TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
BÁO CÁO THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH DOANH CHỨNG KHỐN
Đề tài:
Phân tích ngành thủy sản Việt Nam và phân tích Cơng ty Cổ
phần Vĩnh Hoàn (VHC)
Giáo viên hướng dẫn : Lê Đức Tố
Lớp học phần
: 2120BKSC2211
Sinh viên thực hiện
: Nhóm 3
Hà Nội, tháng 04 năm 2021
I.
MỤC LỤC
Ngành thủy sản........................................................................................
1.Tổng quan ngành thủy sản.....................................................................
2.Diễn biến ngành thủy sản.......................................................................
2.1.
Nhu cầu tiêu thụ và tình hình sản xuất tro
2.2.
Điểm chính trong ngành năm 2020..........
2.3.
Kết luận....................................................
3.Ảnh hưởng của EVFTA..........................................................................
3.1.
Tình hình xuất khẩu thủy sản sang EU....
3.2.
Các doanh nghiệp hoạt động chính trong
4.Triển vọng tăng trưởng ngành thủy sản năm 2021..............................
II.
Cơng ty cổ phần Vĩnh Hồn....................................................................
1.Tổng quan về cơng ty cổ phần Vĩnh Hồn............................................
2.Cơ hội và rủi ro của cơng ty...................................................................
2.1.
Cơ hội.......................................................
2.2.
Rủi ro........................................................
3.Phân tích hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty.....................
3.1.
Hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sả
3.2.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản................
3.3.
Kinh doanh phụ phẩm..............................
4.Đánh giá hiệu quả sản xuất và kinh doanh của Vĩnh Hoàn................
4.1.
Doanh thu – lợi nhuận.............................
4.2.
Tài sản – nợ..............................................
5.Triển vọng kinh doanh của VHC năm 2021.........................................
6.
Cổ phiếu VHC........................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................
BẢNG ĐÁNH GIÁ NHÓM......................................................................................
Ngành thủy sản
1. Tổng quan ngành thủy sản
I.
Sở hữu đường bờ biển dài 3,260 km và khu đặc quyền kinh tế với diện tích 1
triệu km2, Việt Nam là một đất nước đầy tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng và
đánh bắt thủy hải sản. Nước ta sở hữu nhiều chủng loại thủy sản đa dạng được phân
bố dựa trên sự khác biệt về đặc điểm địa lý và về khí hậu:
- Khu vực miền Bắc với thế mạnh về các loại cá nước ngọt, chăn nuôi cá lúa và nuôi cá lồng trên biển.
- Khu vực miền Trung tập trung vào nuôi thâm canh tôm sú và nuôi cá lồng
trên biển và tôm hùm.
- Khu vực miền Nam sở hữu nhiều loại hình chăn ni đa dạng như nuôi ao,
hàng rào, nuôi lồng cho cá da trơn và nhiều chủng loại khác như cá lóc, cá
rơ đồng, tơm càng xanh được ni thâm canh tích hợp với các chủng loại
khác như mơ hình chăn ni kết hợp cá – lúa, tơm lúa và mơ hình ni
trồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn.
Các loại thủy sản thế mạnh tại Việt Nam gồm: cá da trơn, tôm, cá rô phi cùng
với một số chủng loại đang trên đà tăng trưởng như các lồi nhuyễn thể có vỏ và cá
biển như cá bớp, cá tuyết và cá mú. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh nhất tại các
tỉnh Đồng Bằng Sông Mekong, chiếm đến 75% - 80% sản lượng cá da trơn và tơm
tồn quốc.
Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất hàng
hóa lớn gắn với cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thích
ứng với biến đổi khí hậu; cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất, chất
lượng, hiệu quả cao; thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế; đời
sống vật chất tinh thần của người dân không ngừng nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội;
góp phần bảo đảm quốc phịng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ
quốc.
2. Diễn biến ngành thủy sản
2.1. Nhu cầu tiêu thụ và tình hình sản xuất trong ngành
2.1.1. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản
Theo báo cáo “Thực trạng khai thác và Nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2020
– SOFIA 2020” của FAO (Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc), tiêu thụ thủy sản bình
quân đầu người tăng từ 9kg trong năm 1961 lên 20,5kg trong năm 2018, tăng trưởng
khoảng 1,5%/năm. Đồng thời, từ năm 1861, tiêu thụ thủy sản hàng năm trên tồn cầu
tăng trung bình 3,1% vượt mức tăng dân số 1,6% và vượt mức tăng tiêu thụ của tất cả
các loại thực phẩm giàu protein khác (thịt bò, gia cầm, sữa) với 2,1%/năm.
1
Theo dự báo của FAO đến năm 2030, tiêu thụ thủy sản thế giới sẽ tăng 18%
(28 triệu tấn) so với năm 2018, đạt mức 21,5kg/ người. Mặc dù tốc độ tăng trường
hàng năm sẽ chậm hơn trong 10 năm tới ở mức 1,4% so với 2,6% trong giai đoạn
2017-2018. Tốc độ tăng trường chậm hơn chủ yếu do tăng trưởng sản xuất giảm, giá
cao hơn và dân số giảm.
Nhờ những đặc tính như chất lượng nguyên liệu tốt, sản phẩm chế biến phong
phú, hàng thủy sản nước ta có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Với kỳ
vọng mức độ ảnh hưởng của dịch Covid – 19 sẽ giảm dần và sự hỗ trợ của các Hiệp
định thương mại tự do, giới phân tích cho rằng, các kênh tiêu thụ chính của các sản
phẩm thủy sản sẽ dần hoạt động trở lại, hỗ trợ đà tăng trưởng cho lĩnh vực này trong
năm 2021.
Thị trường nội địa chưa phải là trọng tâm của ngành thủy sản do người Việt
thói quen ưa chuộng, sử dụng thủy sản tươi sống hơn là các sản phẩm đơng lạnh, đóng
hộp, dầu cá, …nhu cầu các sản phảm chất lượng cao tương đối thấp. Thị trường hải
sản tươi ở Việt Nam rất phong phú về chủng loại và tiện lợi cho người mua khi ở bất
cứ khu chợ nào cũng có.
Thủy sản Việt Nam hiện nay được tiêu thụ ở hơn 160 thị trường. Thị trường
tiêu thụ ngày càng được mở rộng và ngày càng có chỗ đứng quan trọng ở những thị
trường lớn. Mỹ, Nhật Bản, EU là 3 thị trường lớn nhất, chiếm 50-60% giá trị xuất
khẩu của Việt Nam.
Cả năm 2020, xuất khẩu của ngành thủy sản đạt kim ngạch 8,6 tỷ USD, trong
đó riêng mặt hàng tơm xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hơn 12,4%.
