BINH DUONG PROVINCIAL PEOPLE’S COMMITTEE
THU DAU MOT UNIVERSITY
TRẦN BÌNH CHÁNH
PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO SINH VIÊN QUA
GIẢNG DẠY HỌC PHẦN “TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN”
MÔN: TRIẾT HỌC
NGÀNH: NGÔN NGỮ ANH
MÃ NGÀNH: CH17AV01
PGS.TS. Vũ Văn Gầu
BINH DUONG PROVINCE - 11/2017
MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề ............................................................................................................2
2. Tư duy phản biện của SV trong giáo dục đại học Việt Nam...........................3
2.1. Tư duy phản biện và vai trò của tư duy phản biện.................................3
2.2. Sự cần thiết phải phát triển TDPB cho SV thông qua giảng dạy học phần
“Triết học Mác – Lênin” ..................................................................................4
3. Phát triển TDPB cho SV qua công tác giảng dạy học phần “Triết học Mác –
Lênin” ................................................................................................................5
3.1. Một số yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với GV............................5
3.2. Một số biện pháp góp phần phát triển TDPB cho SV qua giảng dạy học
phần “Triết học Mác – Lênin” ........................................................................................7
3.2.1. Tích cực hóa các phương pháp đàm thoại, đặt vấn đề, thảo luận
nhóm trong q trình dạy học nhằm thúc đẩy sinh viên suy nghĩ theo lối phản
biện...............................................................................................................7
3.2.2. Phát triển TDPB ở SV thông qua việc hướng dẫn sinh viên cách đặt
câu hỏi và giải quyết vấn đề........................................................................8
3.2.3. Tăng cường năng lực ngôn ngữ cho SV thông qua việc giải thích
thuật ngữ trong q trình giảng dạy....................................................................9
4. Kết luận................................................................................................................9
Tài liệu tham khảo..................................................................................................10
1
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt
là giáo dục đại học, là phải đào tạo những con người có năng lực thực tiễn, đáp ứng
được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Điều đó đã được khẳng định
trong Nghị quyết 29, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn
mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào
tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” [1, tr. 127].
Có thể kể đến một số năng lực cốt lõi như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực hợp tác, tư duy phản biện (TDPB), năng lực giao tiếp…Trong đó,
TDPB (hay năng lực phản biện) - một quá trình tư duy biện chứng - đã trở thành
một “từ khóa” thơng dụng và cần thiết trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam hiện
nay. Tuy nhiên, một thực tế là phần lớn sinh viên (SV) Việt Nam rất ít khi phản
biện trong học tập. Do đó, các em thường rơi vào tình trạng học thụ động, dẫn đến
hiệu quả học tập không cao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo
dục của nhà trường nói chung và chất lượng dạy học các mơn Lý luận chính trị
(LLCT) nói riêng.
Trong khi đó, nhiệm vụ cơ bản của các mơn LLCT mà trước hết là học phần
“Triết học Mác – Lênin” là trang bị cho người học thế giới quan khoa học, nhân
sinh quan cách mạng và phương pháp luận biện chứng duy vật. Đây là cơ sở nền
tảng của việc hình thành và phát triển TDPB cho SV. Xuất phát từ những lý do
trên, bài viết xin nêu một số ý kiến và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển
TDPB cho SV qua công tác giảng dạy học phần “Triết học Mác – Lênin”. Từ đó,
tác giả hy vọng sẽ góp phần tích cực vào việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
trong điều kiện hiện nay.
2
2. Tư duy phản biện của SV trong giáo dục đại học Việt Nam
2.1. Tư duy phản biện và vai trị của tư duy phản biện
TDPB là một q trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một
thơng tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và
khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng, logic,
đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm. Tư duy phản biện gắn liền với hai kĩ năng
chính: Kỹ năng lập luận (reasoning) và kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving)
[2, tr. 25-27].
