tài chính mới đã tạo
hành lang pháp lý rộng hơn cho các đơn vị trong việc
quản lý tài chính. Các đơn vị rất phấn khởi, chủ động
trong q trình sử dụng nguồn tài chính phục vụ cho
các hoạt động của mình, thu nhập của cán bộ, viên
chức bước đầu được cải thiện đáng kể. Bên cạnh
những kết quả tích cực mà do cơ chế tài chính mới
đem lại, Nghị định 10 cũng bộc lộ một sơ" điểm bất
cập. Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đó, ngày
24/5/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định sô"
115


43/2006/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 43) quy định
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm
vụ, tố chức bộ máy, biên chê và tài chính đơi với tất cả
các đơn vị sự nghiệp công lập. Đây cũng được xem là
văn bản mở đầu cho thời kỳ tự chủ, tự chịu trách
nhiệm toàn diện của các trường đại học với hy vọng sẽ
tạo động lực để các trường vươn lên mạnh mẽ trong
đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng vói nhu cầu ngày
càng cao của xã hội.
S ơ lư ợ c vể Đ ại h ọ c T r à n g An

Trường đầu tiên cô đến phỏng vấn là trường đại

học Tràng An, một trường đại học có tiếng ở Hà Nội,
đào tạo các cử nhân về kinh tế và tài chính.
Trường đại học Tràng An là một trường có bề dày
lịch sử hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, trường
có chức năng đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu
khoa học và bồi dưỡng kỹ năng quản lý về lĩnh vực
kinh tế, tài chính, kế tốn, quản trị kinh doanh với
mọi loại hình đại học chính quy, đại học tại chức, đại
học văn bằng II, hoàn chỉnh kiến thức đại học và sau
đại học. Với trên 1.000 cán bộ, viên chức trong đó có
nhiều nhà khoa học đầu đàn, hàng năm thường xuyên
chủ trì hoặc tham gia các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ.
Nhiều cơng trình nghiên cứu của trường đã được vận
116


dụng thể chê hố vào các cơ chế, chính sách quản lý
tài chính quốc gia. Sơ lượng sinh viên của trường
những năm gần đây tăng trung bình 10%. Năm học
2007 - 2008, trường đào tạo 3.000 sinh viên hệ chính
quy và hơn 10.000 sinh viên các hệ đào tạo khác. Với
những thành tích đạt được, Đại học Tràng An đã được
Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng
cao quý: Huân chương Độc lập Hạng Nhất, Nhì, Ba;
Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân
chương Hữu nghị của Cộng hịa Dân chủ nhân dân
Lào.
Hồ chung với khí thê đổi mới của các trường đại
học, Tràng An đã và đang phấn đấu để đến năm 2020
sẽ trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu và tư

vấn về khoa học kinh tế - quản trị kinh doanh có uy
tín ngang tầm với các cơ sở đào tạo đại học trong khu
vực Châu Á. Trường cung cấp cho người học môi
trường giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học tốt
nhất, có tính chun mơn cao; đảm bảo cho người học
khi tốt nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh và thích ứng
nhanh với nền kinh tê toàn cầu.
Sau đây là một số nội dung trong cuộc trò
chuyện của họ với Hiệu trưởng trường Đại học Tràng
An, GS.TS Nguyễn Trọng Đại.
117


H uyên: Thưa giáo sư, từ khi thực hiện Nghị

định 43 giáo sư có thấy trường được nhiều quyển tự
chủ vể tài chính so với trước đây khơng?
G S: Ơi dào chưa thấy được tự chủ gì mà chỉ

“được” một điều, được Nhà nước cắt ngân sách chi
thường xuyên. Điều này đồng nghĩa với chất lượng
đào tạo “giậm chân tại chỗT
H uyên: Nhà nước đã giao kinh phí thường xuyên

ổn định trong 3 năm sao giáo sư lại cho rằng nhà
nước cắt giảm ngân sách?
GS: Vì sao ư? Ví dụ khi Nhà nước có chính sách

tăng lương tối thiêu trường tơi đâu có được Nhà nước
bổ sung đồng nào, giá cả tăng nhanh thế cái gì cũng

đắt đỏ chúng tơi phải lấy từ học phí và các nguồn thu
dịch vụ đê bù vào. Khi chưa tự chủ tài chính nhà
trường đã chi bình quân thu nhập của cán bộ, giáo
viên gấp 3 lần lương chính. Nhưng khi triển khai tự
chủ tài chính trường chỉ tăng được 1 hoặc 1,5 lần
lương chính. Mức thu nhập bình qn của giáo viên
hiện chỉ trong khoảng từ 3 , 5 - 4 triệu đồng/tháng. Với
thu nhập như vậy, giáo viên trẻ giỏi, học nước ngoài
về, giỏi ngoại ngữ xin đi nhiều lắm. Trong khi đó có
nhiều giáo viên sinh viên đánh giá râ't thấp nhưng tôi
cũng không thể sa thải và trả lương thấp được.
118