Như vậy, mặc dù có những thời điểm trồi sụt thất thường trong năm vì dịch bệnh, thị
trường xuất khẩu tơm đã trở thành điểm sáng của ngành xuất khẩu thủy sản năm 2020.
Việt Nam là quốc gia có thị phần xuất khẩu cá tra gần như tuyệt đối trên thế giới,
chiếm 95%, năm 2019 (theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới –ITC).
2.1.2. Tình hình sản xuất thủy sản
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình
Dương, có diện tích khoảng 3,448,000 km², có bờ biển dài 3,260 km. Vùng nội thuỷ
và lãnh hải rộng 226,000 km², vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km² với
hơn 4,000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1,160 km² được che
chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền. Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng
là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ - Thái
Bình Dương với chừng 11,000 lồi sinh vật đã được phát hiện. Bên cạnh đó, Việt Nam
có hệ thống sơng ngịi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động
khai thác và nuôi trồng thủy sản.
2
Từ 1995 – 2020: Sản lượng thủy sản VN tăng mạnh, tăng gấp hơn 6 lần, từ 1,3
triệu tấn năm 1995 lên 8,4 triệu tấn năm 2020, tăng trưởng trung bình hàng năm 8%.
Trong đó, sản lượng NTTS chiếm 54%, khai thác chiếm 46%.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam tăng gấp 11 lần, tăng trưởng trung
bình hàng năm 10% từ 415 nghìn tấn lên gần 4,6 triệu tấn. Nuôi trồng thủy sản phục
vụ cho xuất khẩu tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 95% tổng
sản lượng cá tra và 80% sản lượng tôm).
Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam tăng gấp hơn 4 lần, tăng trường
trung bình năm 6% từ 929 nghìn tấn lên 3,85 triệu tấn.
3
2.2.
Điểm chính trong ngành năm 2020
2.2.1. Sự thay đổi cơ cấu ngành sau Covid - 19
Đại dịch Covid – 19 khiến chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn trong cả năm.
Nhu cầu trên thế giới giảm đáng kể đối với các sản phẩm thủy sản, khiến giá rơi
xuống các mức thấp mới. Giá tôm nguyên liệu trong nước chạm mức đáy 82.500
đồng/kg trong tháng 10 (-12% so với cùng kỳ và -14% so với đầu năm) trong khi giá
cá nguyên liệu trong nước giảm xuống còn 17.750 đồng/kg (-14% so với cùng kỳ và 10% so với đầu năm). Đáng lưu ý là sự sụt giảm này xảy ra ngay cả trên mức nền thấp
của năm trước.
Bất chấp nhu cầu giảm, các cơng ty xuất khẩu tơm vẫn tìm thấy cơ hội từ sự suy
yếu nguồn cung toàn cầu và đẩy mạnh xuất khẩu về sản lượng. Theo Rabobank, sản
lượng tơm của Ấn Độ ước tính giảm từ 10% -15% so với cùng kỳ trong năm 2020, tạo cơ
hội cho các quốc gia khác tận dụng gia tăng xuất khẩu. Mặt khác, nhu cầu cá tra xuất
khẩu sụt giảm mạnh do các đợt giãn cách xã hội trong khu vực được thực hiện ở tất cả
các thị trường xuất khẩu cá tra chính. Điều này khơng chỉ ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu
sang Trung Quốc, thị trường nhập khẩu cá tra hàng đầu mà còn ảnh hưởng
ở cả thị trường Mỹ và EU (thị trường lớn thứ 2 và thứ 3 của Việt Nam).
2.2.2. Kết quả lợi nhuận năm 2020 của ngành
Tổng giá trị xuất khẩu của các công ty thủy sản Việt Nam trong 11T2020 đạt
7,7 tỷ USD (-2% so với cùng kỳ). Theo loại sản phẩm, giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,4 tỷ
USD (+11% so với cùng kỳ) và giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,4 tỷ USD (- 25% so với
cùng kỳ). Mặc dù giá trị xuất khẩu tôm tăng trưởng mạnh, nhưng giá bán bình quân
thấp khiến tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty xuất khẩu tôm giảm. Các công ty
xuất khẩu cá tra cũng ghi nhận tỷ suất lợi nhuận gộp giảm đến Q3. Tuy nhiên, do giá
4
tôm và cá tra bắt đầu tăng từ đầu quý 4, kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận gộp cao hơn ở tất cả
các công ty xuất khẩu, bắt đầu từ Q4/2020.
VASEP ước tính giá trị xuất khẩu thủy sản đến cuối năm đi ngang so với cùng
kỳ năm trước (đạt 8,6 tỷ USD), trong đó giá trị xuất khẩu tơm đạt 3,8 tỷ USD (+12,4%
so với cùng kỳ) và giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,5 tỷ USD (-24% so với cùng kỳ).
2.2.3. Các sự kiện đáng chú ý khác
Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8, trong đó thuế nhập khẩu của EU
được giảm ngay lập tức đối với tôm nguyên liệu (từ 4,2% xuống 0,0%) và cá tra (từ
5,5% xuống 4,1%). Đối với cá tra, mức giảm thuế không đáng kể không đủ bù đắp
cho sự sụt giảm của nhu cầu từ EU, và xuất khẩu cá tra sang EU phục hồi rất chậm tới
cuối năm. Ngược lại, hiệp định tác động tích cực tới xuất khẩu tôm kể từ tháng 8,
khiến giá trị xuất khẩu hàng tháng liên tục tăng trưởng so với cùng kỳ tính đến tháng
10.
Việc Trung Quốc thắt chặt kiểm sốt hải sản nhập khẩu bắt đầu từ đầu tháng
11, gây ra sự ách tắc tại các cảng biển của Trung Quốc. Theo VASEP, thời gian thơng
quan theo chính sách mới sẽ mất thêm 20-30 ngày, gây áp lực cho các công ty xuất
khẩu do việc giao hàng bị chậm và chi phí cho container lạnh tăng.
Việt Nam bị gắn nhãn là nước thao túng tiền tệ trong báo cáo gần đây của Bộ
Tài chính Hoa Kỳ “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại
lớn của Hoa Kỳ”. Kể từ đó, dấy lên mối quan ngại Mỹ có thế áp thuế đối với hàng hóa
nhập khẩu từ Việt Nam (như đã thực hiện với hàng hóa của Trung Quốc vào tháng
3/2018) và thủy sản có thể là một trong những sản phẩm bị đánh thuế đầu tiên. Mặc
dù vậy các công ty xuất khẩu cho rằng khả năng bị áp thuế là khá thấp và chính phủ
Việt Nam cũng đang cố gắng giải quyết vấn đề này với chính phủ Hoa Kỳ.
2.3.
