NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN MỨC ĐỘ THAM GIA QUẢN
LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
Đỗ Hoài Linha, Trần Đức Thànha, Đỗ Thanh Tràa, Vũ Danh Tàia, Đào Thu Hươnga và Nguyễn
Thu Hàa
a Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Việt Nam
Tóm tắt: Chuỗi cung ứng xanh là hướng phát triển mới của các doanh nghiệp, giúp tạo vị thế cạnh
tranh và xây dựng một thương hiệu thân thiện với môi trường. Với ngành cơng nghiệp đang tăng
trưởng nóng như sản xuất điện tử tại Việt Nam thì quản lý chuỗi cung ứng xanh lại càng cấp thiết.
Nhiều cơng trình nghiên cứu được thực hiện từ trước nhưng chỉ dừng lại ở ngành cơng nghiệp nói
chung, do đó, nhóm nghiên cứu quyết định phát triển mơ hình tại ngành sản xuất điện tử. Sau khi
khảo sát 544 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nói trên ở đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ, dữ
liệu được kiểm định và phân tích qua phần mềm SPSS 26.0 và AMOS 25.0. Kết quả nghiên cứu cho
thấy những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào quản lý chuỗi cung ứng xanh bao gồm loại hình,
quy mô doanh nghiệp, quy định môi trường, áp lực thị trường và động lực hướng đến hiệu quả. Qua
đó, nhóm đề xuất gợi ý nhằm cải thiện mức độ tham gia của doanh nghiệp thơng qua mơ hình được
kết luận.
Từ khóa: Chuỗi cung ứng xanh, Doanh nghiệp sản xuất điện tử, Quản lý chuỗi cung ứng xanh, Việt
Nam
1. Giới thiệu
Sản xuất công nghiệp điện tử ngày một tăng dẫn đến các thách thức từ vấn đề tài nguyên và môi
trường của Việt Nam ngày càng lớn. Sản lượng ngành công nghệ điện tử Việt Nam năm 2019 đạt
gấp 4 lần so với 2016 (EMS, 2019), cùng với đó, rác thải điện tử hàng năm của Việt Nam đã lên tới
hơn 100 nghìn tấn. Do vậy, quản lý chuỗi cung ứng xanh hay GSCM (Green Supply Chain
Management) là một chiến lược “xanh”, một công cụ sáng tạo mới giúp cho ngành công nghiệp sản
xuất vững bước hoạt động trên đà tăng trưởng đồng thời giảm bớt nhiều áp lực đến từ yếu tố mơi
trường.
Hiện tại đã có những bài nghiên cứu về áp dụng chuỗi cung ứng xanh ở Việt Nam, tuy vậy, đa phần
những bài viết này đều nghiên cứu chung về tất cả các ngành trong nước hay tìm hiểu sâu về ngành
hang tiêu dùng nhanh mà chưa đề cập đến ngành công nghiệp điện tử. Nghiên cứu này tiến hành trên
khu vực vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ - nơi tập trung nhiều doanh nghiệp sản
xuất điện tử nhất cả nước, đồng thời cũng là nơi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện tử thực hiện mơ
hình khu công nghiệp sinh thái hướng đến bền vững và áp dụng tiêu chuẩn cơng trình cơng nghiệp
xanh. Xuất phát từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn đề tài “Những nhân tố
tác động lên mức độ tham gia Quản Lý Chuỗi Cung Ứng Xanh của các doanh nghiệp sản xuất điện
tử Việt Nam”.
2. Tổng quan lý thuyết và mơ hình nghiên cứu
2.1. Tổng quan lý thuyết
2.1.1. Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-based theory) là việc khám phá các nguồn lực của một công
ty nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững so với các công ty cạnh tranh khác trong ngành
(Mahoney và Pandian, 1992). Học thuyết nguồn lực dẫn đến hai giả thuyết hệ quả: Thứ nhất chiến
lược có thể khơng đồng nhất về nguồn lực sẵn có cho họ (Barney, 1991). Thứ hai nguồn lực của một
công ty không thể được giao dịch trong các thị trường đa dạng và cũng khơng dễ tích lũy hay nhân
rộng.
Lý thuyết thể chế (Institutional theory) giải thích về tác động của các tổ chức chính trị, xã hội đối với
việc thiết lập tổ chức cơ cấu, hành vi của doanh nghiệp, và làm sáng tỏ cấu trúc xã hội. Như vậy, lý
thuyết thể chế có thể được sử dụng trong việc đánh giá các tác nhân bên ngoài đối với các hoạt động
liên quan đến môi trường của doanh nghiệp (Lounsbury, 1977). Thứ nhất là áp lực cưỡng chế
(coercive), tức là khi quy định mới bắt buộc thực hiện được ban hành, áp lực cưỡng chế sẽ thúc đẩy
thay đổi trong tổ chức trực tiếp và gián tiếp qua thể chế phụ thuộc. Thứ hai, Áp lực từ sự lan tỏa
(mimetic) xảy ra khi một tổ chức, doanh nghiệp tự nguyện sao chép hoặc làm theo những hành
động, cơ cấu tổ chức và quyết định của tổ chức khác, thường là đối thủ cạnh tranh, để giảm thiểu rủi
ro, tạo nên thành công cho mình giống như đối thủ. Thứ ba, áp lực quy phạm (normative) đến từ
những yêu cầu của nhà cung cấp, khách hàng, các bên liên quan, truyền thông và xã hội thực sự tác
động mạnh mẽ lên quyết định của các doanh nghiệp.
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) được lần đầu nhắc đến trong nghiên cứu của
Freeman (1984), là lý thuyết về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh. Freeman (1984) mô tả các
bên liên quan là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt
được các mục tiêu của tổ chức”.
Học thuyết nhà quản lý (Stewardship theory) nghiên cứu về mối quan hệ của các nhà quản lý đến
quyết định doanh nghiệp có thể được hiểu là việc những giám đốc, những nhà quản lý thông thường
sẽ không đưa ra quyết định hướng đi cho doanh nghiệp dựa trên lợi ích cá nhân, mà sẽ cố gắng tối
đa hóa lợi ích đến với cơng ty. Qua những phân tích tâm lý học như vậy, hành vi cũng như định
hướng của những giám đốc sẽ đảm bảo quyền lợi cho chính họ cũng như tạo mối liên hệ chặt chẽ
giữa họ và những cổ đông.
2.1.2. Quản lý chuỗi cung ứng xanh
Theo Samir K. Srivastava, quản lý chuỗi cung ứng xanh có thể hiểu đơn giản là việc đưa các ý
tưởng “xanh” vào các hoạt động của chuỗi cung ứng truyền thống. Zhu và Sarkis đưa ra một góc độ
khác của khái niệm này, họ cho rằng quản lý chuỗi cung ứng xanh là đưa “các yếu tố xanh” vào mối
quan hệ sản xuất và tiêu thụ của ba mắt xích quan trọng, đó là khách hàng, nhà cung cấp, nhà sản
xuất. Khi nhìn ở góc độ vĩ mô hơn, quản lý chuỗi cung ứng xanh là một “vịng trịn khép kín” và
khơng có điểm cuối của ngun vật liệu và sản phẩm từ bên trong ra bên ngoài doanh nghiệp sản
xuất (Simpson và Power, 2005).
