Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

KINH DOANH CHỨNG KHOÁN đề tài phân tích ngành thủy sản việt nam và phân tích công ty cổ phần vĩnh hoàn (VHC)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (749.1 KB, 48 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

BÁO CÁO THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH DOANH CHỨNG KHỐN

Đề tài:
Phân tích ngành thủy sản Việt Nam và phân
tích Cơng ty Cổ phần Vĩnh
Hồn (VHC)

Giáo : Lê Đức Tố
viên
hướng : 2120BKSC2211
dẫn
: Nhóm 3
Lớp
học phần
Sinh viên thực hiện


Hà Nội, tháng 04 năm 2021


MỤC LỤC
I.
II.


I. Ngành thủy sản
1. Tổng quan ngành thủy sản


III.

Sở hữu đường bờ biển dài 3,260 km và khu đặc quyền kinh tế với diện
tích
1
triệu km , Việt Nam là một đất nước đầy tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng và
đánh bắt thủy hải sản. Nước ta sở hữu nhiều chủng loại thủy sản đa dạng được phân
bố dựa trên sự khác biệt về đặc điểm địa lý và về khí hậu:
2

-

Khu vực miền Bắc với thế mạnh về các loại cá nước ngọt, chăn nuôi cá lúa và nuôi cá lồng trên biển.
Khu vực miền Trung tập trung vào nuôi thâm canh tôm sú và nuôi cá lồng
trên biển và tôm hùm.
Khu vực miền Nam sở hữu nhiều loại hình chăn ni đa dạng như ni ao,
hàng rào, nuôi lồng cho cá da trơn và nhiều chủng loại khác như cá lóc, cá
rơ đồng, tơm càng xanh được ni thâm canh tích hợp với các chủng loại
khác như mơ hình chăn ni kết hợp cá - lúa, tơm lúa và mơ hình ni
trồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn.
IV.

Các loại thủy sản thế mạnh tại Việt Nam gồm: cá da trơn, tôm, cá rô phi

cùng
với một số chủng loại đang trên đà tăng trưởng như các lồi nhuyễn thể có vỏ và cá
biển như cá bớp, cá tuyết và cá mú. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh nhất tại các
tỉnh Đồng Bằng Sông Mekong, chiếm đến 75% - 80% sản lượng cá da trơn và tơm
tồn quốc.
V.


Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất

hàng
hóa lớn gắn với cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thích
ứng với biến đổi khí hậu; cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất, chất
lượng, hiệu quả cao; thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế; đời
sống vật chất tinh thần của người dân không ngừng nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội;
góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ
quốc.
2. Diễn biến ngành thủy sản
2.1. Nhu cầu tiêu thụ và tình hình sản xuất trong ngành
2.1.1. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản
VI.

Theo báo cáo “Thực trạng khai thác và Nuôi trồng thủy sản thế giới năm

2020
- SOFIA 2020” của FAO (Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc), tiêu thụ thủy sản
bình quân đầu người tăng từ 9kg trong năm 1961 lên 20,5kg trong năm 2018, tăng

4


trưởng khoảng 1,5%/năm. Đồng thời, từ năm 1861, tiêu thụ thủy sản hàng năm trên
tồn cầu tăng trung bình 3,1% vượt mức tăng dân số 1,6% và vượt mức tăng tiêu thụ
của tất cả các loại thực phẩm giàu protein khác (thịt bò, gia cầm, sữa) với 2,1%/năm.

5



VII.

Theo dự báo của FAO đến năm 2030, tiêu thụ thủy sản thế giới sẽ tăng

18%
(28 triệu tấn) so với năm 2018, đạt mức 21,5kg/ người. Mặc dù tốc độ tăng trường
hàng năm sẽ chậm hơn trong 10 năm tới ở mức 1,4% so với 2,6% trong giai đoạn
2017-2018. Tốc độ tăng trường chậm hơn chủ yếu do tăng trưởng sản xuất giảm, giá
cao hơn và dân số giảm.
VIII. Nhờ những đặc tính như chất lượng nguyên liệu tốt, sản phẩm chế biến
phong
phú, hàng thủy sản nước ta có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Với kỳ
vọng mức độ ảnh hưởng của dịch Covid - 19 sẽ giảm dần và sự hỗ trợ của các Hiệp
định thương mại tự do, giới phân tích cho rằng, các kênh tiêu thụ chính của các sản
phẩm thủy sản sẽ dần hoạt động trở lại, hỗ trợ đà tăng trưởng cho lĩnh vực này trong
năm 2021.
IX.