Kết luận
Diễn biến ngành: KHẢ QUAN
5
Các công ty ngành thủy sản trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tăng 18%
so với đầu năm và 86% từ mức đáy vào tháng 3, tăng cao hơn so với chỉ số VNIndex
lần lượt tăng 15% và 67%. Các cổ phiếu nổi bật: Các công ty xuất khẩu tôm (MPC:
+55% so với đầu năm, CMX: +70% so với đầu năm và FMC: +41% so với đầu năm)
tăng trưởng ấn tượng, trong khi các công ty xuất khẩu cá tra (VHC: +9% so với đầu
năm, IDI: +43% so với đầu năm, ANV: +21% so với đầu năm, ABT: -9% so với đầu
năm và HVG: -56% so với đầu năm) có một năm khó khăn hơn và ghi nhận kết quả
kinh doanh trái ngược. Trong khi các công ty xuất khẩu tôm tận dụng được cơ hội do
nguồn cung từ Ấn Độ suy yếu, các công ty xuất khẩu cá tra vẫn đang gặp khó khăn
khi các thị trường xuất khẩu chủ lực phục hồi không ổn định, đặc biệt là thị trường
Trung Quốc.
3. Ảnh hưởng của EVFTA
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu
(EVFTA) đã được nghị viện Châu Âu thơng qua chính thức vào tháng 2/2020 và quốc
hội Việt Nam thông qua vào tháng 6/2020, có hiệu lực chính thức từ ngày 1/8/2020.
Hiệp định này được coi là cú hích quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
trong 5-10 năm tới, ngồi ra nó cịn có ý nghĩa góp phần đa dạng hóa thị trường xuất,
nhập khẩu của Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, hiệp định
EVFTA sẽ góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm khoảng 2,18% đến 3,25% vào
năm 2025 (giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57%-5,3% vào năm 2030 (5 năm tiếp
theo) và 7,07%-7,72% vào năm 2035 so với kịch bản cơ sở (năm 2020).
Tôm nguyên liệu, cá tra được hưởng lợi ngay lập tức từ EVFTA.
3.1. Tình hình xuất khẩu thủy sản sang EU
- Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2019 đạt 8,6 tỷ USD, chiếm 3,3% tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 3,4 tỷ
USD, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 2,0 tỷ USD.
- Tôm: Năm 2019, EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt
Nam, với kim ngạch 690 triệu USD, chiếm 21% tổng xuất khẩu tôm của Việt Nam.
6
Xuất khẩu tôm của Việt Nam sang EU những năm gần đây sụt giảm chủ yếu do giá
tôm suy giảm, cùng với sự gia tăng thị phần của các nước xuất khẩu cạnh tranh như
Ecuador, Argentina đối với tôm nguyên liệu và Morocco đối với tôm chế biến tại thị
trường EU. Tôm nhập khẩu từ Ecuador và Morocco đều được EU miễn thuế.
- Cá tra: Kim ngạch xuất khẩu cá tra sang EU từng đạt 550 triệu USD năm 2015,
song sụt giảm mạnh từ năm 2016 và chỉ duy trì ở mức 200 triệu USD mỗi năm.
Nguyên nhân do cuối năm 2015, đầu năm 2016 truyền hình Tây Ban Nha thực hiện
một phóng sự về việc ni cá tra bằng lồng, bè ở Việt Nam không đảm bảo vệ sinh, sử
dụng thức ăn thủy sản không đảm bảo chất lượng và gây ảnh hưởng đến môi trường
sông Mekong. Năm 2019, thị trường EU chỉ chiếm 12% xuất khẩu cá tra của Việt
Nam (so với 35% năm 2015).
Các điểm lưu ý
Yêu cầu xuất xứ đối với mặt hàng thủy sản là xuất xứ thuần túy, cụ thể là yêu
cầu thủy sản phải được nuôi trồng (hoặc đánh bắt) và chế biến trong nước. Đối với
ngành hàng cá tra, các doanh nghiệp chế biến cá tra đều đạt tiêu chuẩn này. Đối với
ngành hàng tơm, một số doanh nghiệp có nhập khẩu tôm từ Ấn Độ để chế biến (như
Minh Phú), song sản lượng nhập khẩu không đáng kể (tôm nhập khẩu chỉ chiếm
khoảng 16% tôm nguyên liệu sử dụng tại Việt Nam), do đó khơng ảnh hưởng đến khả
năng hưởng lợi về ưu đãi thuế của doanh nghiệp.
7
Tuy vậy, để tăng trưởng xuất khẩu được bền vững, các doanh nghiệp nên có
chứng nhận ASC, tuy đây khơng phải là yêu cầu bắt buộc nhưng là chứng nhận sinh
thái đang ngày càng phổ biến đối với các mặt hàng thủy sản nuôi trồng nhập khẩu vào
EU. Chứng nhận này gồm có các tiêu chuẩn về tác động mơi trường, bảo tồn tài
nguyên nước và quần thể hoang dã, bảo đảm quyền lợi của người lao động, v.v…
được cấp bởi Hội đồng quản lý Nuôi trồng thủy sản.
3.2. Các doanh nghiệp hoạt động chính trong ngành
- Sau khi EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020, xuất khẩu tơm sang EU28 tăng 15,9%
YoY trong tháng 8 và tăng 41,1% YoY trong tháng 9 (tháng 7: +2,0% YoY, tháng 6: 7,9% YoY). Mức tăng này một phần đến từ sự suy giảm nguồn cung của Ấn Độ và
Ecuador – 2 quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới.
- Xuất khẩu cá tra vẫn tiếp tục suy giảm YoY và chưa có tín hiệu hồi phục rõ
ràng, với kim ngạch xuất khẩu sang EU28 tiếp tục suy giảm -3,7% YoY trong tháng 8
và -11.7% YoY trong tháng 9 (tháng 7: -1,9% YoY, tháng 6: -32,4% YoY).
STT
Mã
cổ
phiế
u
1
CMX
2
ABT
8
3
FMC
4
VHC
9
4. Triển vọng tăng trưởng ngành thủy sản năm 2021
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 2 tháng đầu năm 2021, sản lượng
thủy sản cả nước đạt 1.141,4 ngàn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, gồm sản
lượng nuôi trồng đạt 200,5 ngàn tấn, tăng 2,5% sản lượng khai thác đạt 540,9 ngàn
tấn, tăng 0,5% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 512,7 ngàn tấn, tăng 0,5%).
VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản có thể tăng trưởng 10% so với cùng kỳ và
đạt 9,4 tỷ USD trong năm 2021 (cao hơn tốc độ tăng trưởng bình qn (CAGR) giai
đoạn 2016-2019 là 6,8%), trong đó xuất khẩu tôm vẫn là động lực tăng trưởng (+15%
so với cùng kỳ đạt 4,4 tỷ USD), tiếp theo là cá tra (+5% so với cùng kỳ đạt 1,6 tỷ
USD) và các sản phẩm thủy sản khác (+6% so với cùng kỳ đạt 3,4 tỷ USD).