2.1.3. Quản lý chuỗi cung ứng xanh trong ngành sản xuất điện tử tại Việt Nam
Nhiều nghiên cứu cho rằng tham gia vào chuỗi cung ứng mang lại cho doanh nghiệp điện tử cơ hội
tăng năng suất, thúc đẩy sáng tạo - đổi mới và tiết kiệm chi phí (Stadtler, 2007; Nguyễn Đình Tài,
2013; Ngọc & Trang, 2011). Theo Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2016-2020, các dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, nhiều cơ sở sản xuất sản phẩm điện tử công nghệ
cao tại Việt Nam được đầu tư xây dựng bởi nhiều hãng điện tử tên tuổi lớn trên thế giới như
Samsung, LG, Foxconn. Tuy nhiên, một số khía cạnh mơi trường khác vẫn bị bỏ sót trong q trình
hội nhập, ví dụ như tần suất và mức độ chi phí mơi trường mà doanh nghiệp phải gánh chịu thường
không được đề cập và xem xét trong hệ thống kế tốn chi phí.
Thứ nhất, quản lý môi trường nội bộ tập trung vào hỗ trợ nội bộ và cam kết của doanh nghiệp đối
với việc quản lý chuỗi cung ứng xanh, tuân thủ các quy định hiện hành và hệ thống quản lý môi
trường trong tổ chức (Zhu và Sarkis, 2004). Trong thực tiễn quản lý nội bộ doanh nghiệp, người
quản lý cần được cung cấp thơng tin đầy đủ và chính xác để hỗ trợ cho hoạt động quản lý. Thông tin
trao đổi giữa các trưởng bộ phận và các nhà quản lý mơi trường có ý nghĩa chiến lược đối với hoạt
động của doanh nghiệp. Báo cáo hoạt động quản lý chuỗi cung ứng được chia sẻ đến các cấp quản lý
doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý ở các bộ phận khác nhau có cái nhìn tồn diện và chính xác hơn.
Thứ hai, quản lý mơi trường bên ngồi liên quan đến việc xanh hóa các nhà cung cấp để họ tham gia
cùng doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường (Bowen và cộng sự, 2001; Rao,
2002; Hamner, 2006). Thực tiễn quan sát cho thấy rằng các nhà cung cấp thường không cung cấp
độc quyền cho một khách hàng và các mối quan hệ giữa nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng, nhà cung
cấp linh kiện và nhà cung cấp nguyên liệu còn rời rạc, thiếu sự liên kết bền vững. Các linh kiện, chi
tiết quan trọng, có giá trị cao để chế tác sản phẩm điện tử vẫn chủ yếu do các FDI thực hiện hoặc
nhập khẩu từ nước ngoài (Hồ Lê Nghĩa, 2011). Ngồi ra, tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm trong ngành
điện tử rất thấp, chỉ đạt khoảng 20%, chủ yếu là bao bì nhựa và linh kiện, điều này dễ gây ra tình
trạng thiếu ngun liệu hoặc khơng đạt tiêu chuẩn (Nguyễn và Mai, 2020).
2.2. Mơ hình nghiên cứu
2.2.1. Nhóm biến phụ thuộc
Hệ thống quản lý mơi trường nội bộ (Environmental Management Systems) là hoạt động quản lý có
kế hoạch và chỉ đạo cụ thể do một tổ chức tiến hành với cơ cấu, chức năng, trách nhiệm và nguồn
lực nhằm ngăn chặn các yếu tố xấu ảnh hưởng đến môi trường.
Mua sắm xanh” (green purchasing) hay “mua sắm sinh thái” (eco purchasing) là một hành động
hướng tới mục đích giảm thiểu các yếu tố có hại cho môi trường và sức khỏe con người thông qua
việc mua sắm các dịch vụ, sản phẩm thân thiện với môi trường.
Thiết kế sinh thái (Eco Design) được Sim Van der Ryn và Stuart Cowan (2007) định nghĩa là "bất kỳ
hình thức thiết kế nào giảm thiểu tác động tàn phá của mơi trường bằng cách tích hợp chính nó với
các quá trình sống”.
Giao vận ngược (Reverse Logistics) được Rogers và Tibben-Lembke định nghĩa là "Logistics ngược
là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm sốt dịng chảy hiệu quả của nguyên vật liệu, bán thành
phẩm và thông tin liên quan từ điểm tiêu thụ đến điểm xuất xứ cho mục đích của việc khơi phục giá
trị hoặc cách khác được xử lý đúng cách".
Phục hồi đầu tư là hoạt động thu hồi giá trị của tài sản không sử dụng bằng cách xác định và tái sử
dụng hoặc xử lý tài sản thặng dư.
2.2.2. Nhóm biến độc lập
Quy định về môi trường bao gồm các quy định về môi trường trong nước, chính sách mơi trường của
chính phủ và các hiệp định môi trường quốc tế.
Áp lực nhà cung cấp bao gồm áp lực lên chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, thiết kế, giá cả khiến các
doanh nghiệp sản xuất điện tử phải tìm đến một cơng cụ quản lý giúp đem lại lợi nhuận cao mà vẫn
đảm bảo an tồn mơi trường.
Áp lực người mua thể hiện ở nhu cầu ngày tăng cao của khách hàng đối với sản phẩm sinh thái, do
đó tất cả các tổ chức phải đảm bảo tính bền vững trong mọi giai đoạn vòng đời sản phẩm của họ
(Nguyễn và cộng sự, 2014; Đỗ và cộng sự, 2020; Đỗ và Lưu, 2019).
Áp lực cạnh tranh thể hiện ở hiệu quả của năng lực cạnh tranh và quy mô sản xuất, phụ thuộc vào
quá trình học hỏi và sự năng động của thị trường mà doanh nghiệp tham gia.
Áp lực cộng đồng được thể hiện ở xu hướng xanh ngày nay khi khách hàng cuối cùng ngày càng
hiểu rõ hơn và ý thức hơn về tác động môi trường của các sản phẩm tiêu dùng, các doanh nghiệp
điện tử cần cung cấp nhiều sản phẩm “xanh” hơng để đáp ứng mong đợi của khách hàng.
Trách nhiệm xã hội từ doanh nghiệp điện tử đến khách hàng nói riêng hay xã hội nói chung về mặt
pháp lý bắt buộc phải thực hiện trách nhiệm xã hội.
Cam kết của nhà quản lý được thể hiện ở việc chủ sở hữu hoặc người quản lý sẽ tìm mọi hướng để
thúc đẩy lợi ích của tồn doanh nghiệp, dựa trên hai yếu tố chính: tầm nhìn và cam kết ban đầu của
nhà quản lý.
Động lực chiến lược hướng tới hiệu quả kinh tế: Các hoạt động bảo vệ mơi trường có thể có tác
động tích cực đến hoạt động kinh tế của cơng ty. GSCM có thể cắt giảm chi phí mua ngun liệu thơ
và tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí xử lý và thải bỏ chất thải, và tránh bị phạt trong trường hợp xảy
ra tai nạn môi trường (Zhu và Sarkis, 2004).
Động lực chiến lược hướng tới hiệu quả mơi trường: Hầu hết các doanh nghiệp đều có nhận thức rõ
ràng về thực hành quản lý môi trường, mua sắm xanh và thiết kế sinh thái để tránh tiêu thụ các vật
liệu độc hại, có các yếu tố có hại cho con người và môi trường, giảm phát thải và chất thải ra môi
trường (Dương Văn Bảy, 2019).