Còn về thu, nếu quy định tự chủ trong khung
học phí của Nhà nước quy định thì các trường hầu
như củng chẳng có quyền gì. Những năm gần đây,
trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tuyển
sinh hệ ngồi ngân sách đối với những thí sinh có
điểm thi sát với điểm chuẩn và thu học phí 500.000
đồng/tháng/ sinh viên. Khi Kiểm toán nhà nước vào
kiểm tra, lập tức bị “thơi cịi” với lý do: sinh viên hệ
chính quy thì khơng được phép thu vượt q 180.000
đồng/thằng theo quy định khung học phí từ năm
19982. Thu quá mức này thì phải xuất tốn trả lại cho
Nhà nước. Trong khi đó “sản phẩm ” trường tơi đào tạo
ra có đến 50% sinh viên có thể có việc làm ngay từ
năm thứ ba. Nhiều sinh viên muốn đóng học phí cao
để được hưởng dịch vụ theo kiểu “tiền nào của ấy”
.cũng đâu có dễ dàng.

Vì thế, để giải quyết bài tốn giữa chi phí và
chất lượng trong điều kiện nhu cầu người học thay đổi
và trượt giá thì có nhiều vấn đề phải giải quyết hoặc
Nhà nước phải cấp thêm cho các trường, nếu khơng
khung học phí phải thay đổi theo hướng đủ bù đắp chi

2 Quyết định sô' 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng
Chính phủ vê việc thu và sử dụng học phí ỏ các cơ sỏ giáo dục - đào
tạo công lập thuộc hệ thông giáo dục quốc dân.
119


thường xun. Đối với trường tơi, nếu học phí khơng
tăng gấp 2 - 3 lần hiện nay thì kinh phí Nhà nước cấp
phải tăng thêm trên 50% thì mối đủ kinh phí thường
xuyên cho trường hoạt động.
H u y ên : Bộ GD&ĐT đã có chủ trương tăng học

phí theo lộ trình tiến tới bù đắp đủ chi phí của người
học, trước mắt đảm bảo đủ bù đắp chi thường xuyên.
Dư luận cho rằng nếu vậy thì người nghèo lấy tiền
đáu để đi học. Quan điểm của GS về vấn đề này?
GS: Tôi ủng hộ quan điểm này, đối vối bậc đại

học, nếu khơng tăng học phí thì khơng thế giải quyết
được vấn đề chất lượng. Tăng học phí thúc đẩy cả nhà
trường và xã hội; thầy và trò đều phải có trách nhiệm
hơn với việc dạy và học. Cịn sinh viên nghèo nhà
nước có thể hỗ trợ bằng cách cho vay đế đi học, nếu
học giỏi có thể nhận được học hổng tài trợ của các

doanh nghiệp, các nhà hảo tâm và các tổ chức xã hội.
H u y ên : Nghị định 43 đã tạo cơ sở pháp lý cho

các đơn vị sự nghiệp công lập chủ động xây dựng định
mức chi tiêu nội bộ. Nếu phải kể đến khó khăn mà
trường gặp phải khi xây dựng quy chế thì theo giáo sư
đó là gì?
G S: Khó nhất là thuyết phục được cán bộ, giáo

viên nhất trí với lãnh đạo nhà trường về phương án
120


phân phổi thu nhập. Người lao động thường chỉ quan
tâm đến quyền lợi, thu nhập năm sau có tăng hơn
năm trước khơng? Có cao hơn so vỏi trường bạn
khơng? chứ cịn những cái khó của lãnh đạo nhà
trường về các ràng buộc của pháp luật trong phân
phối thu nhập, chẳng hạn giới hạn Nhà nước cho phép
trong việc thanh toán vượt giờ để không vi phạm Luật
Lao động, hoặc làm thế nào để “cái bánh của trường
to ra” để ai cũng được phần nhiều hơn họ coi đó là việc
của lãnh đạo, của Ban Tài chính3.
Tiếp đến là tư tưởng bình quân chủ nghĩa, sống
lâu lên lão làng của một bộ phận cán bộ, giảng viên là
một rào cản không nhỏ để nhà trường trả lương theo
kết quả công việc. Mặc dù chúng tơi cũng đã tổ chức
lấy phiếu tín nhiệm của sinh viên đối với giảng dạy
của giáo viên nhưng kết quả chỉ là tham khảo chưa
đưa được vào cơ chê thưởng, phạt. Hiện nay, cơ sở để

trả lương, thương vẫn là thang bảng lương nhà nước

3 Thông tư số 50/2008/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC Hưống dẫn thực
hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đôi với nhà giáo trong các cơ
sở giáo dục công lập, của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ
Tài chính ngày 09/9/2008.