Có 853 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản. trong đó, có 6 doanh nghiệp
có trị giá đặt trên 10 triệu USD, đứng đầu là Cơng ty Cổ phần Thủy sản Sóc Trăng,
Cơng ty Cp Vĩnh hồn, Cơng ty Cp Thủy Sản Minh Phú – Hậu Giang, cơng ty Cp Tập
đồn Thủy Sản Minh Phú…
Có 137 doanh nghiệp có trị giá xuất khẩu trong tháng 1/2021 đạt từ 1 đến 9,9
triệu USSD. Còn lại la các doanh nghiệp xuất khẩu đạt trị giá dưới 1 triệu USD, chiếm
25,5 % tổng giá trị giá xuất khẩu thủy sản cả nước.
2 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ước đtạ 259,1 ngàn
tấn với trị giá 1,011 tỷ USD, tăng 5,5% về lượng và giảm 0,7% về trị giá so với cùng
kỳ năm 202, chiếm 2% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả nước. như vậy xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam những táng đầu năm 2021 chwua có nhiều biến đổi lớn
do với năm 202. Dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ tăng tốc manhk từ tháng
3/2021 do các doanh nghiệp đã có sự quyết tâm và chauanr bị kỹ lưỡng từ nguồn cung
tới sản xuất đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trong năm 2021.
Sau khi tăng 23,4% trong tháng 1/2021 đặt 606 triệu USD, với những tín hiệu
tích cực từ mặt hàng các tra, các loại cá biển (trừ cá ngừ), tôm chân trắng… và xuất
khẩu sang một số thị trường chủ lực tăng mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Mexico,
Đài Loan, Brazil, xuất khẩu thủy sản của cả nước trong tháng 2 giảm khoảng 19% so
với cùng kỳ năm 2020 ước đạt trên 405 triệu USD. Mức tăng trưởng âm này là do
tháng 2 năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, thời gian sản xuất, khai thác, chế
biến ít hơn so với tháng 2/2020. Như vậy, lũy kế đến hết tháng 2/2021, xuất khẩu thủy
sản đạt trên 1 tỷ USD, tăng 2,2%.
Trong 2 tháng đầu năm, xuất khẩu các sản phẩm thủy sản của Việt Nam tiếp tục bị
chi phối bởi xu hướng tiêu thụ của thị trường trong bối cảnh dịch Covid vẫn nghiêm
trọng. theo đó, nhu cầu vẫn nghiêng về các sản phẩm thủy sản có giá vừa phải, dễ chế
biến, có thời hạn bảo quản lâu, phù hợp với chế biến và tiêu thụ tại nhà như:
10
tôm chân tráng cỡ nhỏ đông lạnh, tôm chân trắng chế biến, chả cá, surimi, cá biển
phile, cắt khúc, cá cơm khơ, mực khơ… Trong khi đó, xuất khẩu các sản phẩm tôm
nguyên con đông lạnh, nhất là tôm sú giảm do yếu tố giá cao và do sự kiểm sốt chặt
hàng thực phẩm đơng lạnh nhập khẩu của thị trưởng Trung Quốc. ngoài ra, kỳ nghỉ tết
cũng khiến nguồn nguyên liệu sụt giảm nhất là các mặt hàng hải sản như cá ngừ, mực,
bạch tuộc, tôm biển, … khiến giá trị xuất khẩu giảm. bên cạnh đó, hoạt động xuất
khẩu trong 2 tháng đầu năm cũng bị hạn chế bởi cước vận tải biển tăng cao.
Xuất khẩu tháng 2 ước đặt gần 160 triệu USD giảm 18% so với cùng kỳ năm
2020, tính đến hết tháng 2 xuất khẩu đạt trên 380 triệu USD giảm nhẹ 0,8% so với
cùng kỳ năm ngối, chủ yếu do xuất khẩu tơm sú giảm gần 40% trong khi xuất khẩu
tôm chân trắng vẫn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, 80% tổng xuất khẩu tôm với hoảng
304 triệu tăng khoảng 14% so với cùng kỳ năm ngối, tơm sú chỉ chiếm 10% đtạ
khoảng 38 triệu USD giảm 48%.
Cơng ty cổ phần Vĩnh Hồn
1. Tổng quan về cơng ty cổ phần Vĩnh Hồn
AI.
Cơng Ty Cổ Phần Vĩnh Hồn là một trong những cơng ty chế biến và xuất khẩu
cá tra, basa hàng đầu của Việt Nam. Được thành lập vào ngày 27 tháng 12 năm 1997
tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Từ một
công ty nhỏ chuyên về chế biến và xuất khẩu cá tra và basa đông lạnh, với chiến lược
phát triển đúng đắn và tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, Công ty đã đạt được
những kết quả hết sức ấn tượng và tạo dựng được thương hiệu uy tín.
Lĩnh vực kinh doanh:
Ni trồng, đánh bắt, chế biến, bảo quản thủy hải sản và các sản phẩm từ thủy
hải sản. Mua bán thủy hải sản.
Mua bán máymóc thiết bị, hóa chất, nơng sản thực phẩm, súc sản, nguyên vật
liệu phục vụ sản xuất, chế biến thủy hải sản; chế biến thức ăn thủy sản.
Sản xuất và mua bán thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản, thuốc thú y thủy sản.
Các dịch vụ thú y thủy sản (tư vấn sử dụng thuốc, thức ăn và kỹ thuật nuôi
trồng thủy sản).
Kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái.
Sản xuất bao bì giấy, in các loại.
Xây dựng nhà các loại, kinh doanh bất động sản.
Năm 2019, Vĩnh Hoàn tiếp tục là đơn vị dẫn dầu trong việc xuất khẩu cá tra
trên toàn cầu và là nhà sản xuất thủy hải sản lớn thứ hai của Việt Nam ( sau CTCP
Tập Đoàn thủy sản Minh Phú). Thương hiệu Vĩnh Hoàn được xây dựng dựa trên chất
11
lượng và dịch vụ với những lợi thế vượt trội, hệ thống sản xuất và ni trồng tích hợp.
Thêm vào đó, Vĩnh Hồn có một đội ngũ điều hành dày dạn kinh nghiệm, tận tâm
trong cơng việc và có trách nhiệm cao. Cơng ty tiếp tục duy trì và phát huy những giá
trị này trước những thách thức của thị trường, cùng như những rào cản thương mại kỹ
thuật.
Cổ phiếu của Vĩnh Hoàn hiện đang được niêm yết tại Sở GDCK TP.Hồ Chí
Minh (HOSE) với mã niên yết VHC:
Nhóm ngành: Chế biến cá tra
Vốn điều lệ: 1,833,769,560,000 đồng
KL CP đang niêm yết: 183,376,956 cp
KL CP đang lưu hành: 181,946,026 cp
Cơ cấu cổ đông và ban lãnh đạo
Ban lãnh đạo của Vĩnh Hồn là những người có trình độ chun mơn và gắn bó
lâu dài với Cơng ty từ những ngày đầu thành lập. Trừ bà Trương Thị Lệ Khanh, các
thành viên còn lại trong Ban Giám Đốc và Hội Đồng quản trị chỉ nắm giữ một tỷ lệ cổ
phần rất nhỏ tại Công ty.