Động lực chiến lược hướng tới hiệu quả hoạt động sẽ giúp nâng cao vị thế và uy tín của doanh
nghiệp, tăng cơ hội bán sản phẩm ra thị trường thông qua việc sản xuất và cung cấp sản phẩm chất
lượng cao trong thời gian ngắn (Melnick và cộng sự; Zhu và cộng sự, 2008).
2.2.3. Nhóm biến kiểm sốt
Loại hình doanh nghiệp: Đối với từng loại hình như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi (FDI)
hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước, nhận thức về đầu tư áp dụng các sáng kiến “xanh” sẽ
diễn ra ở một mức độ khác nhau.
Quy mô doanh nghiệp được thể hiện bằng tổng tài sản cố định và số lượng lao động của cơng ty, nó
thể hiện một phần khả năng phát thải của doanh nghiệp do thiết bị và nhà máy là nguồn ảnh hưởng
chính, trực tiếp ra mơi trường.
Hình 2.1: Mơ hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ tham gia của DN điện tử vào quản
lý chuỗi cung ứng xanh (Nguồn: Nhóm tác giả)
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu định tính
Để thu thập dữ liệu định tính nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, nhóm đã tiến hành giai đoạn
sơ khảo về nghiên cứu tài liệu và thông tin, để từ đó đưa ra quyết định và đề xuất mơ hình nghiên
cứu phù hợp với đề tài. Đồng thời, nhóm tác giả cũng đã thiết lập bảng hỏi tương ứng với mơ hình
đề xuất.
Vào tháng 7/2021, nhóm đã tiến hành cuộc phỏng vấn sâu và trao đổi với một chuyên gia về môi
trường học và hai nhà quản lý của hai doanh nghiệp điện tử trên khu vực đồng bằng sông Hồng. Kết
quả của buổi phỏng vấn cho thấy họ đều có cùng quan điểm về vấn đề xây dựng thang đo sao cho
hồn chỉnh, kĩ lưỡng nhất, trong đó, nhóm tác giả có thêm sự thay đổi, bổ sung và lược bỏ một số
biến quan sát để đo lường chuẩn xác nhất các nhân tố chính.
3.2. Nghiên cứu định lượng
Thời gian khảo sát: 01/02/2021 đến 01/08/2021
Sau khi xác định được mơ hình nghiên cứu chính thức, nhóm tác giả gửi phiếu khảo sát đến 950
doanh nghiệp sản xuất điện tử tại miền Bắc và khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam. Cách thức tiếp cận
doanh nghiệp bao gồm gửi phiếu khảo sát online qua Gmail và liên lạc đến một số bộ phận Nhà
nước để tiếp cận doanh nghiệp.
Kết quả thu được 619 phiếu khảo sát với 544 câu trả lời hợp lệ, nhóm đã tổng hợp và thu thập dữ
liệu về các nhân tố tác động vào sự tham gia vào chuỗi cung ứng xanh của doanh nghiệp điện tử.
Các phương pháp nhóm đưa ra để phân tích dữ liệu thu thập được trong doanh nghiệp gồm có: đánh
giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, kiểm định giá trị thang đo bằng phương
pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, đánh giá sự phù hợp của số liệu nghiên cứu với mơ hình lý
thuyết bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA. Sau đó, nhóm sẽ phân tích mơ hình cấu trúc tuyến
tính SEM để có thể xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và kiểm định giả thuyết.
Cuối cùng, nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng vấn đề.
3.3. Thang đo
Chi tiết từng biến quan sát của thang đo được trình bày trong Phụ lục 1.2 “Thang đo các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ tham gia của DN điện tử vào quản lý chuỗi cung ứng xanh”.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thống kê mô tả đặc điểm mẫu
Sau đây là kết quả khảo sát nghiên cứu thu được: Nhóm nghiên cứu đã thu được về 544 phiếu khảo
sát đạt tiêu chuẩn từ các doanh nghiệp sản xuất điện tử thuộc khu vực miền Bắc và Đông Nam Bộ
như Bắc Ninh, Bắc Giang, TP. Hồ Chí Minh..., lớn hơn số mẫu tối thiểu là 365 nên có thể được sử
dụng làm dữ liệu, giữ tỉ lệ 57.2% phiếu hợp lệ.
Về loại hình doanh nghiệp, khảo sát thu được cho thấy doanh nghiệp nhà nước chiếm 2.6%, doanh
nghiệp tư nhân chiếm 17.8% và doanh nghiệp FDI chiếm 79.6%. Từ đó có thể thấy đa phần doanh
nghiệp được khảo sát thuộc loại hình doanh nghiệp FDI.
Về quy mơ doanh nghiệp, số liệu thống kê cho thấy số lượng lao động doanh nghiệp dưới 100 người
chiếm 11.2%, từ 100 đến 500 người chiếm 57.2%, từ 500 đến 1000 người chiếm 23.7%, từ 1000 đến
1500 người chiếm 1.1%, từ 1500 đến 2000 người chiếm 1.3% và trên 2000 người chiếm 5.5% tổng
thể. Từ đó có thể thấy đa phần doanh nghiệp tham gia khảo sát thuộc quy mô vừa và nhỏ dưới 1000
người.
4.2. Đánh giá độ tin cậy thang đo
Kết quả kiểm định giá trị tin cậy Cronbach’s Alpha chung của các biến đều đạt ở mức độ tốt trở lên,
(lớn hơn 0.7). Do vậy có thể khẳng định các biến đều đáng tin cậy và phù hợp với thang đo được
xây dựng.
Đối với nhóm biến phụ thuộc, kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy tất cả các nhóm biến quan sát
đều đạt trong phạm vi tiêu chuẩn với hệ số biến tổng Corrected Item – Total Correlation lớn hơn 0.3.
Trong đó có ba biến quan sát HTQL2, MX5 và GVN4 có hệ số tương quan biến tổng nhỏ nhất trong
nhóm biến. Do vậy, nhóm nghiên cứu đã cân nhắc loại ba biến quan sát sau khi xem xét mức độ ảnh
hưởng không nhiều lên mơ hình của ba biến và có thể cải thiện được hệ số Cronbach’s Alpha chung
cho nhóm biến quan sát.
Đối với nhóm biến độc lập, đa phần các biến quan sát đều đạt được hệ số tương quan tổng tiêu
chuẩn (lớn hơn 0.3), trừ biến quan sát TNXH3. Do hệ số tương quan tổng chỉ dừng lại ở giá trị
0.289 nhỏ hơn 0.3, nhóm nghiên cứu loại biến quan sát này. Tuy đa số đạt tiêu chuẩn hệ số tương
quan tổng, nhưng các biến quan sát ALCT2 và HQHD5 đều có hệ số tương quan tổng khá nhỏ (thấp
hơn 0.4). Nhóm nghiên cứu quyết định loại hai biến đề cập trên khỏi mơ hình do hai biến kể trên có
mức độ ảnh hưởng đến tồn bộ mơ hình vơ cùng thấp.
