Tải bản đầy đủ (.docx) (78 trang)

ĐÁNH GIÁ kết QUẢ điều TRỊ ở BỆNH NHÂN COVID 19 tại BỆNH VIỆN dã CHIẾN điều TRỊ COVID 19 THỦ đức số 02 và các yếu tố LIÊN QUAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (727.67 KB, 78 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

HUỲNH THỊ HƯƠNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Ở BỆNH NHÂN COVID-19
TẠI BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN ĐIỀU
TRỊ COVID-19 THỦ ĐỨC SỐ 02
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Y học dự phịng
Mã số: 8720163

TP. Hồ Chí Minh, năm 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA Y TẾ CƠNG CỘNG
---------HUỲNH THỊ HUƠNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Ở BỆNH NHÂN COVID-19
TẠI BỆNH VIỆN DÃ CHIẾN ĐIỀU


TRỊ COVID-19 THỦ ĐỨC SỐ 02
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Y học dự phịng
Mã số: 8720163
TP. Hồ Chí Minh, năm 2021


iii

LỜI ĐĂNG KÝ
Tôi đăng ký đề tài này làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
TP.Hồ Chí Minh, ngày……tháng……năm……
Học viên thực hiện

HUỲNH THỊ HƯƠNG


MỤC LỤC


5

DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


6


ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch COVID-19, với tác nhân truyền nhiễm là virus SARS- CoV-2, xuất hiện
đầu tiên vào cuối năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, bắt nguồn từ một nhóm người bị
viêm phổi khơng rõ ngun nhân. Sau đó nhanh chóng lan rộng, đến ngày 30/01/2020,
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra cảnh báo tình trạng y tế khẩn cấp tồn cầu và đến
ngày 11/03/2020, “Covid-19” chính thức trở thành đại dịch toàn cầu [25]. Ngày
23/01/2021 bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận trường hợp nhiễm đầu tiên là hai cha con
người Vũ Hán, Việt Nam chính thức bước vào trận chiến chống dịch COVID-19 [1].
Theo số liệu cập nhật ngày 09/09/2021 thế giới có 222.406.582 ca nhiễm và 4.592.934
ca tử vong [58]. Tại Việt Nam có 563.676 ca nhiễm và 14.135 ca tử vong, riêng TP. Hồ
Chí Minh có 279.223 ca nhiễm, 11.409 ca tử vong được báo cáo [57], [61]. Tính đến
nay Việt Nam đang trải qua đợt bùng phát dịch thứ tư, đây cũng là đợt dịch có diễn
biến phức tạp nhất, đa ổ dịch, đa nguồn lây, đa biến chủng; TP. Hồ Chí Minh là khu
vực có diễn biến dịch nghiêm trọng nhất cả nước.
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 tại TP. Hồ Chí Minh, để
giảm bớt áp lực và tránh lây nhiễm chéo cho các cơ sở y tế. Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh
quyết định thành lập các bệnh viện dã chiến thu dung chỉ tiếp nhận điều trị cho các
bệnh nhân COVID-19. Bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức số 02 trước
đây là trung tâm cách ly tập trung phòng, chống dịch COVID -19 tại Ký túc xá Trường
Cao đẳng Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố.
Ngày 26/8/2021 Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định tổ chức thành
bệnh viện dã chiến điều trị bệnh nhân COVID-19 trực thuộc Ủy ban nhân dân thành
phố Thủ Đức. Bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức số 02 có quy mơ 800
giường, trong đó có 60 giường hồi sức cấp cứu với 200 nhân viên. Bệnh viện thuộc
tầng 2 trong mơ hình “tháp 3 tầng” tại TP. Hồ Chí Minh [3], [4].
Hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá quả điều trị lâm sàng
và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân COVID-19 tại các bệnh viện dã chiến điều trị


7


COVID-19. Việc đánh giá diễn biến lâm sàng, kết quả điều trị và các yếu tố tiên lượng
có thể cung cấp các dữ liệu liên quan đến diễn biến lâm sàng của bệnh nhân giúp nhân
viên y tế đánh giá, lên kế hoạch điều trị, quản lý, cải thiện chất lượng điều trị bệnh
nhân COVID-19.
Với mong muốn nâng cao hiệu quả điều trị, đồng thời xác định rõ một số yếu
tố tiên lượng ở bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ
Đức số 02, cũng như các bệnh viện khác thuộc tầng 2 trong mơ hình “tháp 3 tầng”
tại TP. Hồ Chí Minh; chúng tơi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị ở
bệnh nhân tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức số 02 và các yếu tố
liên quan”.
Ngoài ra theo các nghiên cứu trước đây, bệnh nhân COVID-19 dễ gặp các vấn
đề về sức khỏe tâm thần. Do đó, để có thể cải thiện sức khỏe bệnh nhân một cách
tồn diện. Trong nghiên cứu này ngoài đánh giá kết quả điều trị về mặt lâm sàng,
chúng tơi cịn đánh giá sự cải thiện các điểm số về mặt sức khỏe tâm thần như trầm
cảm, lo âu, stress ở người bệnh
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1) Kết quả điều trị ở bệnh nhân COVID-19 đang điều trị tại bệnh viện điều trị
COVID Thủ Đức số 02 như thế nào?
2) Liệu có mối liên quan giữa kết quả điều trị với đặc điểm dân số xã hội, đặc điểm
sức khỏe, các đặc điểm bệnh lý tại thời điểm nhập viện và diễn biến lâm sàng
của bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức số
02 hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá kết quả điều trị của bệnh nhân Covid-19 điều
trị tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức 02 và các yếu tố liên quan.
Mục tiêu cụ thể:


8


1. Xác định tỷ lệ tử vong tại bệnh viện, tỷ lệ thở máy, trung bình thời gian nằm
viện, trung bình thời gian thở máy của bệnh nhân COVID-19 điều trị tại
bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức số 02.
2. Xác định mối liên quan giữa tử vong, thở máy, thời gian nằm viện, thời gian
thở máy với đặc điểm dân số xã hội, đặc điểm sức khỏe, các đặc điểm bệnh
lý tại thời điểm nhập viện và diễn biến lâm sàng của bệnh nhân COVID-19
tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID-19 Thủ Đức số 02.
3. Xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress tại thời điểm nhập viện và xuất viện,
điểm số trầm cảm, lo âu, stress thay đổi tại thời điểm xuất viện so với lúc
nhập viện ở bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến điều trị COVID19 Thủ Đức số 02.
4. Xác định mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu, stress tại thời điểm nhập viện
và xuất viện, điểm số trầm cảm, lo âu, stress thay đổi với đặc điểm dân số
xã hội, đặc điểm sức khỏe, các đặc điểm bệnh lý tại thời điểm nhập viện và
diễn biến lâm sàng của bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến điều trị
COVID-19 Thủ Đức số 02.


9

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Y VĂN
1.1.

BỆNH NHÂN COVID-19

1.1.1. Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh COVID-19 là SARS-CoV-2 thuộc nhóm Coronavirus.
Coronavirus là một nhóm vi rút gây nhiễm trùng hơ hấp và tiêu hóa cho nhiều lồi
động vật khác nhau. Trước đây, các loài coronavirus lưu hành ở người hầu hết chỉ gây
nhiễm trùng nhẹ; do đó Coronavirus khơng được xem là có khả năng gây bệnh cao ở

người. Cho đến sau này, lần lượt vào năm 2002 và 2012, hai loại coronavirus có nguồn
gốc từ động vật xuất hiện ở người gây bệnh cảnh nghiêm trọng là hội chứng hơ hấp cấp
tính nghiêm trọng (SARS-CoV) và hội chứng hơ hấp Trung Đông (MERS-CoV).
Khiến coronavirus mới nổi trở thành mối quan tâm sức khỏe cộng đồng mới trong thế
kỷ XXI [46].
Cho đến nay có bảy lồi coronavirus được biết là gây bệnh cho người. 4 Bốn
loại vi-rút - 229E, OC43, NL63 và HKU1 là các loài lưu hành phổ biến và thường chỉ
gây ra các triệu chứng cảm lạnh thông thường ở những người có khả năng miễn dịch
[34]. SARS-CoV là tác nhân gây bùng phát dịch hô hấp cấp bắt nguồn tại Quảng Đông,
Trung Quốc vào tháng 11 năm 2002; sau đó nhanh chóng lan rộng sang các nước Châu
Á, Châu Âu, Bắc Mỹ (tổng cộng 37 quốc gia/ vùng lãnh thổ trong vịng chín tháng).
Cuối cùng có 8273 trường hợp được báo cáo, với 775 trường hợp tử vong do SARSCoV phần lớn các trường hợp và tử vong xảy ra ở Trung Quốc đại lục và Hồng Kông
[28], [34]. MERS-CoV lần đầu tiên được phân lập từ phổi của một bệnh nhân 60 tuổi
đã chết vì bệnh hô hấp nặng ở Jeddah, Ả Rập Xê Út vào năm 2012 [62]. Sau đó lưu
hành tại các quốc gia xung quanh Bán đảo Ả Rập. Tuy nhiên, các ca bệnh thỉnh thoảng
lây lan sang các quốc gia khác như Trung Quốc, Hàn Quốc thông qua du lịch, gây ra
các đợt bùng phát thứ cấp [35]. Từ tháng 9 năm 2012 đến ngày 31 tháng 7 năm 2021,
tổng số 2578 trường hợp MERS-CoV được xác nhận trong phịng thí nghiệm và 888 ca
tử vong liên quan đã được báo cáo trên toàn cầu [56].


10

Vào cuối năm 2019, tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc một số cơ
sở y tế báo cáo cụm ca viêm phổi khơng rõ ngun nhân, có chung yếu tố dịch tễ liên
quan đến một chợ đầu mối buôn bán hải sản và động vật ẩm thấp tại địa phương. Đến
tháng 1 năm 2020, Trung tâm Kiểm sốt và Phịng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc (CDC
Trung Quốc) xác định nguồn gốc của các cụm bệnh viêm phổi và mô tả một loại
coronavirus mới được phát hiện ở những bệnh nhân bị viêm phổi [63]. Đây là thành
viên thứ bảy trong họ coronavirus có khả năng gây bệnh ở người và đã áp đảo SARSCoV và MERS-CoV về số ca nhiễm, số ca tử vong và giới hạn lãnh thổ gây nhiễm.

1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ COVID-19
Để đảm bảo tính nhất quán, WHO quy định chỉ báo cáo số lượng những ca được
xác nhận bằng xét nghiệm. Hướng dẫn chẩn đoán COVID-19 của Việt Nam dựa trên
khuyến cáo của WHO, trường hợp bệnh xác định là bất cứ người nào có xét nghiệm
dương tính với vi rút SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật Real – time RT-PCR.
Theo Quyết định 3416/ QĐ/ BYT ban hành ngày 14/07/2021 về việc “Hướng
dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do chủng vi rút Corona mới (SARS-CoV-2)”.
COVID-19 chia thành các mức độ lâm sàng như sau
1) Không triệu chứng: là người nhiễm SARS-CoV-2 được khẳng định bằng xét
nghiệm realtime RT-PCR dương tính, nhưng khơng có triệu chứng lâm sàng.
2) Mức độ nhẹ: Viêm đường hơ hấp trên cấp tính
- Người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 có các triệu chứng lâm sàng khơng đặc hiệu như
như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ, tê lưỡi.
- Khơng có các dấu hiệu của viêm phổi hoặc thiếu ô xy, nhịp thở ≤ 20 lần/phút, SpO2 ≥
96% khi thở khí trời.
3) Mức độ vừa: Viêm phổi
- Người lớn và trẻ lớn: bị viêm phổi (sốt, ho, khó thở, thở nhanh >20 lần/phút) và
khơng có dấu hiệu viêm phổi nặng, SpO2 ≥ 93% khi thở khí trời.