Xét về cơ cấu cổ đông, bà Khanh là người sáng lập ra Vĩnh Hoàn, hiện nắm giữ
vị trí Chủ tịch HĐQT. Điều này có khả năng dẫn đến rủi ro cổ đơng thiểu số ít có
quyền tham gia vào quyết định trong các vấn đề hoạt động của Cơng ty. Tuy nhiên, so
với mặt tích cực của việc thể hiện sự gắn bó lợi ích lâu dài của thành viên sáng lập với
Công ty, rủi ro này không đáng quan ngại.
Cơ cấu cổ đông
44%
44%
Trương Thị Lệ Khanh
Mitsubishi Corp
Võ Phú Đức
Khác
6% 7%
2. Cơ hội và rủi ro của công ty
12
2.1. Cơ hội
- Ngành thủy sản có tiềm năng phát triển cao
Thị trường còn nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là ở mảng bán lẻ và sản
phẩm giá trị gia tăng.
Ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới ngày càng phát triển và thay thế cho
các sản phẩm đánh bắt để cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho một lực lượng dân số
đang gia tăng, tạo cơ hội cho sản phẩm chính và cả những sản phẩm phục vụ cho ni
trồng.
-
Sự ủng hộ của chính phủ
Ngành thủy sản nói chung và đặc biệt là ngành cá tra đang có sự quan tâm và đầu tư
của nhà nước, hộ trợ cho những chương trình nghiên cứu và phát triển, xúc tiến
thương mại, tiếpthi và quan hệ công chúng giúp cải thiện hình ảnh cá tra trong tương
lai.
-
Sự uy tín của cơng ty
Nhận thức của người tiêu dùng về an tồn thưc phẩm ngày càng cao, nguồn
gốc sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu, vì vậy uy tín của cơng ty làm cho người
dùng tin tưởng vào sản phẩm .
-
Lợi thế sản phẩm
Cá tra vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh về giá so với các sản phẩm cá thịt trắng
khác, chưa có sản phẩm thay thế một cách trực tiếp loại cá này.
-
Nguồn lực kinh doanh và sản xuất mạnh
VHC là doanh nghiệp dẫn đầu ngành xuất khẩu cá tra và duy trì thị phần quanh
mức trung bình là 15% trong giai đoạn 2016-2020. Điều này đã mang đến cho VHC
nhiều thuận lợi.
Theo kết quả kinh doanh mới nhất mà VHC công bố, 11 tháng năm 2020 do
ảnh hưởng của dịch COVID-19, doanh thu của VHC đạt khoảng 6,547 tỷ đồng (-7,4%
). Tuy nhiên, theo các chuyên gia đến từ Cơng ty Chứng khốn Phúc Hưng (PHS),
VHC có sức chống chịu khó khăn từ COVID-19 cao hơn các doanh nghiệp trong
ngành. Trong 9 tháng năm 2020, trong khi doanh thu tồn ngành trung bình giảm 25%
so với cùng kỳ, doanh thu của VHC chỉ giảm 11% so với cùng kỳ, mức giảm ít nhất so
với các doanh nghiệp khác.
-
VHC là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu trong việc định hướng
phát triển bền vững ngành cá tra.
13
Bên cạnh bảo vệ môi trường, phát triển bền vững sẽ góp phần gia tăng giá trị
sản phẩm của cơng ty trong nhận thức người tiêu dùng. VHC đang thực hiện phương
pháp sản xuất theo mơ hình kinh tế tuần hồn, gắn liền phát triển sản xuất với bảo vệ
mơi trường và hệ sinh thái, các chất thải trong quá trình sản xuất và chế biến được tái
sản xuất để thành sản phẩm đầu vào sử dụng cho công đoạn tiếp theo.
Quy mơ lớn với tiềm lực mạnh cịn giúp VHC mạnh dạn sản xuất collagen từ
da cá, điều mà chưa có cơng ty nào trong ngành theo đuổi. Vào tháng 10/2019, VHC
tung ra sản phẩm Collagen mang thương hiệu Vinh Wellness. Đây là collagen được
chế biến từ phụ phẩm trong quá trình chế biến cá tra đầu tiên trên thế giới đạt chứng
nhận ASC. Nhà máy collagen với công suất là 3,500 tấn mỗi năm, ước tính đóng góp
thêm khoảng 3% vào doanh thu của VHC mỗi năm.
- Các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định thương mại tự do Liên
minh Châu Âu và Việt Nam (EVFTA) sẽ mang lại nhiều nguồn lợi cho các donh
nghiệp thuỷ sản Việt Nam nói chung và VHC nói riêng.
- Xuất khẩu là động lực tăng trưởng doanh thu cho VHC: Mỹ là một trong
các thị trường xuất khẩu chính của VHC đạt giá trị khoảng 4,2 nghìn tỷ đồng và chiếm
tỷ trọng khoảng 54% tổng doanh thu năm 2019. Giá trị xuất khẩu sang Mỹ của VHC
tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng hàng năm vào khoảng 2% trong giai đoạn 20152019, từ 3,8 nghìn tỷ đồng vào năm 2015 lên 4,3 nghìn tỷ đồng vào năm 2019.
2.2. Rủi ro
- Chi phí sản xuất ngày càng tăng từ con giống, thức ăn, cá nguyên liệu, điện,
chi phí tài chính ...
- Thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất có thể khiến cho Cơng ty khơng hồn
thành kế hoạch sản xuất và làm chậm tốc độ tăng trưởng, do Công ty mới chỉ chủ
động đáp ứng khoảng 50-60% nhu cầu sản xuất.
- Các rào cản về thương mại và kỹ thuật ở các nước nhập khẩu
- Rủi ro cạnh tranh tại thị trường Mĩ
-
Ngày 13/09/2018, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã thơng báo kết quả sơ bộ
của kỳ POR14. Theo đó, Vĩnh Hồn và Biển Đơng vẫn được áp dụng mức thuế cũ, và
đồng thời sẽ có thêm 6 doanh nghiệp được xem xét giảm thuế chống bán phá giá trong
kỳ sau. gia nhập thị trường sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh và ảnh hưởng đến giá bán
cũng như thị phần của VHC hiện tại.