4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA
Phân tích nhân tố khám phá EFA nhóm biến phụ thuộc
Kết quả EFA cho thấy, có 2 nhân tố được trích với tổng trị số phương sai là 68.150% (> 50%). Các
nhân tố hội tụ với nhau trên cùng một khái niệm và tạo thành 2 nhân tố mới, được thể hiện ở bảng
sau:
Bảng 4.1: Hoạt động quản lý chuỗi cung ứng xanh (Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả)
STT
1
2
Kí hiệu
QLMT
HSX
Biến tiềm ẩn hợp nhất
Quản lý mơi trường
Hậu sản xuất
Số biến quan sát
10
7
Phân tích nhân tố khám phá EFA nhóm biến độc lập
Kết quả EFA cho thấy, có 6 nhân tố hội tụ với tổng trị số phương sai là 71.607% (> 50%). Các nhân
tố hội tụ với nhau trên cùng khái niệm và tạo thành 6 nhân tố đại diện, được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.2: Các nhân tố tác động đến mức độ tham gia vào quản lý chuỗi cung ứng xanh (Nguồn:
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả)
STT
1
2
3
4
5
6
Kí hiệu
HQ
ALTT
NTXH
QDMT
NQL
ALCC
Biến tiềm ẩn hợp nhất
Động lực chiến lược hướng đến hiệu quả
Áp lực thị trường
Nhận thức xã hội
Quy định môi trường
Cam kết của nhà quản lý
Áp lực nhà cung cấp
Số biến quan sát
12
8
5
5
3
3
4.4. Mơ hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu chính thức
Mơ hình nghiên cứu chính thức
Hình 4.2: Mơ hình nghiên cứu chính thức (Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả)
Giả thuyết nghiên cứu chính thức
Nhóm giả thuyết về các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến quản lý chuỗi cung ứng xanh
- Giả thuyết H1: Quy định mơi trường có quan hệ cùng chiều đến sự tham gia của DN điện tử vào
(a) Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất.
- Giả thuyết H2: Áp lực nhà cung cấp có quan hệ cùng chiều đến sự tham gia của DN điện tử vào (a)
Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất.
- Giả thuyết H3: Áp lực thị trường có quan hệ cùng chiều với sự tham gia của DN điện tử vào (a)
Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất.
- Giả thuyết H4: Nhận thức xã hội có quan hệ cùng chiều với sự tham gia của DN điện tử vào (a)
Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất.
Nhóm giả thuyết về các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quản lý chuỗi cung ứng xanh
- Giả thuyết H5: Cam kết của nhà quản lý ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia của DN điện tử vào
(a) Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất.
- Giả thuyết H6: Động lực chiến lược hướng đến hiệu quả ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia của
DN điện tử vào (a) Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất.
Nhóm giả thuyết về sự khác biệt trong quản lý chuỗi cung ứng xanh theo đặc điểm DN điện tử
- Giả thuyết H7: Có sự khác biệt theo loại hình DN điện tử về sự tham gia của DN điện tử vào (a)
Quản lý môi trường, (b) Hậu sản xuất
- Giả thuyết H8: Có sự khác biệt theo quy mô về sự tham gia của DN vào (a) Quản lý mơi trường,
(b) Hậu sản xuất.
4.5. Phân tích nhân tố khẳng định CFA
Phân tích CFA cho mơ hình tới hạn có 8 thành phần được đo lường: (i) Động lực chiến lược hướng
đến hiệu quả, (ii) Quản lý môi trường, (iii) Hậu sản xuất, (iv) Áp lực thị trường, (v) Nhận thức xã
hội, (vi) Quy định môi trường, (vii) Cam kết từ nhà quản lý, (viii) Áp lực nhà cung cấp. Kết quả
CFA thu được chỉ số đo độ phù hợp mơ hình đều đạt u cầu như CMIN/df = 2.906 (Chi-square/df ≤
5); GFI = 0.804 (Goodness of Fit Index ≥ 0.8); CFI = 0.903 (Comparative Fit Index ≥ 0.9); TLI =
0.894 (Tucker & Lewis Index ≈ 0.9) và RMSEA = 0.059 (Root Mean Square Error Approximation ≤
0.08).
Kết quả cho thấy toàn bộ biến quan sát trong nhân tố đều có ý nghĩa trong thang đo do hệ số tải
chuẩn hóa (Standardized Loading Estimates) > 0.5 và 8 khái niệm đo lường đều đạt ở mức độ tin
cậy cao với độ tin cậy tổng hợp (CR) đều lớn hơn 0.7. Tất cả các giá trị phương sai trích trung bình
(AVE) đều lớn hơn 0.5, tức là tính hội tụ được đảm bảo. Tất cả các giá trị MSV đều nhỏ hơn AVE,
các giá trị SQRTAVE (Căn bậc hai của AVE) đều lớn hơn tất cả hệ số tương quan các thành phần cấu
trúc. Do vậy, tính phân biệt của các nhân tố được đảm bảo.
4.6. Phân tích mơ hình cấu trúc tuyến tính SEM và kiểm định giả thuyết
4.6.1. Kiểm định mơ hình cấu trúc tuyến tính SEM
Kết quả phân tích độ phù hợp mơ hình cấu trúc tuyến tính SEM cho thấy chỉ tiêu CMIN/df = 2.997
(Chi-square/df ≤ 5); GFI = 0.801 (Goodness of Fit Index ≥ 0.8); CFI = 0.898 (Comparative Fit Index
≈ 0.9); TLI = 0.889 (Tucker & Lewis Index ≈ 0.9) và RMSEA = 0.061 (Root Mean Square Error
Approximation ≤ 0.08). Như vậy, mơ hình nghiên cứu được coi là phù hợp với dữ liệu thị trường.
Hình 4.3: Kết quả SEM của mơ hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của các
doanh nghiệp sản xuất điện tử vào quản lý chuỗi cung ứng xanh (chuẩn hóa) (Nguồn: Kết quả
nghiên cứu của nhóm tác giả)
4.6.2. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu cho thấy 5 giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận với chiều
hướng tác động thuận chiều (ꞵ > 0). Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy có 2 mối quan hệ có tác
động ngược chiều với quản lý môi trường và hậu sản xuất, bao gồm áp lực nhà cung cấp và nhận
thức xã hội.
Bảng 4.3: Tóm tắt kết quả nghiên cứu chính thức (Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả)
Nội dung giả thuyết
H1a: Quy định mơi trường có quan hệ cùng chiều với quản lý
Giả thuyết H1
Giả thuyết H2
môi trường
H1b: Quy định mơi trường có quan hệ cùng chiều với hậu sản
xuất
H2a: Áp lực nhà cung cấp có quan hệ cùng chiều với quản lý
môi trường
Kết quả
Chấp nhận
Chấp nhận
Ngược chiều
H3a: Áp lực thị trường có quan hệ cùng chiều với quản lý môi
Giả thuyết H3
Giả thuyết H4
Giả thuyết H6
Chấp nhận
trường
H3b: Áp lực thị trường có quan hệ cùng chiều với hậu sản
xuất
H4b: Nhận thức xã hội có quan hệ cùng chiều với hậu sản
xuất
H6a: Động lực chiến lược hướng đến hiệu quả ảnh hưởng tích
Chấp nhận
Ngược chiều
cực đến quản lý môi trường
Chấp nhận
4.7. Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý chuỗi cung ứng xanh của các DN điện tử
4.7.1. Quản lý môi trường
Quản lý môi trường bao gồm hệ thống quản lý môi trường nội bộ, mua xanh và thiết kế sinh thái.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị trung bình của các thang đo hoạt động quản lý môi trường dao
động từ 3.41 đến 3.72 điểm. Điều này cho thấy hầu hết DN điện tử tại Việt Nam hiện nay đã và đang
nhận thức được vai trị của quản lí mơi trường đối với sự phát triển bền vững của DN cũng như góp
phần bảo vệ mơi trường chung, từ đó bước đầu thực hiện.