Thị trường nội địa chưa phải là trọng tâm của ngành thủy sản do người

Việt
thói quen ưa chuộng, sử dụng thủy sản tươi sống hơn là các sản phẩm đơng lạnh, đóng
hộp, dầu cá, ...nhu cầu các sản phảm chất lượng cao tương đối thấp. Thị trường hải
sản tươi ở Việt Nam rất phong phú về chủng loại và tiện lợi cho người mua khi ở bất
cứ khu chợ nào cũng có.
X.

Thủy sản Việt Nam hiện nay được tiêu thụ ở hơn 160 thị trường. Thị


trường
tiêu thụ ngày càng được mở rộng và ngày càng có chỗ đứng quan trọng ở những thị
trường lớn. Mỹ, Nhật Bản, EU là 3 thị trường lớn nhất, chiếm 50-60% giá trị xuất
khẩu của Việt Nam.
XI.

Cả năm 2020, xuất khẩu của ngành thủy sản đạt kim ngạch 8,6 tỷ USD,

trong
đó riêng mặt hàng tôm xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hơn 12,4%.
Như vậy, mặc dù có những thời điểm trồi sụt thất thường trong năm vì dịch bệnh, thị
trường xuất khẩu tôm đã trở thành điểm sáng của ngành xuất khẩu thủy sản năm 2020.
Việt Nam là quốc gia có thị phần xuất khẩu cá tra gần như tuyệt đối trên thế giới,
chiếm 95%, năm 2019 (theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới -ITC).
2.1.2. Tình hình sản xuất thủy sản
XII. Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình
Dương, có diện tích khoảng 3,448,000 km 2, có bờ biển dài 3,260 km. Vùng nội thuỷ
và lãnh hải rộng 226,000 km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với
hơn 4,000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1,160 km2 được che
chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền. Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng

6


là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ản Độ - Thái
Bình Dương với chừng 11,000 loài sinh vật đã được phát hiện. Bên cạnh đó, Việt
Nam có hệ thống sơng ngịi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt
động khai thác và nuôi trồng thủy sản.

7



XIII. Từ 1995 - 2020: Sản lượng thủy sản VN tăng mạnh, tăng gấp hơn 6 lần,
từ
1,3
triệu tấn năm 1995 lên 8,4 triệu tấn năm 2020, tăng trưởng trung bình hàng năm 8%.
Trong đó, sản lượng NTTS chiếm 54%, khai thác chiếm 46%.
Sản lượng thủy sản Việt Nam, 1995 - 2020
9000
8000
7000
6000
5000
4000
3000
2000
1000
0

XIV.
XV.
XVI. Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam tăng gấp 11 lần, tăng trưởng
trung
bình hàng năm 10% từ 415 nghìn tấn lên gần 4,6 triệu tấn. Ni trồng thủy sản phục
vụ cho xuất khẩu tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 95% tổng
sản lượng cá tra và 80% sản lượng tôm).

XVII.
XVIII.
Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam tăng gấp hơn 4 lần,

tăng
trường
trung bình năm 6% từ 929 nghìn tấn lên 3,85 triệu tấn.

8


XIX.