-
Thị trường bão hòa
Năm 2019 , sau đợt tăng mạnh , giá cá tra nguyên liệu sẽ giảm nhiệt và kéo
theo sự giảm giá của thành phẩm, khi mà giá cá tăng cao đã kéo theo hiện tượng ngườ
i dân ồ ạt đào ao nuôi cá tra ngoài quy hoạch. Nguồn cung cá tra tăng nhanh có thể
làm dư thừa nguồn nguyên liệu, qua đó làm rớt giá và giảm lợi nhuận như từng đã
từng xảy ra trong quá khứ.
14
-
Mức thuế mới sẽ gia tăng rủi ro doanh thu cho VHC.
Mức thuế sơ bộ áp dụng cho VHC trong POR 16 đã tăng so với POR15 và bằng
3% giá xuất khẩu sang Mỹ. Tuy nhiên kết quả cuối cùng có thể thay đổi, như trong kỳ
POR14 và POR13. Kết luận cuối cùng sẽ được đưa ra trong vòng 120 ngày kể từ ngày
thông báo kết quả sơ bộ (dự kiến khoảng tháng 4/2021).
3. Phân tích hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty
3.1. Hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản
Sản phẩm
Giá cá tra có dấu hiệu phục hồi kể từ cuối năm 2020
Giá bán bình quân cá tra của VHC giảm 20,1% svck xuống 2,7 USD/kg vào năm
2020 trong khi giá cá nguyên liệu trung bình giảm nhẹ hơn 6,2% svck ở mức 20.762
đồng/kg (-6,2% svck) vào năm 2020, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận gộp giảm 2,6 điểm phần
trăm xuống mức 14,2%. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
(VASEP), kể từ quý 3 năm 2020, xuất khẩu cá tra có dấu hiệu phục hồi tại thị trường
Trung Quốc - Hồng Kông và Anh, mặc dù giá trị xuất khẩu sang Mỹ giảm do đại dịch.
Công ty kỳ vọng nhu cầu sẽ phục hồi mạnh sau khi nhà hàng và khách sạn tại các thị
trường mục tiêu hoạt động trở lại, tăng giá bán bình quân từ 2,7 USD/kg trong năm 2020
lên 3,0 USD/kg-3,2 USD/kg (8,6% -6,7%) trong năm 2021-2022.
Thị trường cá nguyên liệu trở nên sôi động hơn về cuối năm 2020 nhờ hợp
đồng cá tra với các nhà máy chế biến tăng, trong khi nguồn cung cá nguyên liệu và
tồn kho giảm. Diện tích ni cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 5.700 ha (15,7% svck) nhưng diện tích thu hoạch mới đạt 1.800 ha, mức thấp nhất trong 4 năm
qua, trong khi người nuôi khơng có động lực mở rộng diện tích ni. Điều này dẫn
đến nguồn cung cá nguyên liệu giảm, khiến giá cá nguyên liệu tăng từ 20.762 đồng
năm 2020 lên 22.008 đồng - 23.329 đồng cho năm 2021-2022, kỳ vọng tỷ suất lợi
nhuận gộp sẽ tăng 1,7 điểm % lên 15,9% trong năm 2021 và 17,8% cho năm 2022.
15
Tiêu thụ
Thị trường xuất khẩu EU kỳ vọng phục hồi mạnh
Nhờ ảnh hưởng tích cực của EVFTA, giá trị xuất khẩu của VHC sang EU tăng
trưởng mạnh 22,3% svck trong năm 2020 nhờ tác động tích cực từ EVFTA có hiệu lực
từ tháng 8 năm 2020. Theo hiệp định, các sản phẩm của VHC khá thuận lợi từ việc
giảm thuế khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác. Cụ thể, đối với cá tra tươi sống
và ướp lạnh (HS030432), thuế suất sẽ giảm từ 9% xuống 0% sau 3 năm; cá tra phi lê
đông lạnh (HS 030462) sẽ giảm từ 5,5% xuống 0% sau 3 năm. Thuế đối với sản phẩm
cá tra đông lạnh (HS 030324) được loại bỏ trong 3 năm từ mức 8% hiện nay. Chúng
tôi kỳ vọng sản lượng xuất khẩu của VHC sang EU đạt 323 triệu tấn (+20% svck),
tương đương 949 tỷ đồng (+30,7% svck) doanh thu xuất khẩu cá tra sang thị trường
này trong năm 2021.
So sánh các chính sách thuế tới EU đối với các sản phẩm cá tra
Sản phẩm-Quốc gia
Cá tra đông lạnh
Việt Nam
Trung Quốc
Indonesia
Cá tra tươi sống ướp
lạnh
Việt Nam
Trung Quốc
Indonesia
16
Cá tra phi lê đông lạnh
Việt Nam
Trung Quốc
Indonesia
Nguồn: WHO
Các mức thuế mới ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu của VHC sang Mỹ
Tổng giá trị xuất khẩu của VHC sang thị trường Mỹ giảm 21,1% svck xuống
còn 2.314 tỷ đồng vào năm 2020, do (1) nhu cầu đối với sản phẩm cá tra trong giai
đoạn COVID-19 bị suy yếu (2) căng thẳng thương mại nhẹ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Bộ Thương mại Hoa Kỳ mới đây đã tăng thuế chống bán phá giá đối với sản
phẩm cá tra của Việt Nam. Bộ Thương mại Hoa Kỳ mới đây đã công bố kết quả sơ bộ
của đợt rà soát thuế chống bán phá giá đối với POR16 trong thời gian từ ngày 1 tháng
8 năm 2018 đến ngày 31 tháng 7 năm 2019. VHC khơng cịn áp dụng mức thuế suất
0% mà nâng lên 0,09 USD/kg, không đáng kể khi chỉ tương đương 3% giá bán của
VHC tại Mỹ. Tuy nhiên, thuế suất có thể được xem xét lại như đã xảy ra trong giai
đoạn POR13 và POR14. Quyết định cuối cùng sẽ được thông báo trong vịng 120
ngày kể từ ngày có kết quả sơ bộ (tháng 4 năm 2021). Mặc dù tỷ lệ này không đáng kể
so với GBBQ của VHC đối với các sản phẩm cá tra tại Hoa Kỳ, rủi ro của VHC đối
với xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ tăng lên. Do đó, chúng tơi kỳ vọng sản lượng xuất
khẩu cá tra sang thị trường này sẽ giảm xuống 487 triệu tấn (-4,2% svck) trong năm
2021. Chúng tôi dự báo doanh thu xuất khẩu cá tra trong năm 2021 của VHC vào Mỹ
đạt 148,8 tỷ đồng (+ 4,0% svck).