Người có kỹ năng TDPB thường có những khả năng cơ bản như: quan sát,
biết xây dựng vấn đề (câu hỏi, lập luận), phát hiện được các mâu thuẫn và sai lầm
phổ biến trong lập luận; đồng thời nhận ra sự liên quan và kết nối logic giữa những
ý tưởng để giải quyết vấn đề một cách hệ thống. Cần lưu ý rằng tư duy phản biện
khơng phải là sự tích lũy thơng tin và ghi nhớ. Một người có trí nhớ tốt và hiểu biết
nhiều khơng có nghĩa là người đó có TDPB. Người có TDPB là người biết cách sử
dụng thơng tin để giải quyết vấn đề và tìm kiếm thêm các nguồn tin liên quan hữu
ích.
Cũng cần phân biệt tư duy phản biện với sự tranh cãi hay phê phán lập luận
của người khác. Tư duy phản biện (hay tư duy phê phán) là sự hoài nghi mang tính
xây dựng (hồi nghi kiến tạo), nó giúp cho chủ thể có thêm kiến thức và thúc đẩy
những tranh luận để tiến đến nhận thức được chân lý. Do đó, tư duy phản biện có
nhiệm vụ chỉ ra những thiếu sót thường gặp trong q trình tư duy và đưa ra những
kiến giải cho một sự lựa chọn tối ưu có thể có. Chính vì vậy, người có tư duy phản
biện thường có khả năng ứng biến, giải quyết nhanh các vấn đề mới; và từ đó, họ
thường có khả năng làm chủ được cuộc sống.
Chúng ta có thể nhận thấy sự tương đồng giữa hiệu quả của tư duy phản biện
với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay,
trong đó có giáo dục đại học: “Tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dư ng
nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của
3
người học.”[3]. Chúng ta có thể kể ra một số lợi ích chủ yếu mà kiểu tư duy này
mang lại cho sinh viên Việt Nam hiện nay như: TDPB giúp SV thốt ra khỏi những
suy nghĩ theo khn mẫu, thói quen, truyền thống và thay thế bằng cách suy nghĩ
theo nhiều chiều hướng khác nhau để tìm ra được những cách giải quyết khác nhau
cho một vấn đề. TDPB giúp SVcó ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe và tôn
trọng ý kiến người khác trong lúc tranh luận. Đồng thời, giúp họ nhìn ra những sai
lầm dễ mắc phải trong q trình tư duy của chính mình; từ đó giúp SV đưa ra
những nhận định, phán đốn tối ưu nhất có thể có. TDPB sẽ thúc đẩy SV tích cực
cập nhật thơng tin, xử lý thơng tin và chọn lọc được những thơng tin cần thiết, có
giá trị cho quá trình nhận thức và hành động thực tiễn; tránh được hiện tượng
“nhiễu thông tin” trong thời đại công nghệ hiện nay. TDPB cũng sẽ giúp cho SV
suy nghĩ theo hướng tích cực, lạc quan và chủ động giải quyết những vấn đề gặp
phải trong cuộc sống, học tập.
Có thể khẳng định rằng việc rèn luyện tư duy phản biện cho người học rất
quan trọng trong đào tạo bậc đại học, nhất là trong điều kiện hội nhập hiện nay. Đó
khơng chỉ là u cầu bức thiết của giáo dục Việt Nam mà là xu thế chung của nền
giáo dục quốc tế, là “chìa khóa” của những quốc gia có nền giáo dục hiện đại và
tiến bộ.
2.2. Sự cần thiết phải phát triển TDPB cho SV thông qua giảng dạy học phần
“Triết học Mác – Lênin”
Qua thực tiễn giảng dạy một số môn học như: Triết học Mác – Lênin và các
môn LLCT khác, chúng tôi nhận thấy hầu hết các em thường rơi vào tình trạng học
thụ động; biểu hiện ở việc các em không tự tin khi trình bày chính kiến của mình,
lúng túng trong q trình sử dụng ngôn từ khi lập luận, nhiều em rơi vào trạng thái
ỷ lại, lười tư duy. Điều này dẫn đến kết quả tất yếu là chất lượng học của các em
khơng cao. Tình trạng nói trên có thể do nhiều nguyên nhân, nếu không xét đến
những nguyên nhân về cơ chế đào tạo, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất của nhà
trường, thì chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân chủ yếu như: giảng viên ít
4
có những câu hỏi kích thích tư duy của sinh viên; phần lớn sinh viên chưa có hứng
thú học tập; sinh viên thiếu niềm tin vào tương lai và không có động cơ học tập rõ
ràng.