11

- Trẻ nhỏ: trẻ có ho hoặc khó thở và thở nhanh. Thở nhanh được xác định khi nhịp thở
≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 - 11 tháng; ≥ 40 lần/phút ở trẻ
từ 1 - 5 tuổi) và khơng có các dấu hiệu của viêm phổi nặng.
- Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, tuy nhiên, hình ảnh X-quang, siêu âm hoặc CT phổi
thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc phát hiện các biến chứng.
4) Mức độ nặng: Viêm phổi nặng
- Người lớn và trẻ lớn: sốt hoặc nghi ngờ nhiễm trùng hô hấp, kèm theo bất kỳ một dấu
hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/phút, khó thở nặng, hoặc SpO2 < 93% khi thở khí phịng.

- Trẻ nhỏ: ho hoặc khó thở, và có ít nhất một trong các dấu hiệu sau đây: tím tái hoặc
SpO2 < 93%; suy hơ hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);
+ Hoặc trẻ được chẩn đốn viêm phổi và có bất kỳ dấu hiệu nặng sau: không thể
uống/bú được; rối loạn ý thức (li bì hoặc hơn mê); co giật. Có thể có các dấu hiệu khác
của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên).
- Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến chứng.
5) Mức độ nguy kịch
Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)
- Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong vòng một tuần kể từ khi có
các triệu chứng lâm sàng.
- X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ hai phế trường mà không phải do
tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc các nốt ở phổi.
- Nguồn gốc của phù phổi không phải do suy tim hoặc quá tải dịch. Cần đánh giá khách
quan (siêu âm tim) để loại trừ phù phổi do áp lực thủy tĩnh nếu không thấy các yếu tố
nguy cơ.


12

- Thiếu ô xy máu: ở người lớn, phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F) và
SpO2/FiO2 (S/F) khi không có kết quả PaO2:
+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F ≤ 300 mmHg với PEEP hoặc CPAP ≥ 5 cm H2O.
+ ARDS vừa: 100 mmHg < P/F ≤ 200 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O).
+ ARDS nặng: P/F ≤ 100 mmHg với PEEP ≥ 5 cmH2O
+ Khi khơng có PaO2: S/F ≤ 315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh không thở
máy)
- Thiếu ô xy máu: ở trẻ em dựa vào các chỉ số OI (chỉ số Oxygen hóa: OI = MAP* × 
FiO2 × 100 / PaO2) (MAP*: áp lực đường thở trung bình) hoặc OSI (chỉ số Oxygen
hóa sử dụng SpO2: OSI = MAP × FiO2 × 100 /SpO2) cho người bệnh thở máy xâm
nhập, và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy không xâm nhập

(NIV):
+ NIV BiLevel hoặc CPAP ≥ 5 cmH2O qua mặt nạ: PaO2/FiO2 ≤ 300 mmHg hoặc
SpO2/FiO2 ≤ 264
+ ARDS nhẹ (thở máy xâm nhập): 4 ≤ OI <8 hoặc 5 ≤ OSI <7,5
+ ARDS vừa (thở máy xâm nhập): 8 ≤ OI <16 hoặc 7,5 ≤ OSI < 12,3
+ ARDS nặng (thở máy xâm nhập): OI ≥ 16 hoặc OSI ≥ 12,3
Nhiễm trùng huyết (sepsis)
- Người lớn: có dấu hiệu rối loạn chức năng các cơ quan:
+ Thay đổi ý thức: ngủ gà, lơ mơ, hơn mê
+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hịa ơ xy thấp
+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím
+ Thiểu niệu hoặc vơ niệu


13

+ Xét nghiệm có rối loạn đơng máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng
bilirubine…
- Trẻ em: khi nghi ngờ hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có ít nhất 2 tiêu chuẩn của
hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và một trong số đó phải là thay đổi thân nhiệt
hoặc số lượng bạch cầu bất thường.
Sốc nhiễm trùng
- Người lớn: hạ huyết áp kéo dài mặc dù đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận mạch
để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥ 65 mmHg và nồng độ lactate huyết
thanh > 2 mmol/L.
- Trẻ em: sốc nhiễm trùng xác định khi có:
+ Bất kỳ tình trạng hạ huyết áp nào: khi huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc > 2SD
dưới ngưỡng bình thường theo lứa tuổi, hoặc (trẻ < 1 tuổi: < 70 mmHg; trẻ từ 1-10
tuổi: < 70 + 2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi: < 90 mmHg).
+ Hoặc có bất kỳ 2-3 dấu hiệu sau: thay đổi ý thức, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90

nhịp/phút hoặc > 160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và < 70 nhịp/phút hoặc > 150 nhịp/phút
ở trẻ nhỏ); thời gian làm đầy mao mạch kéo dài (> 2 giây); hoặc giãn mạch ấm/mạch
nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng
nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.
Các biến chứng nặng- nguy kịch khác: nhồi máu phổi, đột quỵ, sảng.
Cần theo dõi sát và áp dụng các biện pháp chẩn đoán xác định khi nghi ngờvà có biện
pháp điều trị phù hợp.
6. Hội chứng viêm hệ thống liên quan tới Covid-19 ở trẻ em (Multisytem
Inflammatory Syndrome in Children- MIS-C)
Chẩn đoán khi có các tiêu chuẩn sau: Trẻ 0 – 19 tuổi có sốt ≥ 3 ngày VÀ có 2 trong các
dấu hiệu sau:


14

(1) Ban đỏ hoặc xung huyết giác mạc hoặc phù nề niêm mạc miệng, bàn tay, chân;
(2) Hạ huyết áp hoặc sốc;
(3) Suy giảm chức năng tim, tổn thương màng tim, viêm màng ngoài tim, bất thường
mạch vành xác định qua siêu âm, tăng proBNP, Troponin;
(4) Rối loạn đông máu (PT, APTT, D-Dimer cao); Rối loạn tiêu hóa cấp tính (tiêu chảy,
đau bụng, nơn)
VÀ có tăng các markers viêm (CRP, máu lắng, procalcitonin)
VÀ không do các căn nguyên nhiễm trùng khác
VÀ có bằng chứng của nhiễm vi rút SARS-CoV-2 hoặc tiếp xúc gần với người mắc
COVID-19.


15

1.1.3. Điều trị Covid-19

Lưu đồ theo dõi và xử trí người bệnh covid-19


16

1.2. ĐẠI DỊCH COVID-19
1.2.1. Trên thế giới
Do đợt bùng phát trùng với dịp Tết Nguyên đán, việc di chuyển giữa các thành
phố trước lễ hội đã tạo điều kiện cho virus lây truyền ở Trung Quốc. Bệnh viêm phổi
do coronavirus mới lạ này nhanh chóng lây lan sang các thành phố khác ở tỉnh Hồ Bắc
và các vùng khác của Trung Quốc. Trong vịng 1 tháng, nó đã lây lan ồ ạt đến khắp 34
tỉnh thành của Trung Quốc. Ngày 13/01/2020, ca nhiễm đầu tiên ngoài Trung Quốc
được báo cáo tại Thái Lan là một phụ nữ đến từ Vũ Hán. Nhật Bản, Nepal, Pháp, Úc,
Malaysia, Singapore, Việt Nam, Đài Loan và Hàn Quốc báo cáo các trường hợp nhiễm
trong 10 ngày sau đó.
Vào ngày 30 tháng 1, WHO tuyên bố đợt bùng phát virus coronavirus mới là
tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng được quốc tế quan tâm 16 . Vào ngày 11
tháng 2, Ủy ban quốc tế về phân loại vi rút đã đặt tên cho loại coronavirus mới là
'SARS-CoV-2', và WHO đặt tên cho căn bệnh này là 'COVID-19' (tham khảo 17). Nó
đã vượt qua SARS và MERS một cách áp đảo cả về số lượng người nhiễm và phạm vi
không gian của vùng dịch.
1.2.2. Tình hình tại Việt Nam
Tại Việt Nam, ngày 23/01/2021, bệnh viện Chợ Rẫy tiếp nhận ca nhiễm ca
nhiễm đầu tiên tại Việt Nam là 2 cha con đến từ Vũ Hán. Tính tháng 8 năm 2021, 63/63
tỉnh thành của Việt Nam đều ghi nhận từng có ca mắc. Tính đến nay Việt Nam đã trải
qua 4 giai đoạn chống dịch. Trong 3 giai đoạn đầu tiên, với nhiều nổ lực của ngành y tế
và các ban ngành khác, Việt Nam đạt nhiều thành tựu tích cực. Tống số ca nhiễm trong
3 giai đoạn đầu (tính từ ngày 23/01/2020 đến ngày 26/04/2021) là 2.852 ca.
Ngày 24/07/2021 Việt Nam bước vào đợt bùng phát dịch thứ 4. Đây là đợt dịch
phức tạp nhất từ trước đến nay với nhiều biến chủng và đa ổ dịch bùng phát trong cộng

đồng. Chỉ trong vòng 2 tháng (đến ngày 24/09/2021) Việt Nam có 736.972 ca nhiễm,


17

đứng thứ 46/222 về tổng số ca nhiễm và đứng thứ 155/222 trong đánh giá tỷ lệ số ca
nhiễm/ 1 triệu dân.
TP. Hồ Chí Minh là địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong đợt dịch này.
Tính đến ngày ngày 24/9/2021, có 359.245 trường hợp mắc bệnh phát hiện tại Thành
phố Hồ Chí Minh được Bộ Y tế cơng bố. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh
tật TP. Hồ Chí Minh về tình hình thu dung điều trị COVID-19. Tính hết ngày 22/9, số
ca F0 đang cách ly điều trị tại nhà là 32.744 người. Số ca đang cách ly tại các cơ sở
cách ly tập trung là 22.985 người. Số ca đang điều trị tại bệnh viện tầng 2, 3 là 40.504
người. Số ca nặng có hỗ trợ hô hấp là 6.689 người, chiếm tỉ lệ 16,5% so với tổng ca
đang nằm viện, chiếm tỉ lệ 7% so với tổng số ca đang điều trị. Số trẻ em dưới 16 tuổi
nhiễm đang điều trị là 3.799 người. Số phụ nữ mang thai đang điều trị là 301 người. Số
trường hợp xuất viện trong ngày 23/9 là 3.260 người, số ca xuất viện cộng dồn là
183.471 người [2].
1.3. CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ COVID-19 VÀ CÁC
YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG
Một nghiên cứu quan sát dựa vào số liệu của 11.304 bệnh nhân Covid-19 từ
hệ thống chăm sóc sức khỏe của 8 bệnh viện tại Đông Nam Michigan, từ tháng 2 đến
tháng 12 năm 2020. Trong tổng số 11.304 bệnh nhân nhập viện đã được nghiên cứu,
trong đó 1295 bệnh nhân tử vong, chiếm tỷ lệ tử vong tại bệnh viện là 11,5%. Sau khi
phân tích qua mơ hình hồi quy đa biến, các yếu tố tuổi lớn hơn (AOR = 1,05, p
<0,0001), giới tính nam (AOR = 1,43, p <0,0001), bệnh nhân ly hôn (AOR = 1,25, p
= 0,0256), bệnh nhân tàn tật (AOR = 1,42, p = 0,0091) và người nội trợ (AOR = 1,96,
p = 0,0216) có liên quan đáng kể đến tử vong khi nhập viện. Đối với biến số tuổi và
thu nhập, cứ tăng thêm một tuổi, tỷ lệ tử vong tăng thêm 5% (p <0,0001). Cứ tăng
thêm 1000 đô trong thu nhập trung bình, tỷ lệ tử vong giảm 1% (p = 0,0059). Nghiên