4.7.2. Hậu sản xuất
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả chia hậu sản xuất thành hai phần chính là phục hồi đầu tư và giao
vận ngược. Giá trị trung bình thang đo hậu sản xuất dao động từ 3.02 đến 3.44 cho thấy tại Việt
Nam, các DN điện tử hầu như đang xem hoặc bắt đầu thực hiện hoạt động hậu sản xuất. Khâu giao
vận ngược cũng giành được sự quan tâm của phần lớn DN điện tử khi số DN bắt đầu thực hiện và
thực hiện thành công giao trả sản phẩm và bao bì cho nhà cung cấp để tái chế lần lượt là 26.5% và
27.2%.
4.8. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tham gia vào quản lý chuỗi cung ứng xanh
của các DN điện tử Việt Nam
4.8.1. Quy định môi trường
Nghiên cứu cho thấy biến quan sát quy định mơi trường có tác động lên hoạt động quản lý môi
trường doanh nghiệp với trọng số Beta = 0.354 và p = 0.000 nhỏ hơn 0.05. Ngoài ra đối với hoạt
động hậu sản xuất, biến quan sát thể hiện tác động cùng chiều với trọng số beta = 0.569 và p =
0.000. Điều này có thể được giải thích khi các doanh nghiệp sản xuất điện tử ở Việt Nam tuân thủ
các quy định của chính phủ và bộ luật hiện hành, họ sẽ có nhận thức và hiểu biết về tầm quan trọng
của việc thực hiện các hoạt động xanh.
4.8.2. Áp lực nhà cung cấp
Kết quả kiểm định cho thấy áp lực cung cấp có tác động trực tiếp và ngược chiều đến quản lý môi
trường với trọng số Beta = -0.188 và p = 0.000. Điều này cho thấy việc bước tiến của các phát triển
sản phẩm, phát triển bao bì và hợp tác với các nhà cung cấp về mơi trường hồn tồn khơng tác
động nhiều tới quản lý mơi trường. Từ nghiên cứu quan sát có thể thấy rằng nhìn chung, phần lớn
các doanh nghiệp đều tỏ ra khá đồng ý với việc có áp lực từ cung cấp, chiếm khoảng từ 42.1% cho
tới 43.8%. Tuy nhiên, vẫn cịn một số doanh nghiệp khơng nghĩ tới việc này chiếm tới xấp xỉ 25%
tới 26%. Do đó, các doanh nghiệp hiện nay cũng phần nào chú tâm tới việc xây dựng sản phẩm xanh
khi phải chịu áp lực cung cấp.
4.8.3. Áp lực thị trường
Kết quả kiểm định cho thấy áp lực thị trường có tác động trực tiếp và cùng chiều đến quản lý môi
trường với trọng số Beta = 0.475 và p = 0.000. Kết quả cũng tương tự đối với hậu sản xuất với trọng
số Beta = 0.387 và p = 0.000. Có thể thấy rằng để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, các DN
điện tử Việt Nam chịu áp lực lớn từ thị trường quốc tế và cả trong nước. Tham gia quản lý chuỗi
cung ứng xanh được xem là giải pháp giúp các DN điện tử Việt Nam có được lợi thế cạnh tranh
cũng như đáp ứng các yêu cầu người mua.
4.8.4. Nhận thức xã hội
Với một số cơng trình nghiên cứu về quản lý chuỗi cung ứng xanh trước đây, biến xã hội hồn tồn
có sự ảnh hưởng đến mức độ tham gia của doanh nghiệp. Điều này có thể lý giải khi các doanh
nghiệp điện tử trong nước chỉ tập trung vào việc lắp ráp và thực hiện các dịch vụ thương mại, và
phần lớn quá trình sản xuất đồ điện tử còn đơn giản và chủ yếu dựa vào các thương hiệu nước ngồi.
Do đó, các doanh nghiệp này thường theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận hơn là các mục tiêu xã
hội.
4.8.5. Chiến lược hướng đến hiệu quả
Sau khi thực hiện kiểm định và xây dựng mơ hình, nhóm nghiên cứu thu được biến quan sát chiến
lược hướng đến hiệu quả có tác động lên hoạt động quản lý môi trường doanh nghiệp với trọng số
Beta = 0.113 và p = 0.017 nhỏ hơn 0.05. Điều này có thể được giải thích khi các doanh nghiệp sản
xuất điện tử chỉ đang dừng lại ở bên sản xuất linh kiện để lắp ráp, dẫn đến các doanh nghiệp có xu
hướng hồn thành đạt đủ số lượng cần thiết trên hợp động mà chưa để ý nhiều đến khn xử lý sao
cho vừa tiết kiệm chi phí mà vừa có thể nâng cao doanh thu.
4.9. Đánh giá sự khác biệt về hoạt động quản lý chuỗi cung ứng xanh theo đặc điểm DN
4.9.1. Loại hình doanh nghiệp
Kết quả kiểm định Levene và Welch cho thấy giá trị Sig. của Loại hình doanh nghiệp đối với quản
lý môi trường nhỏ hơn 0,05. Do đó, có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp về mức độ tham
gia vào các hoạt động quản lý môi trường. Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI đã và
đang bắt đầu áp dụng quản lý môi trường, trong khi các doanh nghiệp tư nhân chỉ đang xem xét thực
hiện. Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt về hậu sản xuất giữa các doanh nghiệp nhà nước,
tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi
4.9.2. Quy mơ doanh nghiệp
Kết quả kiểm định cho thấy rằng Sig. của Quy mô doanh nghiệp đối với các hoạt động quản lý chuỗi
cung ứng xanh nhỏ hơn 0,05. Về quản lý môi trường, giá trị trung bình có xu hướng tăng lên theo
quy mơ của doanh nghiệp, tức là doanh nghiệp càng lớn thì mức độ tham gia vào quản lý môi
trường càng cao. Hơn nữa, các doanh nghiệp có quy mơ từ 500 lao động trở lên (doanh nghiệp quy
mô vừa đến lớn) đã bắt đầu triển khai và thực hiện thành công phần hậu sản xuất, còn các doanh
nghiệp nhỏ vẫn đang cân nhắc thực hiện điều này.
Bảng 4.4: Tóm tắt kết quả giả thuyết biến kiểm sốt (Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu)
H7a: Có sự khác biệt theo loại hình DN điện tử về sự tham
Giả thuyết H7
gia của DN điện tử vào quản lý mơi trường
H7b: Có sự khác biệt theo loại hình DN điện tử về sự tham
gia của DN điện tử vào hậu sản xuất
H8a: Có sự khác biệt theo quy mô DN điện tử về sự tham gia
Giả thuyết H8
của DN điện tử vào quản lý môi trường
H8b: Có sự khác biệt theo quy mơ DN điện tử về sự tham gia
của DN điện tử vào hậu sản xuất
Chấp nhận
Loại bỏ
Chấp nhận
Chấp nhận
5. Kết luận và khuyến nghị từ nghiên cứu
5.1. Kết luận
Trong xu hướng xanh hóa nền kinh tế hiện nay, quản lý chuỗi cung ứng xanh giúp cho không chỉ
doanh nghiệp mà cả ngành công nghiệp sản xuất có thể phát triển lâu dài và bền vững. Đối với
ngành sản xuất điện tử - một trong những ngành mũi nhọn trong thời kỳ mới, Việt Nam cần đẩy
mạnh hơn nữa về những hoạt động xanh nhằm tăng khả năng tham gia quản lý chuỗi cung ứng xanh
ở các doanh nghiệp sản xuất điện tử.