XX.
2.2. Điểm chính trong ngành năm 2020
2.2.1. Sự thay đổi cơ cấu ngành sau Covid - 19
XXI. Đại dịch Covid - 19 khiến chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn trong cả
năm.
Nhu cầu trên thế giới giảm đáng kể đối với các sản phẩm thủy sản, khiến giá rơi
xuống các mức thấp mới. Giá tôm nguyên liệu trong nước chạm mức đáy 82.500
đồng/kg trong tháng 10 (-12% so với cùng kỳ và -14% so với đầu năm) trong khi giá
cá nguyên liệu trong nước giảm xuống còn 17.750 đồng/kg (-14% so với cùng kỳ và 10% so với đầu năm). Đáng lưu ý là sự sụt giảm này xảy ra ngay cả trên mức nền thấp
của năm trước.
XXII. Bất chấp nhu cầu giảm, các công ty xuất khẩu tôm vẫn tìm thấy cơ hội từ
sự
suy yếu nguồn cung tồn cầu và đẩy mạnh xuất khẩu về sản lượng. Theo Rabobank,
sản lượng tơm của Ản Độ ước tính giảm từ 10% -15% so với cùng kỳ trong năm 2020,
tạo cơ hội cho các quốc gia khác tận dụng gia tăng xuất khẩu. Mặt khác, nhu cầu cá tra
xuất khẩu sụt giảm mạnh do các đợt giãn cách xã hội trong khu vực được thực hiện ở
tất cả các thị trường xuất khẩu cá tra chính. Điều này khơng chỉ ảnh hưởng đến giá trị
xuất khẩu sang Trung Quốc, thị trường nhập khẩu cá tra hàng đầu mà còn ảnh hưởng
ở cả thị trường Mỹ và EU (thị trường lớn thứ 2 và thứ 3 của Việt Nam).
2.2.2. Kết quả lợi nhuận năm 2020 của ngành


9


XXIII.
Tổng giá trị xuất khẩu của các công ty thủy sản Việt Nam trong
11T2020
đạt
7,7 tỷ USD (-2% so với cùng kỳ). Theo loại sản phẩm, giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,4 tỷ
USD (+11% so với cùng kỳ) và giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,4 tỷ USD (- 25% so với
cùng kỳ). Mặc dù giá trị xuất khẩu tơm tăng trưởng mạnh, nhưng giá bán bình qn
thấp khiến tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty xuất khẩu tôm giảm. Các công ty
xuất khẩu cá tra cũng ghi nhận tỷ suất lợi nhuận gộp giảm đến Q3. Tuy nhiên, do
giátôm và cá tra bắt đầu tăng từ đầu quý 4, kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận gộp cao hơn ở tất
cả
các công ty xuất khẩu, bắt đầu từ Q4/2020.
XXIV. VASEP ước tính giá trị xuất khẩu thủy sản đến cuối năm đi ngang so với
cùng
kỳ năm trước (đạt 8,6 tỷ USD), trong đó giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,8 tỷ USD (+12,4%
so với cùng kỳ) và giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,5 tỷ USD (-24% so với cùng kỳ).
Tỳ suất lợi nhuận gộp của các công ty
xuất khẩu thủy sàn theo quý

XXV.

2.2.3. Các sự kiện đáng chú ý khác

XXVI.Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8, trong đó thuế nhập khẩu của
EU
được giảm ngay lập tức đối với tôm nguyên liệu (từ 4,2% xuống 0,0%) và cá tra (từ
5,5% xuống 4,1%). Đối với cá tra, mức giảm thuế không đáng kể không đủ bù đắp

cho sự sụt giảm của nhu cầu từ EU, và xuất khẩu cá tra sang EU phục hồi rất chậm tới
cuối năm. Ngược lại, hiệp định tác động tích cực tới xuất khẩu tôm kể từ tháng 8,
khiến giá trị xuất khẩu hàng tháng liên tục tăng trưởng so với cùng kỳ tính đến tháng
10.
XXVII.

Việc Trung Quốc thắt chặt kiểm soát hải sản nhập khẩu bắt đầu từ
đầu
tháng
11, gây ra sự ách tắc tại các cảng biển của Trung Quốc. Theo VASEP, thời gian thơng
quan theo chính sách mới sẽ mất thêm 20-30 ngày, gây áp lực cho các công ty xuất
khẩu do việc giao hàng bị chậm và chi phí cho container lạnh tăng.

1
0


XXVIII.

Việt Nam bị gắn nhãn là nước thao túng tiền tệ trong báo cáo gần
đây
của
Bộ
Tài chính Hoa Kỳ “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại
lớn của Hoa Kỳ”. Kể từ đó, dấy lên mối quan ngại Mỹ có thế áp thuế đối với hàng hóa
nhập khẩu từ Việt Nam (như đã thực hiện với hàng hóa của Trung Quốc vào tháng
3/2018) và thủy sản có thể là một trong những sản phẩm bị đánh thuế đầu tiên. Mặc
dù vậy các công ty xuất khẩu cho rằng khả năng bị áp thuế là khá thấp và chính phủ
Việt Nam cũng đang cố gắng giải quyết vấn đề này với chính phủ Hoa Kỳ.
2.3. Kết luận

XXIX.Diễn biến ngành: KHẢ QUAN

1
1


XXX.