cứu sử dụng cơ sở dữ liệu từ hệ thống chăm sóc y tế lớn nhất Đông Nam Michigan,
thời gian quan sát dài nên nghiên cứu có cỡ mẫu rất lớn giảm thiểu được sai lệch do


18

cơ hội. Nghiên cứu có hạn chế là do phương pháp thu thập số liệu là hồi cứu bệnh án,
kết hợp với dữ liệu của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ nên nhiều thông tin bị khuyết và
không đánh giá chính xác [17].
Tác giả Mohamad Raad và các cộng sự tiến hành phân tích hồ sơ của các
bệnh nhân được nhận liên tiếp vào Hệ thống Y tế Henry Ford ở Đông Nam Michigan
từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020. Các bệnh nhân được chọn đều ≥ 18 tuổi và được
nhập viện với chẩn đoán xác định nhiễm SARS-CoV-2. Nghiên cứu loại trừ các ca
bệnh chuyển đến từ/ chuyển đi tới các trung tâm điều trị COVID-19 khác. Tổng cộng
có 1020 bện nhân thỏa các tiêu chí được đưa vào nghiên cứu. Sau khi phân tích hồi
quy đa biến các yếu tố có độ tuổi ≥ 65 tuổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh thận
mãn tính, bệnh mạch máu não, D-dimer ban đầu> 1,1 µg / mL, số lượng tiểu cầu
<150 K / µL và mức độ nghiêm trọng của tỷ lệ SpO2: FiO có liên quan đến kết quả
điều trị xấu hơn như tử vong hoặc thở máy [29].
Nghiên cứu được thực hiện tại các bệnh viện ở Northwell Health - hệ thống
y tế học thuật lớn nhất ở New York của nhóm tác giả Safiya Richardson. Trong số
2634 bệnh nhân được xuất viện hoặc tử vong tại bệnh viện, 373 (14,2%) được điều trị
tại ICU, 320 (12,2%) được thở máy xâm nhập, 81 (3,2%) được điều trị thay thế thận.
trị liệu, và 553 (21%) tử vong tại bệnh viện. Đối với bệnh nhân phải thở máy (n =
1151, 20,2%), 38 (3,3%) được xuất viện còn sống, 282 (24,5%) tử vong và 831
(72,2%) tiếp tục điều trị tại bệnh viện. Tỷ lệ tử vong ở những người được thở máy ở
nhóm tuổi từ 18 đến 65 và trên 65 lần lượt là 76,4% và 97,2%. Tỷ lệ tử vong ở nhóm
tuổi từ 18 đến 65 và trên 65 tuổi không được thở máy lần lượt là 1,98% và
26,6%. Khơng có trường hợp tử vong ở nhóm tuổi dưới 18. Tổng thời gian lưu trú là
4,1 ngày (IQR, 2,3-6,8). Thời gian theo dõi sau xuất viện trung bình là 4,4 ngày (IQR,

2,2-9,3). Tuy nhiên kết quả nghiên cứu có thể chưa phản ánh đúng thực tế do đến thời
điểm kết thúc điều tra, một số đối tượng tham gia vẫn chưa chấm dứt việc điều trị.
Một nghiên cứu theo dõi 1000 bệnh nhân COVID-19 tại một trung tâm chăm
sóc Y tế bậc 4, tại thời điểm kết thúc nghiên cứu có 910 bệnh nhân đạt điểm kết thúc


19

điều trị với 699 bệnh nhân đã được xuất viện, 211 bệnh nhân tử vong tại bệnh viện và
90 bệnh nhân vẫn đang điều trị tại bệnh viện. Trong số 150 bệnh nhân được điều trị
tại khoa cấp cứu, 128 (85,3%) được xuất viện và 22 (14,7%) tử vong trước khi nhập
viện; 86 trong số 614 bệnh nhân (14,0%) điều trị tại bệnh viện (không phải khoa hồi
sức cấp cứu) tử vong. Trong số 236 bệnh nhân được điều trị tại khoa hồi sức tích cực,
220 (93,2%) được đặt nội khí quản ít nhất một lần, 74 (31,4%) được rút nội khí quản
ít nhất một lần và 46 (19,5%) được xuất viện; 103 (43,6%) tử vong tại bệnh viện và
87 (36,9%) vẫn đang điều trị. Hầu hết bệnh nhân trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt
(174/236, 73. 7%) cần được bổ sung oxy trong vòng ba giờ sau khi đến khoa cấp cứu
và được đặt ống thông mũi (143/236, 60,6%) hoặc mặt nạ không tái tạo (174/236,
73,7%). Dưới 10% được điều trị oxy qua ống thơng mũi dịng cao (19/236) hoặc
thơng khí áp lực dương khơng xâm lấn (7/236) trong thời gian nằm viện. Trong các
mơ hình Cox đa biến của chúng tôi, tuổi, chỉ số khối cơ thể và HIV hoặc bệnh thận từ
trước có liên quan có ý nghĩa thống kê với tử vong, trong khi giới tính và tăng huyết
áp có liên quan đến đặt nội khí quản và kết quả tổng hợp của đặt nội khí quản hoặc tử
vong [11].
Một đánh giá khác tại mọt bệnh viện ở Đức, 213 bệnh nhân được đưa vào
phân tích. Độ tuổi trung bình là 65 tuổi, 129 bệnh nhân (61%) là nam giới. 70 bệnh
nhân (33%) được đưa vào khoa chăm sóc đặc biệt (ICU), trong đó 57 bệnh nhân
(81%) được thở máy. Xác suất ước tính tử vong trong vòng 90 ngày sau khi COVID19 khởi phát là 24% trong tồn bộ nhóm. Nếu tính đến các mức độ chăm sóc tại thời
điểm bắt đầu nghiên cứu, xác suất tử vong là 16% nếu bệnh nhân ban đầu nằm trong
phịng thơng thường, 47% nếu trong phịng chăm sóc đặc biệt (ICU) và 57% nếu phải