Thị trường Trung Quốc sẽ phục hồi trong năm 2021
Năm 2020, giá trị xuất khẩu của VHC sang Trung Quốc giảm 12,2% svck do
(1) Trung Quốc hạn chế nhập khẩu thủy sản do lo ngại lây lan COVID qua đường sản
17
phẩm đông lạnh; (2) nhu cầu đối với sản phẩm cá tra thấp hơn. Theo VASEP, XK cá
tra sang Trung Quốc T11/2020 giảm 29,3% so với tháng trước do ùn tắc tại các cửa
khẩu xét nghiệm vi rút SARS-CoV-2. Hơn nữa, COVID-19 buộc các nhà hàng và dịch
vụ ăn uống phải đóng cửa, do đó làm giảm nhu cầu đối với các sản phẩm cá tra cho thị
trường Trung Quốc. Những yếu tố này khiến xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc bị trì
trệ trong năm 2020.
Năm 2021, chúng tơi kỳ vọng những rào cản thương mại với Trung Quốc sẽ
dần được giải quyết. Sau khi vắc xin được phổ biến tồn thế giới vào năm 2021,
chúng tơi tin rằng nhu cầu của Trung Quốc đối với các sản phẩm thủy sản, bao gồm cá
tra, sẽ phục hồi trong năm nay, sản lượng xuất khẩu ước đạt đạt 366 triệu tấn (+ 10%
svck) cho thị trường này vào năm 2021. Chúng tôi tôi kỳ vọng doanh thu xuất khẩu cá
tra của VHC sẽ đạt 1.074,7 tỷ đồng (+ 19,8% svck) trong năm 2021.
Cạnh tranh ngành và vị thế
VHC là doanh nghiệp dẫn đầu ngành xuất khẩu cá tra và duy trì thị phần quanh
mức trung bình là 15% trong giai đoạn 2016-2020. Điều nay đã mang đến cho VHC
nhiều thuận lợi. Là doanh nghiệp dẫn đầu, VHC được hưởng lợi thế quy mô. Lợi thế
quy mô được thể hiện qua biên lợi nhuận hoạt động cao trong bối cảnh toàn ngành cá
tra phải đối mặt với nhiều khó khăn trong năm 2020. Trong 9M2020, dù chịu ảnh
hưởng nặng nề của dịch Covid-19, VHC có biên lợi nhuận hoạt động đạt 11%, cao
nhất so với các doanh nghiệp trong ngành, và cao hơn 1.9 lần so với mức trung bình
ngành.
Bên cạnh đó, VHC là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu trong việc định
hướng phát triển bền vững ngành cá tra. Bên cạnh bảo vệ môi trường, phát triển bền
vững sẽ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm của cơng ty trong nhận thức người tiêu
dùng. VHC đang thực hiện phương pháp sản xuất theo mơ hình kinh tế tuần hoàn.
Kinh tế tuần hoàn gắn liền phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường và hệ sinh thái,
các chất thải trong quá trình sản xuất và chế biến được tái sản xuất để thành sản phẩm
đầu vào sử dụng cho cơng đoạn tiếp theo. Trong mơ hình kinh tế tuần hoàn của VHC,
18
chất thải được chế biến thành tài nguyên: nước thải của vùng nuôi được xử lý sinh học
để dùng cho tưới tiêu cho các loại cây ăn trái hoặc lúa, cá chết và bùn thải chế biến
thành phân hữu cơ, bao bì thải ra được làm nguyên liệu cho nhà máy xử lý chất thải –
sản xuất phân bón có tên Mai Thiên Thanh.
Năng lực sản xuất
Hiện tại, VHC có trại ươm cá giống cùng các dự án sản xuất giống công nghệ
cao, 610ha nuôi trồng, 5 nhà máy chế biến cá fillet, 1 nhà máy chế biến sản phẩm giá
trị gia tăng, 2 nhà máy sản xuất bột mỡ cá, 1 nhà máy sản xuất collagen và gelatin.
Hơn nữa, để hồn thiện mơ hình kinh tế tuần hồn, VHC đang hướng tới xây dựng
nhà máy tái chế bao bì, quy hoạch ao nước thải gần vùng nông nghiệp, nuôi cá tuần
hồn và giảm sử dụng nước.
Ngồi ra, quy mơ lớn với tiềm lực mạnh còn giúp VHC mạnh dạn sản xuất
collagen từ da cá, điều mà chưa có cơng ty nào trong ngành theo đuổi. Vào tháng 10
năm 2020, VHC đã mở rộng dây chuyền sản xuất C&G và trung tâm nghiên cứu mới,
đa dạng hóa các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và cố gắng đầu tư vào công nghệ thuộc
mảng này. Công suất dây chuyền sản xuất C&G của VHC hiện tăng từ 2.000 tấn/năm
lên 3.500 tấn/năm.
Tuy nhiên, tăng trưởng mảng collagen & gelatin (C&G) của VHC ước tính đạt
8,6% svck trong năm 2020, thấp hơn đáng kể so với dự báo tốc độ tăng trưởng 43,9%
svck của chúng tơi cho mảng này do (1) hỗn nâng cấp dây chuyền sản xuất và (2)
thiếu container xuất khẩu, dẫn đến những điều chỉnh trong dự báo của chúng tôi.
Chúng tôi kỳ vọng dây chuyền nâng cấp của VHC sẽ đạt 50% công suất, điều chỉnh so
với giả định 80% trước đó cho năm 2021. Chúng tơi kỳ vọng doanh thu của C&G sẽ
đạt 798,9 -1278,2 tỷ đồng (tương ứng tăng 37,5% svck và 60% svck) trong năm 20212022.
19
3.2. Hoạt động ni trồng thủy sản
Diện tích ni trồng: Vĩnh Hồn có 6 vùng ni trồng thủy sản chính là Tân
Hịa, Tân Thuận Tây, Tân Thuận Đơng, Cồn Tân Thanh, Mỹ Xương, Bình Thạnhvới
tổng diện tích là 140 ha. Trong năm 2010, Công ty đã mở rộng thêm 60 ha, nâng tổng
diện tích ni trồng lên 200 ha. Trong đó, có 4 vùng ni đạt chứng chỉ AquaGap và 5
vùng nuôi đạt chứng chỉ Global Gap. Các vùng nuôi của Công ty chủ yếu nhằm cung
cấp nguyên liệu cho hoạt động chế biến. Năm 2010, các vùng nuôi của Công ty đã
cung cấp khoảng 40.000 tấn cá tra nguyên liệu, đáp ứng 50% nhu cầu sản xuất của
Vĩnh Hoàn. Với diện tích tăng them, đã được cải tạo để sẵn sàng nuôi thả trong 2011,
sản lượng cá tra nguyên liệu tự cung cấp dự kiến sẽ đạt khoảng 70.000 tấn, đáp ứng
khoảng 70-80% nhu cầu sản xuất của Công ty.