XXXI.
XXXII.

Các công ty ngành thủy sản trong phạm vi nghiên cứu của chúng
tôi
tăng
18%
so với đầu năm và 86% từ mức đáy vào tháng 3, tăng cao hơn so với chỉ số VNIndex
lần lượt tăng 15% và 67%. Các cổ phiếu nổi bật: Các công ty xuất khẩu tôm (MPC:
+55% so với đầu năm, CMX: +70% so với đầu năm và FMC: +41% so với đầu năm)
tăng trưởng ấn tượng, trong khi các công ty xuất khẩu cá tra (VHC: +9% so với đầu
năm, IDI: +43% so với đầu năm, ANV: +21% so với đầu năm, ABT: -9% so với đầu
năm và HVG: -56% so với đầu năm) có một năm khó khăn hơn và ghi nhận kết quả
kinh doanh trái ngược. Trong khi các công ty xuất khẩu tôm tận dụng được cơ hội do
nguồn cung từ Ản Độ suy yếu, các công ty xuất khẩu cá tra vẫn đang gặp khó khăn
khi các thị trường xuất khẩu chủ lực phục hồi không ổn định, đặc biệt là thị trường
Trung Quốc.
3. Ảnh hưởng của EVFTA
XXXIII.

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh
Châu

Âu
(EVFTA) đã được nghị viện Châu Âu thơng qua chính thức vào tháng 2/2020 và quốc
hội Việt Nam thơng qua vào tháng 6/2020, có hiệu lực chính thức từ ngày 1/8/2020.
Hiệp định này được coi là cú hích quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
trong 5-10 năm tới, ngồi ra nó cịn có ý nghĩa góp phần đa dạng hóa thị trường xuất,
nhập khẩu của Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, hiệp định
EVFTA sẽ góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm khoảng 2,18% đến 3,25% vào
năm 2025 (giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57%-5,3% vào năm 2030 (5 năm tiếp
theo) và 7,07%-7,72% vào năm 2035 so với kịch bản cơ sở (năm 2020).
XXXIV.Tôm nguyên liệu, cá tra được hưởng lợi ngay lập tức từ EVFTA.
3.1. Tình hình xuất khẩu thủy sản sang EU
- Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2019 đạt 8,6 tỷ USD, chiếm 3,3% tổng kim

1
2


ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 3,4
tỷ
USD, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 2,0 tỷ USD.

1
3


-

Tôm: Năm 2019, EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt
Nam, với kim ngạch 690 triệu USD, chiếm 21% tổng xuất khẩu tôm của Việt
Nam.Xuất khẩu tôm của Việt Nam sang EU những năm gần đây sụt giảm chủ

yếu
do
giá
tôm suy giảm, cùng với sự gia tăng thị phần của các nước xuất khẩu cạnh tranh
như
Ecuador, Argentina đối với tôm nguyên liệu và Morocco đối với tôm chế biến
tại
thị
trường EU. Tôm nhập khẩu từ Ecuador và Morocco đều được EU miễn thuế.
XXXV. - Cá tra: Kim ngạch xuất khẩu cá tra sang EU từng đạt 550 triệu USD
năm
2015,
song sụt giảm mạnh từ năm 2016 và chỉ duy trì ở mức 200 triệu USD mỗi năm.
Nguyên nhân do cuối năm 2015, đầu năm 2016 truyền hình Tây Ban Nha thực hiện
một phóng sự về việc ni cá tra bằng lồng, bè ở Việt Nam không đảm bảo vệ sinh, sử
dụng thức ăn thủy sản không đảm bảo chất lượng và gây ảnh hưởng đến môi trường
sông Mekong. Năm 2019, thị trường EU chỉ chiếm 12% xuất khẩu cá tra của Việt
Nam (so với 35% năm 2015).
XXXVI.

XXXVII.

XXXVIII.

XXXIX.