thở máy lúc nhập viện. Tuổi ≥65 và giới tính nam là những yếu tố dự báo tử vong khi
nhập viện. Các biến chứng chủ yếu - theo đánh giá của hai nhà đánh giá độc lập - xác
định phương thức tử vong là suy đa cơ quan [30]. Hạn chế lớn nhất của nghiên cứu là
cỡ mẫu nhỏ.


20

Tình trạng dinh dưỡng cũng là yếu tố tiên lượng cho kết quả điều trị ở bệnh
nhân COVID-19. Bệnh nhân béo phì tăng đáp ứng miễn dịch ở phổi bị tổn hại, phản
ứng viêm toàn thân tăng cao, tăng nguy cơ hình thành huyết khối và tăng tải lượng vi
rút, bệnh nhân béo phì và rối loạn chuyển hóa liên quan cũng phát triển các biến
chứng nặng khi nhiễm SARS ‐ CoV ‐ 2, dẫn đến cao hơn nguy cơ mắc bệnh và tử
vong khi COVID ‐ 19 [41].
1.4. TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở BỆNH NHÂN COVID-19
1.5. THANG ĐO ĐÁNH GIÁ TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở BỆNH NHÂN
COVID- 19
1.5.1. Các thang đo đánh giá trầm cảm ở người bệnh COVID-19
Bảng: Các thang đo đánh giá trầm cảm ở bệnh nhân COVID-19
ST
T

1

2

Công
cụ

Cronbach’s α

Mô tả thang đo

Thang đo PHQ-9 được phát triển từ bản
gốc là thang đo PHQ. PHQ được phát
triển bởi Spitzer RL vào năm 1999 để
đánh giá các rối loạn tâm thần phổ biến
nhất trong chăm sóc sức khỏe ban đầu
Patient
(trầm cảm, lo âu, rối loạn do rượu, rối
Health
loạn dạng cơ thể, và rối loạn ăn uống)
Questio
[18]. Thang đo PHQ-9 là phiên bản rút
nnaire
gọn tập trung cho rối loạn trầm cảm trên
-9
cơ sở tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV.
(PHQ-9)
PHQ-9 gồm 21 câu hỏi đánh giá các
triệu chứng trong vòng 2 tuần liên tiếp
trước đó. Mỗi câu hỏi sẽ có 4 câu trả lời
tương ứng điểm số từ 0-3. Phân thành 4
mức độ: khơng có trầm cảm, nhẹ, trung
bình, nặng tương ứng với các mức điểm
<10, 10-18, 19-29, 29-63.
Hospital HADS-D là một phần của thang đo
Anxiety HADS, đây là công cụ được phát triển
and
bởi Zigmond và Snaith vào năm 1983


Nghiên cứu ở
người nhiễm
SARS-CoV-2

0,83 [13]
0,86 [21]

Yu-Fen Ma, Trung
Quốc (N=770) [24]
Yingqi Gu [15]
Yanyu Hu, Trung
Quốc (N=85) [19]
Yu Wang, Trung
Quốc (N=484) [39]
Clara Paz, Ecuador
(N=306) [27]
Shaher M Samrah,
Jodan (N=66) [11]
Hao Bin Zhang,
Trung Quốc (N=30)
[44]

0,71 [18]
0,92 [13]
0,75 [5]

Catherine Parker,
Hoa Kỳ (N=44) [26]
Imane Saidi, Maroc



21

Depressi
on
Scale
(HADSD)

3

Selfrating
Depressi
on Scale
(SDS)

5

Depressi
on,
Anxiety
and
Stress
Scales21
(DASS21)

được khuyến nghị sàng dùng để sàng lọc
các rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân ngoại
khoa [64].
HADS bao gồm 2 phần HADS-A dùng
để đánh giá lo âu và HADS-D dùng để

đánh giá trầm cảm, mỗi phần có 7 câu
hỏi, tổng điểm từ 0 ‐ 21. Ý nghĩa giá
trị khoảng
điểm đã được tính như sau:
< 6: bình thường;
7 –8: có thể có;
10‐11 có lẽ gần như có;
≥ 11: có rõ ràng
Thang đo SDS do W.W.K Zung phát
triển vào năm 1965. Thang đo gồm 20
câu, mỗi câu hỏi được chấm từ 1- 4 dựa
vào tần suất hiện diện của các triệu
chứng: khơng có hoặc rất ít, đơi khi,
phần lớn,hầu hết thời gian trong tuần .
Phân loại: 50-59: trầm cảm nhẹ, 60-69
trung bình, ≥70điểm là nặng [65].
DASS-21 là phiên bản rút gọn từ DASS42. Gồm có 21 chia làm 3 nhóm, mỗi
nhóm gồm 7 câu đánh giá rối loạn trầm
cảm, lo âu và stress. Mỗi câu hỏi được
cho điểm từ 0-3 dựa vào mức độ xuất
hiện các triệu chứng [54].