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu thấy được có sự khác biệt trong mức độ tham gia mơ hình quản lý chuỗi
cung ứng xanh xét trên hai biến kiểm sốt đó là loại hình và quy mô doanh nghiệp. Ứng với mỗi một
loại hình, quy mơ, doanh nghiệp sẽ tham gia mơ hình theo chính khả năng của họ. Thứ hai, sau khi
nhóm thực hiện kiểm định đã thấy được biến Áp lực cung cấp sẽ tác động ngược chiều lên hoạt
động quản lý mơi trường, cịn nhóm biến Nhận thức xã hội sẽ tác động ngược chiều lên hậu sản
xuất. Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng áp lực từ phía xã hội và nhà cung cấp sẽ càng kìm hãm
thậm chí đẩy lùi sự tham gia của doanh nghiệp vào mơ hình quản lý chuỗi cung ứng xanh. Cịn với
nhóm biến Quy định mơi trường, Áp lực thị trường và Động lực chiến lược hướng đến hiệu quả có
tác động đến hoạt động quản lý môi trường và hậu sản xuất, tuy có sự khác biệt ở mức độ ảnh
hưởng. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng những khuyến nghị dựa trên những nhóm biến này để
với mục tiêu đẩy mạnh sự tham gia mơ hình quản lý chuỗi cung xanh của doanh nghiệp.
5.2. Khuyến nghị
5.2.1. Đối với các doanh nghiệp
Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) cần phát huy vai trị của mình trong việc vận
động, tuyên truyền các doanh nghiệp áp dụng công nghệ và quy trình sản xuất thân thiện với mơi
trường, vì kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tham gia GSCM sẽ tăng lên khi tăng động lực chiến
lược hướng tới hiệu quả của doanh nghiệp. Do đó, việc giúp nâng cấp công nghệ sẽ định hướng rõ
ràng chiến lược hướng tới hiệu quả của doanh nghiệp.
Ngoài ra, các nhà quản lý cần thuyết phục các doanh nghiệp mẹ cho phép các doanh nghiệp sản xuất
điện tử tại Việt Nam tham gia vào hệ thống quản lý chuỗi cung ứng xanh của họ như một trong
những thành phần của toàn chuỗi trong thiết kế sinh thái xanh, hậu cần ngược hoặc thu hồi đầu tư, từ
đó tạo cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất điện tử tại Việt Nam tiếp cận mơ hình quản lý chuỗi
cung ứng xanh. Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể giảm bớt áp lực từ nhà cung cấp và tăng sức ép
cạnh tranh trên thị trường.
5.2.2. Đối với Nhà nước
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy các quy định về môi trường là một trong những động lực quan
trọng nhất khuyến khích các doanh nghiệp điện tử tham gia GSCM. Hơn nữa, có sự khác biệt giữa
các loại hình kinh doanh, điều này đã cho thấy rằng các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà
nước có nhiều khả năng áp dụng các thơng lệ về mơi trường hơn. Do đó, chính phủ Việt Nam cần
xây dựng chính sách pháp luật để giúp các doanh nghiệp sản xuất điện tử, trong đó phần lớn là
doanh nghiệp FDI nước ngồi rót vốn vào Việt Nam thực hiện chiến lược xanh để tạo tiền đề cho
các doanh nghiệp sau tham gia mơ hình quản lý chuỗi cung ứng xanh. Cùng với đó, chính phủ có thể
cung cấp các khoản trợ cấp xanh như ưu đãi thuế, hỗ trợ giá, hỗ trợ vốn vay và trợ cấp trực tiếp, vì
đây sẽ là địn bẩy mạnh mẽ cho q trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Ngồi ra, chính phủ nên
hạn chế trợ cấp và chi tiêu trong các lĩnh vực làm cạn kiệt nguồn vốn tự nhiên. Nhà nước có thể áp
dụng các biện pháp như tăng cường các hoạt động đẩy mạnh tuyên truyền vận động thông qua các
chương trình, hội thảo riêng để phát triển chuỗi cung ứng xanh trong doanh nghiệp điện tử.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ballou, R.H., Gilbert, S.M. and Mukherjee, A. (2000). New Managerial Challenges from Supply
Chain Opportunities. Industrial Marketing Management, 29(1), pp.7–18.
Barney, J. (1991). Firm Resources and Sustained Competitive Advantage. Journal of Management,
17(1), pp.99–120.
Bowen, F.E. (2002). Organizational Slack and Corporate Greening: Broadening the Debate. British
Journal of Management, 13(4), pp.305–316.
BOWEN, F.E., COUSINS, P.D., LAMMING, R.C. and FARUKT, A.C. (2009). THE ROLE OF
SUPPLY MANAGEMENT CAPABILITIES IN GREEN SUPPLY. Production and Operations
Management, 10(2), pp.174–189.
Cannon, J.P. and Homburg, C. (2001). Buyer–Supplier Relationships and Customer Firm Costs.
Journal of Marketing, 65(1), pp.29–43.
Chiou, T.-Y., Chan, H.K., Lettice, F. and Chung, S.H. (2011). The influence of greening the
suppliers and green innovation on environmental performance and competitive advantage in Taiwan.
Transportation Research Part E: Logistics and Transportation Review, 47(6), pp.822–836.
Donaldson, L. and Davis, J.H. (1991). Stewardship Theory or Agency Theory: CEO Governance
and Shareholder Returns. Australian Journal of Management, [online] 16(1), pp.49–64. Available at:
/>Dương Văn Bảy (2019). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của các doanh nghiệp
vào quản lý chuỗi cung ứng xanh. Luận án tiến sĩ.
Dutta, S., Lawson, R. and Marcinko, D. (2012). Paradigms for Sustainable Development:
Implications of Management Theory. Corporate Social Responsibility and Environmental
Management, 19(1), pp.1–10.
Fl, E.M., R Edward Freeman, Harrison, J.S., Wicks, A.C., Parmar, B.L. and Simone De Colle
(2010). Stakeholder Theory: The State of the Art. Cambridge University Press.
Freeman, R.E. (1984). Strategic Management: A Stakeholder Approach. Boston: Pitman.
Gottberg, A., Morris, J., Pollard, S., Mark-Herbert, C. and Cook, M. (2006). Producer responsibility,
waste minimisation and the WEEE Directive: Case studies in eco-design from the European lighting
sector. Science of The Total Environment, 359(1-3), pp.38–56.
Hart, O. (1995a). Corporate Governance: Some Theory and Implications. The Economic Journal,
105(430), pp.678–689.
Hart, S.L. (1995b). A Natural-Resource-Based View of the Firm. The Academy of Management
Review, 20(4), p.986.
Hồ Lê Nghĩa (2011). Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân.
Huang, X., Hu, Z., Liu, C., Yu, D. and Yu, L. (2016). The relationships between regulatory and
customer pressure, green organizational responses, and green innovation performance. Journal of
Cleaner Production, 112, pp.3423–3433.
Huang, Y.-C., Huang, C.-H. and Yang, M.-L. (2017). Drivers of green supply chain initiatives and
performance. International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, 47(9),
pp.796–819.
Klassen, R.D. and Whybark, D.C. (1999). The Impact of Environmental Technologies on
Manufacturing Performance. Academy of Management Journal, 42(6), pp.599–615.