XL.
XLI. Các điểm lưu ý
XLII. Yêu cầu xuất xứ đối với mặt hàng thủy sản là xuất xứ thuần túy, cụ thể là


1
4


yêu
cầu thủy sản phải được nuôi trồng (hoặc đánh bắt) và chế biến trong nước. Đối với
ngành hàng cá tra, các doanh nghiệp chế biến cá tra đều đạt tiêu chuẩn này. Đối với
ngành hàng tôm, một số doanh nghiệp có nhập khẩu tơm từ Ản Độ để chế biến (như
Minh Phú), song sản lượng nhập khẩu không đáng kể (tôm nhập khẩu chỉ chiếm
khoảng 16% tôm nguyên liệu sử dụng tại Việt Nam), do đó khơng ảnh hưởng đến khả
năng hưởng lợi về ưu đãi thuế của doanh nghiệp.

1
5


XLIII.Tuy vậy, để tăng trưởng xuất khẩu được bền vững, các doanh nghiệp nên

chứng nhận ASC, tuy đây khơng phải là yêu cầu bắt buộc nhưng là chứng nhận sinh
thái đang ngày càng phổ biến đối với các mặt hàng thủy sản nuôi trồng nhập khẩu vào
EU. Chứng nhận này gồm có các tiêu chuẩn về tác động mơi trường, bảo tồn tài
nguyên nước và quần thể hoang dã, bảo đảm quyền lợi của người lao động, v.v...
được cấp bởi Hội đồng quản lý Nuôi trồng thủy sản.
3.2. Các doanh nghiệp hoạt động chính trong ngành
- Sau khi EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020, xuất khẩu tôm sang EU28 tăng 15,9%
YoY trong tháng 8 và tăng 41,1% YoY trong tháng 9 (tháng 7: +2,0% YoY,
tháng
6:
7,9% YoY). Mức tăng này một phần đến từ sự suy giảm nguồn cung của Ản Độ


Ecuador - 2 quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới.
- Xuất khẩu cá tra vẫn tiếp tục suy giảm YoY và chưa có tín hiệu hồi phục rõ
ràng, với kim ngạch xuất khẩu sang EU28 tiếp tục suy giảm -3,7% YoY trong
tháng
8
và -11.7% YoY trong tháng 9 (tháng 7: -1,9% YoY, tháng 6: -32,4% YoY).
XLIV. XLV.
STT Mã
cổ
phiế
u

XLVI. D XLVII. LI.
oan
% xuất
h thu khẩu
2019
XLVIII.
(tỷ
sang
VND) XLIX. E
LIII. LIV. 9 LV. 5
CMX 51
9%

Đánh giá mức độ hưởng lợi

LII.
1


Doanh nghiệp có tỷ trọng xuất khẩu vào
EU/tổng Doanh thu lớn nhất trong các
doanh
nghiệp thuộc nghiên cứu của chúng tơi, do
đó

tiềm năng hưởng lợi lớn từ EVFTA.
Tuy nhiên doanh nghiệp không công bố
thông
tin chi tiết về cơ cấu sản phẩm (tôm
nguyên
liệu
vs. tôm chế biến).
Riêng trong tháng 8 và tháng 9, Camimex
xuất

-

-

1
6


LVI. LVII. LVIII. 3 LIX. 4
2
ABT 61
6%

-


-

LX.

Doanh nghiệp có tỷ trọng xuất khẩu vào
EU
lớn, có tiềm năng hưởng lợi từ EVFTA.
Tuy nhiên trong năm 2020, ngành cá tra
nói
chung vẫn đang gặp khó khăn do nhu cầu
tiêu
thụ
tại các thị trường lớn như US, EU, Trung
Quốc

1
7


LXI. LXII. LXIII. LXIV. LXV. - Doanh nghiệp tự chủ 100% về vùng ni


chứng nhận ASC đối với vùng ni. Chiến lược
của ABT là tập trung đẩy mạnh sản phẩm giá trị
đặc biệt
là vào
Bản. hàng
LXVI. LXVII. LXVIII. LXIX. 2 gia -tăng,
FMC

có cơ
cấu thị
sảntrường
phẩmNhật
với mặt
3
FMC 3.710 9%
tơm
chế
biến chiếm tới 77%. Trong ngắn hạn
doanh
nghiệp chỉ được hưởng lợi về thuế suất với
mặt
hàng tôm nguyên liệu, trong khi tôm chế
biến
phải sau 5 năm mới được hưởng mức thuế
giảm.
- Doanh nghiệp có kế hoạch phát hành tăng

1
8


LXX. LXXI. LXXII. LXXIII.
4
VHC 7.867 14%

-

-


-

-

LXXIV.