(N=103) [31]
Xiangyu Kong,
Trung Quốc
(N=144) [52]

Ling Ling Dai,
Trung Quốc,
(N=307) [14]

Xue-Dan Nie, Trung
Quốc (N=85) [55]

0,72 - 0,77 tùy
thuộc giới tính và
tuổi [51]

Coefficient-α
trầm cảm là 0.85,
lo âu là 0.81 [59]
Cronbach's alpha
chung cho cả
thang đo là 0,88;
trầm cảm là 0,72;
lo âu là 0,77
(phiên bản Tiếng
Việt) [38]

Atefeh Zandifar,
Iran (N=106) [43]

1.5.3. Các thang đo đánh giá lo âu ở người bệnh COVID-19
Bảng : Các thang đo sàng lọc rối loạn lo âu ở bệnh nhân COVID-19
ST
Công cụ
T
1
General
Anxiety


Mô tả thang đo
GAD-7 là thang đo được phát triển bới
Robert L. Spitzer vào năm 2006 là một

Nghiên cứu
tính tin cậy
0,92 [60]

Nghiên cứu ở người
nhiễm SARS-CoV-2
- Clara Paz, Ecuador
(N=306) [27]


22

Disorder-7
(GAD-7)

2

3

5

bảng câu hỏi gồm 7 câu tự báo cáo về
các triệu chứng rối loạn lo lắng [60]
Tất cả các mục được đánh giá trên
thang điểm 4, và tổng điểm nằm trong
khoảng từ 0 đến 21 và được hiểu như

sau: không lo lắng (0–4), lo lắng nhẹ
(5–9), lo lắng vừa phải (10–14 ), và lo
lắng nghiêm trọng (15–21)

Thang đo SDS do W.W.K Zung phát
triển vào năm 1971 [45]. Thang đo gồm
20 câu, mỗi câu hỏi được chấm từ 1- 4
Selfdựa vào tần suất hiện diện của các triệu
Rating
chứng. Điểm tổng của thang đo được
Anxiety
phân thành các mức độ như sau:
0,897 [7]
Scale
20-41 điểm: không rối loạn lo âu
(SAS)
41-50 điểm: mức độ nhẹ
51-60 điểm: mức độ vừa
61-70 điểm: nặng
71-80 điểm: rất nặng [45]
Hospital
HADS-A gồm 7 câu hỏi, là cấu phần
Anxiety
đánh giá lo âu của thang đo lo âu, trầm
and
cảm bệnh viện HADS.
0,78 [18]
Depression
0,79 [5]
Scale

(HADS-A)
Thang đo BAI được phát triển bởi Beck
năm 1988 để đánh giá các các triệu
Beck
chứng rối loạn lo âu gồm 21 câu. Mỗi
Anxiety
câu có 4 mức độ theo thang điểm Likert
0,94 [48]
Inventory
từ 0-3. Phân thành các mức độ lo âu: 0(BAI)
9: bình thường, 10-18: nhẹ đến vừa 1929: vừa phải đến nặng, 30-63: nghiêm
trọng.

- Hao Bin Zhang, Trung
Quốc (N=30) [44]
- Yanyu Hu, Trung Quốc
(N=85) [19]
- Yingqi Gu, Trung Quốc
(N=461) [15]
- Yu Wang, Trung Quốc
(N=484) [39]

Xue-Dan Nie, Trung
Quốc (N=85) [55]
Ling Ling Dai, Trung
Quốc, (N=307) [14]

- Catherine Parker, Hoa
Kỳ (N=44) [26]
- Imane Saidi, Maroc

(N=103) [31]

Baris Sensoy, Thổ Nhĩ Kỳ
(N=91) [33]

1.5.4. Các thang đo stress ở người bệnh
1.5.5. Thang đo DASS-21
1.6. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở BỆNH
NHÂN COVID-19


23

1.5.1. Đặc điểm dân số xã hội
Tuổi
Trong một số nghiên cứu trên bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 tuổi được chứng
minh là yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của bệnh nhân COVID-19. Theo
nghiên cứu của Imane Saidi và cộng sự tại Maroc, tuổi già là một yếu tố góp phần gây
ra lo âu và trầm cảm, cụ thể điểm lo lắng và trầm cảm cao hơn đáng kể ở những người
lớn tuổi (tuổi ≥ 50) nhiễm SARS-CoV-2 (p<0,01) [31]. Trong nghiên cứu của tác giả
Tao Li tại Vũ Hán, lớn tuổi cũng là yếu tố nguy cơ độc lập gây rối loạn lo âu ở người
nhiễm [22]. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Yu Wang và cộng sự [31],
Xiangyu Kong tại Vũ Hán, Trung Quốc [52]. Ngược lại, nghiên cứu của các tác giả
Atefer Zandifar tại Iran [43], Ling Ling Dai tại Trung Quốc [14], Yingqi Gu tại Trung
Quốc lại khơng tìm thấy mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu với tuổi của người nhiễm.
Giới tính
Theo dịch tễ học các rối loạn trong sức khỏe tâm thần phụ nữ dễ gặp phải các
vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn nam giới [49], [40]. Sự khác biệt trong nguy cơ mắc
các bệnh tâm thần theo giới tính có thể do ảnh hưởng của hornmon sinh dục và di
truyền [50]. Ở đối tượng là người bệnh COVID-19, nhiều nghiên cứu cũng cho nhận