Đây là thực trạng chung ở hầu hết các môn học, các ngành và hệ đào tạo ở
nhà trường chứ khơng riêng gì ở các mơn LLCT. Do đó, việc rèn luyện và phát
triển TDPB cho SV không phải là vấn đề của riêng giảng viên và sinh viên mà là
nhiệm vụ chung của tất cả các cấp, của các khoa và các đơn vị trực thuộc nhà
trường.
Tuy nhiên, vì nhiệm vụ cơ bản của các môn LLCT là trang bị cho người học
thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận biện chứng
duy vật - cơ sở nền tảng của TDPB - nên việc phát triển tư duy phản biện cho sinh
viên thông qua công tác giảng dạy học phần Triết học Mác – Lênin là một việc làm
cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Là SV năm nhất nên các em vẫn còn đang lúng
túng trong việc tìm cách thích nghi với mơi trường học tập mới, phương pháp học
tập mới… Bên cạnh đó, các em mới chỉ có kiến thức nền tảng và hiểu biết xã hội
chưa nhiều, trình độ khái quát chưa cao…nên nếu giảng viên khơng có phương
pháp dạy học đúng đắn thì rất dễ dẫn đến tâm lý chán học, sợ học, học thụ động ở
SV. Do đó, nhiệm vụ của giảng viên môn Triết học Mác – Lênin là phải tạo được
môi trường học tập mà ở đó sự tự đọc, tự học, tự đánh giá sẽ tạo cho sinh viên sự
chủ động trong học tập, hình thành ở các em họ khả năng thích nghi nhanh, và nhất
là phát triển được tư duy phản biện ở các em. Chính điều này cũng sẽ giúp cho sinh
viên hình thành phương pháp luận khoa học, cách thức tiếp nhận, bổ sung, phát
triển tri thức, vận dụng sáng tạo hệ thống tri thức ấy để học tốt các mơn học khác;
đồng thời tự hồn thiện bản thân.
5
3. Phát triển TDPB cho SV qua công tác giảng dạy học phần “Triết học Mác –
Lênin”
3.1. Một số yêu cầu mang tính ngun tắc đối với GV
Có thể khẳng định rằng, dù theo bất kỳ quan điểm giáo dục nào thì người dạy
là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì họ đóng vai trị là người
hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức lý luận chính trị theo
mục đích của chương trình học. Do đó, để có thể rèn luyện, phát triển tư duy phản
biện cho SV thì giảng viên cần phải có TDPB và giảng viên mơn Triết học Mác Lênin càng phải có TDPB- một q trình của tư duy biện chứng. Muốn có tư duy
phản biện thì địi hỏi người giảng viên phải đáp ứng được những u cầu sau:
-
Có kiến thức chuẩn về chun mơn, ở đây là kiến thức của cả chương
trình mơn học, phần học. Có như vậy, trong q trình giảng dạy một đơn vị kiến
thức, giảng viên mới có thể liên kết, hệ thống hoá kiến thức cần thiết giúp người
học dễ nắm bắt những nội dung chính của bài học, môn học. Đồng thời, khi giảng
viên chuẩn về kiến thức chun mơn thì sẽ tạo được sự tự tin, chủ động dẫn dắt
người học tiếp cận kiến thức thông qua q trình phản biện.
-
Có hiểu biết về thực tiễn cuộc sống. Bất kỳ môn học nào cũng yêu cầu
người giáo viên phải có kiến thức thực tiễn và đối với những mơn học mang tính
trừu tượng, khái qt cao, thì đó lại càng là yêu cầu quan trọng, cấp thiết. Bởi vì,
nếu giảng viên giàu kiến thức thực tiễn thì sẽ làm sinh động bài giảng, gắn kết giữa
nội dung bài giảng với thực tiễn thông qua những minh hoạ, ví dụ từ thực tiễn; từ
đó sẽ kích thích sinh viên tích cực tìm tịi, thu thập thơng tin và vốn hiểu biết của
bản thân để tham gia vào quá trình tranh luận, phản biện với giảng viên và với bạn
học.