Mặt hàng cá tra sẽ được giảm thuế dần
trong
3
năm, do đó VHC sẽ được hưởng lợi ngay
lập
tức
sau khi EVFTA có hiệu lực.
Tuy vậy, xuất khẩu sang EU của VHC chỉ
chiếm tỷ trọng khá nhỏ (14%), trong khi
các
vấn
đề tại thị trường EU như nhu cầu suy giảm
do
dịch bệnh và hình ảnh cá tra bị tun
truyền

ơ
nhiễm mơi trường vẫn là những lực cản
cho
khả
năng tăng trưởng xuất khẩu của VHC sang
thị
trường này.

Xuất khẩu tháng 9 của VHC đạt 18,2 triệu
USD,
giảm 9,7% YoY. Xuất khẩu 9 tháng giảm
18%
YoY.
Cho năm 2020, SSI dự báo doanh thu và
lợi
nhuận của VHC sẽ đạt 7.096 tỷ đồng (10,1%
YoY) và 868 tỷ đồng (-26,4% YoY). Cho

1
9


4. Triển vọng tăng trưởng ngành thủy sản năm 2021
LXXV.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 2 tháng đầu năm
2021,
sản
lượng
thủy sản cả nước đạt 1.141,4 ngàn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, gồm sản
lượng nuôi trồng đạt 200,5 ngàn tấn, tăng 2,5% sản lượng khai thác đạt 540,9 ngàn
tấn, tăng 0,5% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 512,7 ngàn tấn, tăng 0,5%).
LXXVI.

VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản có thể tăng trưởng 10% so với
cùng
kỳ


đạt 9,4 tỷ USD trong năm 2021 (cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân (CAGR) giai
đoạn 2016-2019 là 6,8%), trong đó xuất khẩu tơm vẫn là động lực tăng trưởng (+15%
so với cùng kỳ đạt 4,4 tỷ USD), tiếp theo là cá tra (+5% so với cùng kỳ đạt 1,6 tỷ
USD) và các sản phẩm thủy sản khác (+6% so với cùng kỳ đạt 3,4 tỷ USD).
LXXVII.

Có 853 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản. trong đó, có 6
doanh
nghiệp
có trị giá đặt trên 10 triệu USD, đứng đầu là Cơng ty Cổ phần Thủy sản Sóc Trăng,
Cơng ty Cp Vĩnh hồn, Cơng ty Cp Thủy Sản Minh Phú - Hậu Giang, cơng ty Cp Tập
đồn Thủy Sản Minh Phú...
LXXVIII.

Có 137 doanh nghiệp có trị giá xuất khẩu trong tháng 1/2021 đạt
từ
1
đến
9,9
triệu USSD. Còn lại la các doanh nghiệp xuất khẩu đạt trị giá dưới 1 triệu USD, chiếm
25,5 % tổng giá trị giá xuất khẩu thủy sản cả nước.
LXXIX.

2 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ước đtạ
259,1
ngàn
tấn với trị giá 1,011 tỷ USD, tăng 5,5% về lượng và giảm 0,7% về trị giá so với cùng
kỳ năm 202, chiếm 2% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả nước. như vậy xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam những táng đầu năm 2021 chwua có nhiều biến đổi lớn
do với năm 202. Dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ tăng tốc manhk từ tháng

3/2021 do các doanh nghiệp đã có sự quyết tâm và chauanr bị kỹ lưỡng từ nguồn cung
tới sản xuất đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trong năm 2021.
LXXX.

Sau khi tăng 23,4% trong tháng 1/2021 đặt 606 triệu USD, với
những
tín
hiệu
tích cực từ mặt hàng các tra, các loại cá biển (trừ cá ngừ), tôm chân trắng. và xuất
khẩu sang một số thị trường chủ lực tăng mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Mexico,
Đài Loan, Brazil, xuất khẩu thủy sản của cả nước trong tháng 2 giảm khoảng 19% so
với cùng kỳ năm 2020 ước đạt trên 405 triệu USD. Mức tăng trưởng âm này là do
tháng 2 năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, thời gian sản xuất, khai thác, chế
biến ít hơn so với tháng 2/2020. Như vậy, lũy kế đến hết tháng 2/2021, xuất khẩu thủy

2
0


sản đạt trên 1 tỷ USD, tăng 2,2%.