121


quy định và định mức giờ giảng của giáo viên4. Có
tình trạng ỏ một số bộ mơn, giảng viên vượt hàng
1.000 giờ, trường phải thanh toán vượt giờ, trái lại có
nhiều giảng viên khơng đủ giờ theo định mức nhưng
hiệu trưởng lại khơng có quyền giảm lương của họ.
À mà ngay cả quy định của Nhà nước mình cũng
cịn nhiều bất hợp lý, vẫn cịn can thiệp mạnh lắm.
Theo tơi thì chế độ tiên lương, thưởng cho từng loại
cán bộ, giảng viên hao nhiêu cũng nên để trường tự
quyết để có thể trả gấp 3 thậm chí gấp nhiều lần tiền
lương hiện nay. Không nên quy định “cứng” chỉ trả
thu nhập tăng gấp 2 lần tiền lương thì sẽ khơng
khuyến khích được giảng viên giỏi.
Năng lực của đội ngũ tài chính, kế tốn cũng
chưa thực sự đáp ứng với u cầu đổi mới cơ chế tài
chính, tham mưu cho lãnh đạo trong việc xây dựng
quy chế chi tiêu nội bộ, hầu hết các đơn vị đều lúng
túng trong việc xây dựng tiêu chí để trả 'thu nhập
tăng thêm cho người lao động theo hiệu quả công việc.
H u y ên : Nghị định 43 cũng đã khuyên khích giáo


viên, viên chức của đơn vị chủ động liên hệ, khai thác
4 Quyết định sô 1712/QĐ-BĐH ngày 18/12/1978 của Bộ Đại học và
Trung học chuyên nghiệp.

122


các hợp đồng dịch vụ với bên ngoài để tăng thu nhập
cho bản thân mỗi người và đóng góp vào nguồn thu
của nhà trường. Nhà trường có phát triển được nhiều
loại dịch vụ như vậy không?
GS: Cũng không dễ đâu, các nơi ký với chúng tôi

nhiều hợp đồng dịch vụ tư vấn tài chính, quản trị
doanh nghiệp, đào tạo giám đốc, kê toán trưởng, nhưng
chỉ khoảng 10% giảng viên đáp ứng được nhu cầu của
họ. Một sô" giảng viên được đào tạo từ thời bao cấp, tuổi
cao khó bắt kịp với yêu cầu đổi mới nội dung, phương
pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học nhưng không thể
cho họ nghỉ việc hay nghỉ hưu sớm để thay thê lớp trẻ.
Thơi thì... chắc phải chị ít năm nữa lốp này đủ tuổi về
hưu mới trường mới đổi mới mạnh được.
Tạm biệt trường Đại học Tràng An, Huyền và
Anh bạn đồng nghiệp càng tăng thêm quyết tâm đi
tìm những bằng chứng thuyết phục ở các trường khác,
cô mỉm cười với bạn “chắc báo cáo của bọn mình sẽ
gây sốc cho thủ trưởng đày".
V ân để th ả o lu ậ n :


1.
Xác định những bất cập chính trong q trình
thực hiện cơ chê tự chủ tài chính ỏ trường đại học
Tràng An?
123


2. Nếu bạn là hiệu trưởng của trường đại học
Tràng An bạn sẽ có những đề xuất gì để làm tốt cơ
chế tự chủ về tài chính hiện nay?
3. Với tư cách là nhà quản lý tài chính phụ trách
các trường đại học anh (chị) sẽ phản hồi như thế nào
trước những đề xuất đó?

124


GIAO Q U Y Ể N T ự C H Ủ , T ự C H ỊU T R Á C H
N H IỆ M Đ Ố I V Ớ I C ơ Q UAN N H À N Ư Ớ C G IẢ I P H Á P T Ừ GỐC

TS. H o à n g Thi Thúy N guyêt
K h o án đi đôi với q u ản

Một ngày giáp Tết năm Ât Dậu 2005, ơng Thuần
trưởng phịng Tố chức thành phố Hải Thanh đến cơ
quan sớm hơn giờ làm việc khoảng 15 phút như
thường lệ, lướt qua tập công văn, giấy tờ của UBND
thành phô' gửi chiều qua. Ơng giật mình khi bắt gặp
những dịng chữ sau đây trong lá đơn xin việc tại
phòng Xây dựng - Nhà đất thành phô’ của anh

Nguyễn Văn Dũng, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi
trường đại học Xây dựng: “Là một người sinh ra và
lớn lên tại Hải Thanh, sau khi học xong với tấm bằng
đỏ, tơi củng có cơ hội đ ể tìm được việc tốt, thu nhập
cao, nhưng tơi chỉ có một mong muốn được đóng góp
phần cơng sức, trí tuệ nhỏ bé cho q hương”.
Ơng xúc động nhớ lại câu chuyện cũ cách đây
hơn hai năm, một sự trùng hợp hiếm thấy trong lá
125


×