-
Có kỹ năng sư phạm và những phẩm chất cần thiết để rèn luyện tư duy
phản biện. Kỹ năng sư phạm giúp giảng viên có thể quan sát, bao quát và nắm bắt
được tâm lý người học, từ đó thu hút được người học một cách có hiệu quả. Đây
6
cũng là cơ sở nền tảng để giảng viên phát triển các kỹ năng của tư duy phản biện
cho SV.
Nếu như TDPB chỉ đòi hỏi ở người học kỹ năng lập luận và kỹ năng giải
quyết vấn đề, thì đối với người giảng viên, để có thể phát triển tư duy phản biện cho
SV, còn cần nhiều kỹ năng và phẩm chất khác như: lắng nghe tích cực, chấp nhận
sai lầm và khơng thành kiến, đặt câu hỏi kích thích tư duy, phản hồi tích cực, khả
năng định hướng thơng tin cho người học [4].
Bên cạnh đó, phong cách của giảng viên, bao gồm phong thái, tác phong, tư
cách, tâm tư, tình cảm cũng giữ vai trị quan trọng. Khi người giảng nhiệt huyết,
truyền cảm xúc vào mơn học thì sẽ lơi cuốn được người học vào q trình phản
biện tìm kiếm tri thức.
3.2. Một số biện pháp góp phần phát triển TDPB cho SV qua giảng dạy
học phần “Triết học Mác – Lênin”
Nhất quán các nguyên tắc đã nêu ở trên cũng như tổng kết một số kinh
nghiệm của bản thân trong q trình giảng dạy mơn Triết học Mác - Lênin trong
thời gian vừa qua, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện và phát triển
TDPB cho SV như sau:
3.2.1. Tích cực hóa các phương pháp đàm thoại, đặt vấn đề, thảo luận nhóm
trong quá trình dạy học nhằm thúc đẩy sinh viên suy nghĩ theo lối phản biện.
Với quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm” thì những năm gần
đây, việc sử dụng các phương pháp như đàm thoại, đặt vấn đề hay thảo luận nhóm
đã trở nên quen thuộc đối với người dạy. Tuy nhiên, kỹ thuật đặt câu hỏi trong các
phương pháp trên vẫn chưa được phát huy hiệu quả như mong muốn nên chưa kích
thích được sinh viên “động não”.
Do đó, để việc đổi mới phương pháp dạy học được hiệu quả, nhất là trong
giảng dạy các khái niệm, phạm trù mang tính trừu tượng, khái quát cao trong mơn
Triết học Mác - Lênin, thì giảng viên nên đặt những câu hỏi tình huống để thúc đẩy
7
sinh viên suy nghĩ theo lối phản biện, kích thích sự tị mị, mong muốn tìm hiểu sự
thật trong sinh viên.
3.2.2. Phát triển TDPB ở SV thông qua việc hướng dẫn sinh viên cách đặt
câu hỏi và giải quyết vấn đề.
Trước khi giảng bài mới, giảng viên yêu cầu sinh viên nghiên cứu tài liệu,
khuyến khích các em suy nghĩ độc lập và đặt các loại câu hỏi khác nhau xung
quanh vấn đề được nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên hỏi đúng trọng tâm thông qua
việc xác định các “từ khóa” của nội dung bài học. Đồng thời, trong quá trình thảo
luận, giảng viên yêu cầu sinh viên đưa ra nhận xét hoặc đánh giá vấn đề, yêu cầu
sinh viên giải thích lý do, lập luận, chứng minh cho quan điểm của mình. Hoạt
động theo cách này sẽ giúp sinh viên hình thành vững vàng tư duy độc lập và
TDPB. Ví dụ: khi dạy về phạm trù vật chất, giảng viên có thể yêu cầu một số sinh
viên hoặc nhóm sinh viên trình bày về các nội dung cơ bản trong định nghĩa vật
chất mà Lênin đã nêu: phạm trù triết học, tồn tại khách quan, có thể nhận thức
được. Sau đó, yêu cầu một vài sinh viên đặt câu hỏi để làm rõ vấn đề, chẳng hạn
như: tại sao phải quan niệm vật chất là phạm trù triết học? làm sao để phân biệt cái
gì là vật chất, cái gì khơng phải là vật chất? ... Trong q trình các em thảo luận,
giảng viên đóng vai trị là “trọng tài” để dẫn dắt và giúp các em đưa ra kết luận cuối
cùng. Trong hoạt động này, giảng viên gợi ý SV sử dụng bản đồ tư duy để thể hiện
ý kiến, quan điểm.