2
1


LXXXI.

Trong 2 tháng đầu năm, xuất khẩu các sản phẩm thủy sản của Việt
Nam
tiếp

tục bị chi phối bởi xu hướng tiêu thụ của thị trường trong bối cảnh dịch Covid vẫn
nghiêm trọng. theo đó, nhu cầu vẫn nghiêng về các sản phẩm thủy sản có giá vừa phải,
dễ chế biến, có thời hạn bảo quản lâu, phù hợp với chế biến và tiêu thụ tại nhà như:tôm
chân tráng cỡ nhỏ đông lạnh, tôm chân trắng chế biến, chả cá, surimi, cá biển
phile, cắt khúc, cá cơm khô, mực khô... Trong khi đó, xuất khẩu các sản phẩm tơm
ngun con đơng lạnh, nhất là tôm sú giảm do yếu tố giá cao và do sự kiểm sốt chặt
hàng thực phẩm đơng lạnh nhập khẩu của thị trưởng Trung Quốc. ngoài ra, kỳ nghỉ tết
cũng khiến nguồn nguyên liệu sụt giảm nhất là các mặt hàng hải sản như cá ngừ, mực,
bạch tuộc, tôm biển, ... khiến giá trị xuất khẩu giảm. bên cạnh đó, hoạt động xuất
khẩu trong 2 tháng đầu năm cũng bị hạn chế bởi cước vận tải biển tăng cao.
LXXXII.

Xuất khẩu tháng 2 ước đặt gần 160 triệu USD giảm 18% so với
cùng
kỳ
năm
2020, tính đến hết tháng 2 xuất khẩu đạt trên 380 triệu USD giảm nhẹ 0,8% so với
cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu do xuất khẩu tôm sú giảm gần 40% trong khi xuất khẩu
tôm chân trắng vẫn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, 80% tổng xuất khẩu tôm với hoảng
304 triệu tăng khoảng 14% so với cùng kỳ năm ngối, tơm sú chỉ chiếm 10% đtạ
khoảng 38 triệu USD giảm 48%.
LXXXIII.
LXXXIV.

II. Công ty cổ phần Vĩnh Hồn
1. Tổng quan về cơng ty cổ phần Vĩnh Hồn

LXXXV.

Cơng Ty Cổ Phần Vĩnh Hồn là một trong những công ty chế biến


xuất
khẩu cá tra, basa hàng đầu của Việt Nam. Được thành lập vào ngày 27 tháng 12 năm
1997 tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Từ
một công ty nhỏ chuyên về chế biến và xuất khẩu cá tra và basa đông lạnh, với chiến
lược phát triển đúng đắn và tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, Công ty đã đạt
được những kết quả hết sức ấn tượng và tạo dựng được thương hiệu uy tín.
LXXXVI.


Lĩnh vực kinh doanh:

Ni trồng, đánh bắt, chế biến, bảo quản thủy hải sản và các sản phẩm từ thủy
hải sản. Mua bán thủy hải sản.



Mua bán máymóc thiết bị, hóa chất, nơng sản thực phẩm, súc sản, nguyên vật
liệu phục vụ sản xuất, chế biến thủy hải sản; chế biến thức ăn thủy sản.



Sản xuất và mua bán thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản, thuốc thú y thủy sản.
Các dịch vụ thú y thủy sản (tư vấn sử dụng thuốc, thức ăn và kỹ thuật nuôi
trồng thủy sản).

2
2





Kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái.



Sản xuất bao bì giấy, in các loại.



Xây dựng nhà các loại, kinh doanh bất động sản.

2
3


LXXXVII.