Tháng 8 năm 2018, Vĩnh Hồn góp 100% vốn tương đương 300 tỷ đồng thành
lập công ty TNHH Vĩnh Phước để mua lại nhà máy và vùng nuôi hiện hữu của bên
thứ ba với vị trí thuận lợi và lao động sẵn có. Sau Thanh Bình, Vĩnh Phước là bước
tiếp nối hồn thiện kế hoạch gia tăng cơng suất để đảm bảo mục tiêu tăng 20% mỗi
năm giai đoạn 2019 - 2020, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng
doanh thu và lợi nhuận trong những năm tới. Vĩnh Phước hiện có một nhà máy chế
biến cá tra công suất 150 tấn nguyên liệu/ngày trên diện tích gần 17 hecta, thuận tiện
cho việc xây thêm nhà máy. Ngồi ra Vĩnh Phước cịn có hai vùng ni với diện tích
khoảng 70 hecta, góp phần duy trì và gia tăng tỷ lệ tự cung nguyên liệu cho tồn cơng
ty phù hợp với tốc độ tăng cơng suất chế biến. Cuối năm 2018, Vĩnh Phúc đã nhanh
chóng nâng cấp sửa chữa nhà máy, ổn định lực lượng lao động sẵn có và thu hút thêm
lao động để có thể nhanh chóng đóng góp vào kết quả kinh doanh của tồn cơng ty
trong năm 2019. Hiện tại, Vĩnh Phúc cũng đang thực hiện dự án xây dựng nhà máy
sản xuất bột cá và mỡ cá trên diện tích đất sẵn có để sớm hồn thiện chun sản xuất
mang lại hiệu quả cho công ty.
3.3.
Kinh doanh phụ phẩm
Phụ phẩm cá tra đóng góp nguồn doanh thu đáng kể. Q trình chế biến từ cá
tra nguyên liệu tươi sống thành sản phẩm xuất khẩu, ngồi thành phẩm thu được cịn
có một lượng lớn phụ phẩm. Các phụ phẩm từ cá tra là những mặt hàng có giá trị kinh
tế và giá trị gia tăng cao. Nguồn phụ phẩm từ chế biến cá tra là tương đối cao. Hiện tại
mức tỷ lệ cho ra 1kg fillet trong ngành là 2,7kg cá nguyên liệu. Với công suất hoạt
động lên tới 400.000 tấn cá tra/ngày, Vĩnh Hồn có khả năng tạo ra nguồn phụ phẩm
khá lớn. Nguồn phụ phẩm này chủ yếu được bán làm nguyên liệu cho các nhà máy
chế biến thức ăn thủy sản (trừ thức ăn cá tra), với nhu cầu và giá bán tăng mạnh trong
những năm qua.
20
Dầu cá: Được chế biến từ các phụ phẩm cá tra cịn lại sau khi fillet, hồn tồn
phù hợp cho các công đoạn tinh luyện trở thành sản phẩm cao cấp theo dự án mà
Công ty đã thực hiện và sẽ đi vào vận hành trong năm 2020.
Bột cá: Bột cá tra cung cấp dinh dưỡng cho động vật như nguồn đạm tối ưu.
Đặc biệt chất đạm trong cá tươi dễ tiêu hóa, dễ hấp thu hơn so với thịt, năng lượng,
chất khoáng, vitamin. Bột cá tra hiện đang dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm.
Ngồi ra, Cơng ty còn sản xuất và bán các phụ phẩm khác, như vi cá, ức, thịt
cá vụn, bong bóng và bao tử cá tra.
Phụ phẩm cá tra đóng góp nguồn doanh thu đáng kể: Phụ phẩm cá tra đóng góp
nguồn doanh thu đáng kể. Nguồn phụ phẩm từ chế biến cá tra là tương đối cao. Phụ
phẩm của T8/2020 so với cùng kỳ năm 2019 đã tăng hơn 16%, T8/2020 so với cùng
kỳ năm 2019 là 2%. Nguồn phụ phẩm này chủ yếu được bán làm nguyên liệu cho các
nhà máy chế biến thức ăn thủy sản (trừ thức ăn cá tra), với nhu cầu và giá bán tăng
mạnh trong những năm qua.
4. Đánh giá hiệu quả sản xuất và kinh doanh của Vĩnh Hoàn
4.1. Doanh thu – lợi nhuận
21
Doanh thu và lợi nhuận của VHC năm 2020 (tỷ đồng)
2500
2000
1500
1000
500
0
Lũy kế năm 2020, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu đạt 7.037,2 tỷ đồng, lợi
nhuận đạt 704,8 tỷ đồng, lần lượt giảm 10,5% và 40,2% so với năm 2019. Như vậy,
với kịch bản cao, doanh nghiệp chỉ hoàn thành 66,3% kế hoạch lợi nhuận; với kịch
bản thấp, doanh nghiệp hoàn thành tới 88,1% kế hoạch lợi nhuận.Được biết, trong
năm 2020, Vĩnh Hoàn đặt kế hoạch với hai kịch bản, kịch bản cao là doanh thu 8.600
tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế là 1.063 tỷ đồng; kịch bản thấp với doanh thu là 6.450 tỷ
đồng và lợi nhuận là 800 tỷ đồng.Trong năm 2020, VHC ghi nhận lãi chứng khoán
kinh doanh gần 63,6 tỷ đồng, lỗ chứng khoán kinh doanh 16,2 tỷ đồng. Như vậy, hoạt
đơng kinh doanh chứng khốn trong năm giúp VHC lãi rịng 47,4 tỷ đồng.
Mặc dù tính tới 30/09/2020, giá trị chứng khoán kinh doanh của VHC lên tới
117,7 tỷ đồng, tuy nhiên tới 31/12/2020 chỉ còn 562.792 đồng. Như vậy, về cơ bản
VHC đã bán ra tồn bộ chứng khốn đầu tư trong năm tài chính và hiện tại gần như
khơng cịn đầu tư cổ phiếu.N vậy có thể thấy, hoạt động kinh doanh cốt lõi gặp khó
khăn trong năm 2020, doanh nghiệp đã chuyển dịch một phần đầu tư chứng khốn và
đã cụ thể hóa lợi nhuận trong năm tài chính 2020.
Trong tháng 2, tổng doanh thu của Vĩnh Hoàn đã giảm 31% so với tháng
1/2021 đến từ sự suy giảm doanh thu của hầu hết các sản phẩm. Lũy kế hai tháng đầu
năm, tổng doanh thu của Vĩnh Hoàn tăng 11% so với cùng kỳ 2020 chủ yếu do sự
tăng trưởng trong hầu hết các dòng sản phẩm: Cá tra (+0,3%), sản phẩm phụ (+83%),
sản phẩm chăm sóc sức khỏe (+30%), và sản phẩm giá trị gia tăng (+57% ).
Về tình hình kinh doanh, VNDirect dự phóng năm 2021, doanh thu thuần của
Vĩnh Hồn sẽ đạt 8.524 tỷ đồng, lợi nhuận ròng vào khoảng 899 tỷ đồng, lần lượt tăng
21% và tăng 27% so với năm 2020.
22