Như vậy, sinh viên sẽ thấy được vai trị của bản thân trong q trình tìm hiểu
tri thức, đồng thời giúp sinh viên bổ sung được kiến thức thực tiễn vào nội dung bài
học. Qua đó cũng giúp giảng viên thay đổi khơng khí học tập, kích thích hứng thú
học tập của sinh viên giúp cho quá trình giảng dạy đạt kết quả cao hơn.
3.2.3. Tăng cường năng lực ngôn ngữ cho SV thông qua việc giải thích thuật
ngữ trong q trình giảng dạy.
8
Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy; ngôn ngữ càng phong phú thì tư duy
càng được phát triển. Tuy nhiên, qua thực tiễn giảng dạy và tiếp xúc với nhiều sinh
viên, tơi thấy rằng có một số lượng không nhỏ sinh viên khá lúng túng trong việc sử
dụng từ ngữ tiếng Việt, nhiều em không hiểu rõ nghĩa của những từ mà các em vẫn
hay sử dụng như: khách quan, chủ quan, toàn diện, cụ thể, lịch sử, có thể, khả
năng... Trong khi đó, có nhiều thuật ngữ trong mơn Triết học Mác – Lênin mang
tính trừu tượng nên việc giải nghĩa của chúng càng trở nên cần thiết đối với sinh
viên. Việc hiểu rõ nghĩa của các thuật ngữ sẽ giúp các em tự tin hơn trong quá trình
tranh luận, thảo luận và trình bày quan điểm. Qua đó, vốn từ tiếng Việt và ngữ pháp
tiếng Việt của các em sẽ được nâng lên, góp phần thúc đẩy tư duy phát triển hơn.
4. Kết luận
Như vậy, có thể nói, TDPB là một trong những yếu tố cần thiết cho sự thành
công của SV trong cuộc sống, học tập và quá trình làm việc sau khi ra trường.
Trong giai đoạn đổi mới căn bản toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết lần
thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, thì việc rèn luyện TDPB cho
SV lại càng rất cần thiết và mang ý nghĩa quan trọng. Điều đó giúp các em trưởng
thành hơn về mặt nhận thức, hứng thú hơn trong quá trình học tập và trao đổi, cởi
mở hơn trong việc thừa nhận sai lầm của bản thân. Từ đó, sinh viên có thể nhận
thức được các vấn đề lý luận được truyền đạt, sử dụng hiệu quả các luồng thông tin
trái chiều, lý giải được những vấn đề của thực tiễn cuộc sống đã, đang và sẽ diễn ra.
Đồng thời, phát triển được TDPB cũng sẽ giúp các em học tốt được các môn học
khác, mở rộng khả năng rèn luyện các năng lực, phẩm chất cần thiết khác nhằm đáp
ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
9
Tài liệu tham khảo
1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tam Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI, Lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013.
2.Nguyễn Thị Hòa, Bàn về tư duy phản biện trong giáo dục đại học, Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Đồng Nai, số 5/2017.
3.Vũ Thị Như Hương, Tài liệu giảng dạy CRITICAL THINKING, Trung tâm
Đào tạo tiền tiến sĩ, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (lưu hành nội bộ), 2012.
4.Bùi Ngọc Qn, Tích cực hóa hoạt động giảng dạy của giảng viên trong
rèn luyện tư duy phản biện cho sinh viên, Tạp chí Giáo dục, kỳ 01 tháng 3/2016, tr.
20-22,30.
5.Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 29-NQ-TW ngày 4/11/2013 về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng u cầu cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế, Hà Nội, 2013.
6.Vũ Trà Giang, Tư duy phản biện khoa học của giảng viên Lý luận chính trị
ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng
12/2015, tr. 90-92.
10
7.Dương Thị Hồng Oanh, Nguyễn Xn Đạt, Giáo trình tư duy biện luận
ứng dụng, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2005.
11