Năm 2019, Vĩnh Hoàn tiếp tục là đơn vị dẫn dầu trong việc xuất
khẩu

tra
trên toàn cầu và là nhà sản xuất thủy hải sản lớn thứ hai của Việt Nam ( sau CTCP
Tập Đoàn thủy sản Minh Phú). Thương hiệu Vĩnh Hoàn được xây dựng dựa trên
chấtlượng và dịch vụ với những lợi thế vượt trội, hệ thống sản xuất và ni trồng tích
hợp.
Thêm vào đó, Vĩnh Hồn có một đội ngũ điều hành dày dạn kinh nghiệm, tận tâm
trong cơng việc và có trách nhiệm cao. Cơng ty tiếp tục duy trì và phát huy những giá
trị này trước những thách thức của thị trường, cùng như những rào cản thương mại kỹ
thuật.

LXXXVIII. Cổ phiếu của Vĩnh Hoàn hiện đang được niêm yết tại Sở GDCK
TP.Hồ
Chí
Minh (HOSE) với mã niên yết VHC:





Nhóm ngành: Chế biến cá tra
Vốn điều lệ: 1,833,769,560,000 đồng
KL CP đang niêm yết: 183,376,956 cp
KL CP đang lưu hành: 181,946,026 cp
LXXXIX.

Cơ cấu cổ đông và ban lãnh đạo

XC.

Ban lãnh đạo của Vĩnh Hồn là những người có trình độ chun mơn và
gắn

lâu dài với Cơng ty từ những ngày đầu thành lập. Trừ bà Trương Thị Lệ Khanh, các
thành viên còn lại trong Ban Giám Đốc và Hội Đồng quản trị chỉ nắm giữ một tỷ lệ cổ
phần rất nhỏ tại Công ty.
XCI. Xét về cơ cấu cổ đông, bà Khanh là người sáng lập ra Vĩnh Hồn, hiện
nắm
giữ
vị trí Chủ tịch HĐQT. Điều này có khả năng dẫn đến rủi ro cổ đơng thiểu số ít có
quyền tham gia vào quyết định trong các vấn đề hoạt động của Cơng ty. Tuy nhiên, so

với mặt tích cực của việc thể hiện sự gắn bó lợi ích lâu dài của thành viên sáng lập với
Công ty, rủi ro này không đáng quan ngại.
XCII.
XCIII. 2. Cơ hội và rủi ro của công ty

2
4


2.1.
Cơ hội
- Ngành thủy sản có tiềm năng phát triển cao
XCIV. Thị trường còn nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là ở mảng bán lẻ và
sản
phẩm giá trị gia tăng.
XCV. Ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới ngày càng phát triển và thay thế
cho
các sản phẩm đánh bắt để cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho một lực lượng dân số
đang gia tăng, tạo cơ hội cho sản phẩm chính và cả những sản phẩm phục vụ cho ni
trồng.
-

Sự ủng hộ của chính phủ

XCVI. Ngành thủy sản nói chung và đặc biệt là ngành cá tra đang có sự quan tâm và
đầu

của nhà nước, hộ trợ cho những chương trình nghiên cứu và phát triển, xúc tiến
thương mại, tiếpthi và quan hệ cơng chúng giúp cải thiện hình ảnh cá tra trong tương
lai.

-

Sự uy tín của cơng ty
XCVII.

Nhận thức của người tiêu dùng về an toàn thưc phẩm ngày càng
cao,
nguồn
gốc
sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu, vì vậy uy tín của cơng ty làm cho người dùng tin
tưởng vào sản phẩm .
-

Lợi thế sản phẩm
XCVIII.

Cá tra vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh về giá so với các sản phẩm cá
thịt
trắng
khác, chưa có sản phẩm thay thế một cách trực tiếp loại cá này.
-

Nguồn lực kinh doanh và sản xuất mạnh
XCIX.VHC là doanh nghiệp dẫn đầu ngành xuất khẩu cá tra và duy trì thị phần

quanh
mức trung bình là 15% trong giai đoạn 2016-2020. Điều này đã mang đến cho VHC
nhiều thuận lợi.
C.


Theo kết quả kinh doanh mới nhất mà VHC công bố, 11 tháng năm 2020

do
ảnh hưởng của dịch COVID-19, doanh thu của VHC đạt khoảng 6,547 tỷ đồng
(-7,4% ). Tuy nhiên, theo các chuyên gia đến từ Cơng ty Chứng khốn Phúc Hưng
(PHS), VHC có sức chống chịu khó khăn từ COVID-19 cao hơn các doanh nghiệp

2
5


×