định tương tự. Trong nghiên cứu của Yingqi Gu [15], của Yanyu Hu [19] và cộng sự
của họ tại Trung Quốc, giới tính nữ là một yếu tố nguy cơ mạnh mẽ đối với chứng mất
ngủ, lo lắng và trầm cảm ở người nhiễm SARS-CoV-2. Tương tự trong nghiên cứu của
Yu Fen Ma, nam giới nhiễm bệnh có số chênh mắc trầm cảm bằng 0,53 lần nữ giới
(p<0,01) [24]. Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả giới tính nữ tăng nguy cơ mắc
các bệnh tâm lý ở những người nhiễm [22], [39], [14], [52]. Ngược lại, kết quả của
nghiên cứu của Atefeh Zandifar tại Iran cho thấy giới tính khơng phải là yếu tố nguy cơ
của trầm cảm và lo âu ở người bệnh COVID [43].
Trình độ văn hóa


24

Trong các nghiên cứu trước đây có sự khác biệt trong kết quả đánh giá mối quan
hệ giữa trình độ kinh tế xã hội và trình độ học vấn với bệnh trầm cảm, nhưng hầu hết
các nghiên cứu đều chỉ ra mối quan hệ nghịch đảo giữa chúng [53]. Nghiên cứu của
Atefeh Zandifar cho thấy có một mối liên quan đáng kể giữa trình độ học vấn và mức
độ trầm cảm ở người nhiễm (P-value: 0,001); tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng và rất
nặng cao nhất được quan sát thấy ở nhóm bệnh nhân có bằng cấp và khơng biết chữ
[43]. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Yingqi Gu [15].Trong khi đó,
nghiên cứu của Ling Ling Dai khơng tìm có mối liên quan giữa trình độ học vấn với
trầm cảm, rối loạn lo âu, ở người bệnh COVID-19 [14]. Nghiên cứu của Xiangyu Long
cũng không tìm thấy mối liên quan giữa trầm cảm, lo âu và trình độ văn hóa của đối
tượng [52].
Nghề nghiệp
Dưới tác động của đại dịch COVID-19 và các chính sách giãn cách xã hội, kinh
tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhiều nghành nghề ghề bắt buộc ngưng hoạt động,
nhiều người bị mất nguồn thu nhập, làm dấy lên mối lo ngại về việc đáp ứng các nhu
cầu thiết yếu, điều này có thể làm trầm trọng các vấn đề sức khỏe tâm thần [16], [36].
Nghiên cứu của Atefeh Zandifar tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tình

trạng công việc và mức độ trầm cảm ở những bệnh nhân nhập viện COVID-19
(P<0,001), cụ thể tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng và rất nặng cao nhất là ở nhóm bệnh
nhân làm nghề tự do; đối với lo lắng kết quả nghiên cứu cho thấy khơng có mối liên
quan giữa lo âu và trình độ học vấn của đối tượng [43]. Trong nghiên cứu của Lê Thị
Thanh Xuân trên dân số chung của Việt Nam giai đoạn dãn cách xã hội, những người
tham gia là sinh viên sau đại học có mức độ căng thẳng cao hơn đáng kể so với những
người có trình độ học vấn từ trung học trở xuống [10].
Tình trạng hơn nhân
Trình trạng hơn nhân cũng là yếu tố liên quan được đánh giá ở nhiều nghiên cứu
sức khỏe tâm thần của người nhiễm. Trong nghiên cứu của Atefeh Zandifar và cộng sự


25

tại Iran, tỷ lệ rối loạn lo âu gặp nhiều hơn trên những người nhiễm đã kết hôn [43];
ngược lại nghiên cứu của Tao Li ly, hơn hoặc góa chồng là yếu tố nguy cơ của lo lắng
và góa chồng là yếu tố nguy cơ của trầm cảm [22]. Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuân
trên dân số chung trong giai đoạn giãn cách xã hội do dịch COVID-19 cũng cho kết
quả tương tự; những người đã kết hơn có mức độ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng thấp
hơn so với những người độc thân, ly thân hoặc góa bụa [10]. Tuy nhiên một số nghiên
cứu khác trên đối tượng người nhiễm lại cho kết quả, khơng có mối liên quan giữa lo
âu, trầm cảm với tình trạng hơn nhân của người bệnh COVID-19 như nghiên cứu của
Xiangyu Kong [52].
Quy mơ gia đình
Trong nghiên cứu của Lê thị Hương, quy mơ gia đình lớn hơn 5 người cũng có
liên quan đến mức độ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng cao hơn ( p <0,1) so với những
người có quy mơ gia đình từ 1–2 người [8]. Tác giả đưa ra giả thuyết, các đối tượng
những gia đình có nhiều người sẽ có nhiều mối lo hơn , đặc biệt nếu đối tượng là trụ
cột trong các gia đình đơng con, họ sẽ có nhiều gánh nặng về tài chính hơn trong bối
cảnh đại dịch.

1.5.2. Đặc điểm bệnh lý
Bệnh lý kèm theo
Trong nghiên cứu của Li Tao, tỷ lệ người nhiễm có các triệu chứng lo âu gặp
nhiều hơn trên đối tượng có bệnh thận kèm theo [22]. Theo nghiên cứu của tác giả Md.
Saiful Islam tại Bangladesh, tỷ lệ trầm cảm từ trung bình đến nặng cao hơn ở ở những
người bệnh có các bệnh mạn tính kèm theo như tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh tim,
ung thư và hen suyễn hoặc các vấn đề về hô hấp [20].
Thời gian nằm viện
Thời gian nằm viện là yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu. Trong nghiên cứu
của Imane Saidi tại Maroc, tỷ lệ trầm cảm và lo âu cao hơn ở những bệnh nhân


×