Lewis, J., H. and Gretsakis (2001). Design + Environment: A Global Guide to Designing Greener
Goods. Greenleaf Publishing, Sheffield.
Mahoney, J.T. and Pandian, J.R. (1992). The resource-based view within the conversation of
strategic management. Strategic Management Journal, [online] 13(5), pp.363–380. Available at:
/>McCuddy, M.K. and Pirie, W.L. (2007). Spirituality, stewardship, and financial decision ‐making.
Managerial Finance, 33(12), pp.957–969.
Melnyk, S.A., Sroufe, R.P., Calantone, R.L. and Montabon, F.L. (2002). Assessing the effectiveness
of US voluntary environmental programmes: An empirical study. International Journal of Production
Research, 40(8), pp.1853–1878.
Menguc, B. and Ozanne, L.K. (2005). Challenges of the “green imperative”: a natural resourcebased approach to the environmental orientation–business performance relationship. Journal of
Business Research, 58(4), pp.430–438.
Mirvis, P., Googins, B., Kinnicutt and S. (n.d.). Vision, mission, values. Organizational Dynamics,
39(4), pp.316–324.
Mitra, S. (2014). A Framework for Research on Green Supply Chain Management. Supply Chain
Forum: An International Journal, 15(1), pp.34–51.
Ngọc, L. M., Trang and L. H. (2011). Một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển các cụm liên kết ngành
tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Nghiên cứu kinh tế số, 396, pp.41–50.
Nguyễn T. Đ. Nguyên and Nguyễn T. H. Mai. (2020). Kinh nghiệm quản lý chuỗi cung ứng của
doanh nghiệp điện tử tại Việt Nam: Vai trò của các thành phần chia sẻ thơng tin. Tạp chí Khoa học
Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), pp.108–125.
Oliver, C. (1991). Strategic Responses to Institutional Processes. The Academy of Management
Review, 16(1), p.145.
Prajogo, D.I, Hong and S.W (2008). The effect of TQM on performance in R & D environment: A
perspective from South Korean firms. Technovation, 28, pp.855–863.
Ram Bhool (2013). AN ANALYSIS OF DRIVERS AFFECTING THE IMPLEMENTATION OF
GREEN SUPPLY CHAIN MANAGEMENT FOR THE INDIAN MANUFACTURING
INDUSTRIES. International Journal of Research in Engineering and Technology, 02(11), pp.242–
254.
Rao, P. (2002). Greening the supply chain: a new initiative in South East Asia. International Journal
of Operations & Production Management, 22(6), pp.632–655.
Rogers, D.S., Tibben-Lembke, R.S. and Reno, N. (1999). Going backwards: reverse logistics trends
and practices. Reno? Reverse Logistics Executive Council, Cop.
Sheth, J.N. and Sharma, A. (1997). Supplier relationships: Emerging issues and challenges.
Industrial Marketing Management, 26(2), pp.91–100.
Simpson, D.F. and Power, D.J. (2005). Use the supply relationship to develop lean and green
suppliers. Supply Chain Management: An International Journal, 10(1), pp.60–68.
Srivastava, S.K. (2007). Green supply-chain management: A state-of-the-art literature review.
International Journal of Management Reviews, 9(1), pp.53–80.
Swapnil V. Ghinmine (2015). IMPLEMENTATION OF GREEN MANUFACTURING IN
INDUSTRY - A CASE STUDY. International Journal of Research in Engineering and Technology,
04(04), pp.42–45.
Tài and N. Đ. (2013). Hình thành và phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam: Một lựa chọn chính
sách. Cổng thơng tin kinh tế Việt Nam - Viện quản lý kinh tế Trung Ương [Online]. Available at:
/>nganh-o-Viet-Nam-Mot-so-lua-chon-chinh-sach.html.
Tsoulfas, G.T. and Pappis, C.P. (2006). Environmental principles applicable to supply chains design
and operation. Journal of Cleaner Production, 14(18), pp.1593–1602.
Vachon, S. and Klassen, R.D. (2006). Extending green practices across the supply chain.
International Journal of Operations & Production Management, 26(7), pp.795–821.
Walker, S., van der Ryn, S., & Cowan, S. (2007). Ecological Design. Design Issues, 13(3), 87.
/>Yang, J., Han, Q., Zhou, J. and Yuan, C. (2015). The Influence of Environmental Management
Practices and Supply Chain Integration on Technological Innovation Performance—Evidence from
China’s Manufacturing Industry. Sustainability, 7(11), pp.15342–15361.
Zhu, Q. and Sarkis, J. (2004). Relationships between operational practices and performance among
early adopters of green supply chain management practices in Chinese manufacturing enterprises.
Journal
of
Operations
Management,
[online]
22(3),
pp.265–289.
Available
at:
/>Zhu, Q.H and Sarkis (2006). An inter-sectoral comparison of green supply chain management in
China: drivers and practices. Journal of Cleaner Production, 14(5), pp.472–486.
Zhu, Q. and Sarkis, J. (2006). An inter-sectoral comparison of green supply chain management in
China: Drivers and practices. Journal of Cleaner Production, 14(5), pp.472–486.
Zhu, Q., Sarkis, J. and Lai, K. (2008). Confirmation of a measurement model for green supply chain
management practices implementation. International Journal of Production Economics, 111(2),
pp.261–273.
Yang, J., Han, Q., Zhou, J. and Yuan, C. (2015). The Influence of Environmental Management
Practices and Supply Chain Integration on Technological Innovation Performance—Evidence from
China’s Manufacturing Industry. Sustainability, 7(11), pp.15342–15361.
PHỤ LỤC
1. Mơ hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết và phỏng vấn sâu
1.1. Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của DN điện tử vào quản lý chuỗi cung
ứng xanh
Biến
Hệ thống
Nội dung thang đo
Viết tắt
Nguồn
Quản lí tổng thể chất lượng mơi trường
thang đo
HTQL1
Dương Văn Bảy,
quản lí
(HTQL)
2019; Zhu and
Áp dụng hệ thống quản lí mơi trường nội bộ
HTQL2
Sarkis, 2006
Thực hiện chương trình kiểm sốt đảm bảo an tồn HTQL3
mơi trường
Đã có chứng nhận quản lí mơi trường quốc tế
HTQL4
Mua xanh
Đưa ra các tiêu chí về mơi trường cho bên cung
MX1
(MX)
cấp
Mục tiêu vì mơi trường cùng với nhà cung cấp
MX2
Kiểm sốt mơi trường đối với quản lí nội bộ của
MX3
nhà cung cấp
Nhà cung cấp đạt chuẩn ISO 14001:2015
MX4
Đánh giá mức độ thân thiện môi trường của nhà
MX5
cung cấp và sản phẩm
Thiết kế sản phẩm tiêu thụ ít năng lượng, ngun
TK1
liệu thơ
Thiết kế sản phẩm có thể tái chế / tái sử dụng
TK2
Thiết kế sản phẩm giảm thành phần độc hại
TK3
Bán hàng tồn kho, vật liệu thừa
PHĐT1
Bán phế liệu đã qua sử dụng
PHĐT2
Bán thiết bị vốn dư thừa
PHĐT3
Thiết kế
sinh thái
(TK)
Phục hồi
2019; Samir K.
Srivastava, 2007;
Hassan Younis và
cộng sự, 2016
Hassan Younis và
cộng sự, 2016;
đầu tư
(PHĐT)
Dương Văn Bảy,
Wan Hasrulnizzam
Wan Mahmood,
2013
Dương Văn Bảy,
2019; Do Anh
Duc, 2020
Giao vận
Thu mua sản phẩm đã qua sử dụng để tái chế
GVN1
ngược
Srivastava, 2007;
Thu mua bao bì đã qua sử dụng để tái chế / tái sử
GVN2
dụng
Giao trả bao bì cho nhà cung cấp để tái chế / tái sử
GVN3
dụng
Yêu cầu nhà cung cấp thu mua lại bao bì
GVN4
Giao trả sản phẩm cho nhà cung cấp để tái chế
GVN5
Quy định
Tối thiểu hóa rủi ro/khơng vi phạm các quy định
QDMT1
mơi trường
mơi trường
Cơng ty mẹ quy định về các tiêu chuẩn mơi trường
QDMT2
Chính phủ thường xuyên kiểm tra, đảm bảo tuân
QDMT3
thủ quy định mơi trường
Các chính sách ưu đãi tài chính của các tổ chức
QDMT4
quốc tế
Chính phủ ban hành nhiều quy định, chính sách về
QDMT5
môi trường
Quy định hiện hành của các nước nhập khẩu
QDMT6
Áp lực nhà
Bước tiến của nhà cung cấp trong sản phẩm thân
ALCC1
cung cấp
thiện môi trường
Tiến bộ nhà cung cấp trong phát triển bao bì thân
ALCC2
thiện với mơi trường
Hợp tác với các nhà cung cấp về môi trường
ALCC3
(GVN)
(QDMT)
(ALCC)
Samir K.
M.K.Chien, 2007
Zhu và Sakis,
2006; Handfield
và cộng sự, 1997;
Gottberg và cộng
sự, 2006
Sheth và Sharma,
1997; Cannon và
Homburg, 2001;
Gunasekaran và
cộng sự, 2008;
Hart, 1995;
Áp lực cạnh
Sáng kiến xanh được nhiều doanh nghiệp áp dụng
ALCT1
tranh
(ALCT)
Lippman, 1999
Dosi và cộng sự,
2010; Dosi và
Marketing tạo được lợi nhuận từ sáng kiến xanh
ALCT2
Sáng kiến xanh mang lại lợi ích trong việc vận
ALCT3
hành
Hình ảnh trong doanh nghiệp được phổ biến nhờ
ALCT4
sáng kiến xanh
cộng sự, 1997;
Bottazzi và cộng
sự, 2010; Marengo
và cộng sự, 2012;
Carter và Ellram,
Các doanh nghiệp tin rằng sáng kiến xanh là cách
ALCT5
1998; Zhu và cộng
tốt nhất đạt mục tiêu kinh doanh
sự, 2008; Hart,
Áp lực
Khách hàng chính ln cân nhắc vấn đề mơi
1995.
Do Anh Duc,
người mua
trường
Khách hàng chính u cầu doanh nghiệp có hệ
ALNM2
thống quản lí mơi trường
Khách hàng chính quan tâm đến hoạt động xanh
ALNM3
hóa của doanh nghiệp
Khách hàng chính hỗ trợ kỹ thuật / đào tạo về môi
ALNM4
trường cho doanh nghiệp
Áp lực trong việc xây dựng nhãn hàng xanh
ALCĐ1
(ALNM)
Áp lực cộng
ALNM1
2020; Xianbing
đồng
(ALCD)
Liu và cộng sự,
2012; Ram Bhool,
2013
Nguyễn và cộng
sự, 2014; Đỗ và
Áp lực trong việc gây dựng hình ảnh doanh nghiệp
ALCĐ2
xanh
Áp lực trong nhận thức về môi trường của xã hội
ALCĐ3
tăng lên
cộng sự, 2020; Đỗ
và Lưu, 2019.
Chiou và cộng sự
2011
Huang và cộng sự
2016
Rao 2006; Knopf
và cộng sự,
Trách
Trách nhiệm tối thiểu hóa các tác hại tiêu cực đến
TNXH1
nhiệm xã
môi trường
Nâng cao ý thức bảo vệ mơi trường
TNXH2
Cân nhắc về lợi ích mơi trường
TNXH3
Sức khỏe, an toàn của xã hội được quan tâm hơn
TNXH4
hội (
TNXH)
Cam kết của Cam kết từ các nhà quản lí cấp cao doanh nghiệp
nhà quản lí
(NQL)
2011; Wall 1995
Theo nhóm nghiên
cứu dựa trên thực
NQL1
trạng hiện nay
Mirvis và cộng sự
tiến hành
Cam kết của quản lí cấp trung doanh nghiệp
NQL2
cộng sự, 2015;
Các bộ phận chức năng của doanh nghiệp hợp tác
NQL3
Huang và cộng sự,
cải thiện môi trường
2010; Chen và
2017
Hiệu quả
Giảm chất thải nói chung
HQMT1
mơi trường
(HQMT)
Hiệu quả
2019; Zhu and
Giảm tiêu thụ các vật liệu có hại
HQMT2
Ngăn ngừa rủi ro môi trường
HQMT3
Cải thiện điều kiện, môi trường làm việc của
HQMT4
doanh nghiệp
Tăng tỷ lệ giao hàng đúng thời hạn
HQHĐ1
hoạt động
(HQHD)
Dương Văn Bảy,
Sarkis, 2006
Melnick và cộng
sự; Zhu và cộng
Giảm hàng tồn kho
HQHĐ2
Giảm tỉ lệ phế liệu
HQHĐ3
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
HQHĐ4
sự, 2008.
Dương Văn Bảy,
2019.
Min và Gale,
2001.
Hiệu quả
Tạo ra nhiều dòng sản phẩm khác nhau
HQHĐ5
Giảm tối đa chi phí tiêu thụ năng lượng
HQKT1
kinh tế
(HQKT)
Tsoulfas và
Pappis, 2006;
Giảm phí chất thải
HQKT2
Tăng đầu tư
HQKT3
Tăng chi phí mua nguyên vật liệu "xanh"
HQKT4
Green và cộng sự,
2012;
Zhu và cộng sự,
2012;
Prajogo D và cộng
sự, 2008.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Kiểm định Cronbach's Alpha chung các biến
Nhân tố
HTQL
MX
TK
PHDT
GVN
QDMT
ALCC
ALCT
ALNM
Số biến
4
5
3
3
5
6
3
5
4
Hệ số Cronbach’s Alpha
.817
.844
.867
.872
.858
.889
.882
.814
.893
NQL
TNXH
ALCD
HQHD
HQMT
HQKT
3
4
3
5
5
4
.810
.747
.843
.839
.908
.911
2.2. Kết quả EFA nhóm biến phụ thuộc
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
.949
Adequacy.
Bartlett's Test
Approx. Chi-Square
7380.8
df
Sig.
05
136
.000
of
Sphericity
Total Variance Explained
Factor
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared
Rotation
Loadings
Sums of
Squared
Loadings
a
Total
% of
Cumulative Total
Varianc %
1
9.650
e
56.766
2
1.935
11.384
68.150
3
.749
4.407
72.557
4
.619
3.642
76.200
5
.504
2.965
79.164
6
.447
2.631
81.795
7
.412
2.424
84.219
8
.395
2.325
86.544
9
.361
2.125
88.670
10
.340
1.999
90.668
% of
Cumulative
Variance
%
Total
56.766
9.650 56.766
56.766
8.803
1.935 11.384
68.150
7.477