Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

TIỂU LUẬN PHONG CÁCH TIẾNG VIỆT PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (150.83 KB, 12 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

BÀI TẬP LỚN
Học phần

PHONG CÁCH TIẾNG VIỆT

TÊN ĐỀ TÀI:
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

THÁNG 8 NĂM 2021


2

MỤC LỤC
Nội dung
Mở đầu
Nội dung 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Trang
2
3

1.2. Khái niệm
1.2. Các biến thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1.3. Chức năng ngôn ngữ của phong cách sinh hoạt
1.4. Đặc trưng chung của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1.5. Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách sinh hoạt


4

Nội dung 2: Chọn hai văn bản trong SGK Tiếng Việt ở tiểu học, hãy
chỉ ra những dấu hiệu của phong cách ngơn ngữ sinh hoạt và phân tích
giá trị của chúng trong văn bản đó.

6

Kết luận
Tài liệu tham khảo

10
11


3

MỞ ĐẦU
Trong cuộc trong mọi sinh hoạt của chúng ta hằng ngày ta, dùng để thông tin, trao đổi ý
nghĩ, tình cảm,… hay một vân đề đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống. Nói đến ngơn ngữ
là nói đến cơng cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Có ngơn ngữ thì mới có quan hệ xã hội
và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngơn ngữ. Hằng ngày, người Việt Nam ta nói với
nhau bằng tiếng Việt và cũng hằng ngày, báo chí, đài phát thanh, truyền hình và các thơng tin
đại chúng của chúng ta phát ra khắp thế giới chữ viết, tiếng nói giàu đẹp của chúng ta. Tiếng
nói ấy lâu đời như dịng giống của chúng ta, nó đã trở nên thứ “Của cải vô cùng quý báu”của
dân tộc của chúng ta
Để nâng cao năng lực ngôn ngữ giao tiếp cho học sinh tiểu học chính là nhiệm vụ quan
trọng của cơng tác phát triển ngôn ngữ, chuẩn bị cho học sinh tham gia cuộc sống. Giao tiếp
ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các thành tố ngôn ngữ được xem là mã lời nói là thơng
báo cụ thể, ngơn ngữ là cái tiềm tàng và qua giao tiếp , cái tiềm tàng đó sẽ được hiện thực

hố và phát triển. Giao tiếp ngơn ngữ như một hình thức ngơn ngữ tham gia vào cuộc sống sẽ
là yếu tố trung gian để con người truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm cuộc sống. Khi được
người giáo viên nâng cao năng lực ngơn ngữ, học sinh sẽ lấy đó làm nền tảng khi giao tiếp
ngoài xã hội một cách trực tiếp (đối thoại, hội thoại,..) và gián tiếp (viết văn, viết đơn từ,…)
và cũng từ đó năng lực ngơn ngữ của các em ngày càng được nâng cao và phát triển.
Ý nghĩa hiện nay trong chương trình sách giáo khoa mới, ngồi việc cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt các em học sinh cũng đã được tiếp xúc và cảm thụ
qua các tác phẩm văn, thơ truyện cười, bởi khi bước chân vào ngưỡng cửa bậc tiểu học các
em đã có một ít vốn liếng của Tiếng Việt, các em bắt đầu học chữ, học viết và tập phát âm
đúng, chuẩn Tiếng Việt từ đó các em dần dần cảm nhận về giá trị nghệ thuật trong tác phẩm,
thấm nhuần ý nghĩa giáo dục, tăng thêm niềm vui, niềm tự hào và tình yêu trong mỗi cá nhân
các em. Biện pháp nghệ thuật xuất hiện trong các tác phẩm ở tiểu học với một mục tiêu rất
lớn đó là cung cấp cho học sinh những giá trị đạo đức, nhân văn mà tác giả muốn gửi đến và
qua đó tơ điểm thêm cho vẻ đẹp của văn bản làm cho học sinh thêm phần lôi cuốn khi tiếp
xúc với nội dung văn bản.


4

NỘI DUNG
Nội dung 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1.1.

Khái niệm:
Phong cách sinh hoạt là dạng thích hợp để xây dựng lớp phát ngơn trong đó thể hiện vai

trị của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày. Nói một cách cụ thể hơn thì đó là
vai của những người trong gia đình, trong dịng họ, bà con láng giếng, hàng xóm, đồng
hương, đồng mơn, đồng nghiệp,… Tức là của tất cả những ai với tư cách cá nhân nhằm trao
đổi tư tưởng, tình cảm, tâm sự của mình với những người khác.

Phương thức tồn tại chủ yếu của phong cách sinh hoạt, đó là phương thức nói. Chính vì
vậy mà người ta cịn gọi phong cách sinh hoạt là phong cách hội thoại, phong cách khẩu ngữ.
Ví dụ: Về câu ca dao:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lịng nhau
+ Đây là một lời khuyên của nhân ta về cách thức nói năng. Lời nói tuy “chẳng mất
tiền mua” nhưng khơng phải cứ nói tùy tiện theo suy nghĩ và theo ý thích.
=> Bài học rút ra: khi nói phải quan tâm đến hồn cảnh, đến thứ bậc của mình và
người nghe, đến mục đích của cuộc giao tiếp, lời nói nên đơn giản.

1.2. Các biến thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
- Phong cách sinh hoạt tự nhiên:
Biến thể này được hình thành một cách tự nhiên, tự phát, tự do. Cho nên, nhìn chung
là khơng cần phải chuẩn bị trước về nội dung, về ngơn ngữ. Vì vậy nó có thể sử dụng tất cả
các phương tiện ngơn ngữ có được, kể cả các yếu tố ngơn ngữ ngồi ngơn ngữ văn hóa như
tiếng lóng, tiếng tục, tiếng địa phương,… Thế cho nên người ta còn gọi biến thể tự nhiên này
là phong cách sinh hoạt thông tục.
VD: phần nghi thức Chào cờ đầu tuần; hay Lễ truy điệu,…( tất cả phải nghiêm trang
với thái độ tơn kính, phút mật niệm để tuưởg nhớ…)


5

1.3. Chức năng ngôn ngữ của phong cách sinh hoạt
- Giao tiếp lý trí:
Chức năng này là nhằm trau dồi tư tưởng, tình cảm, tâm sự trong sinh hoạt với nhau và
ngồi ra người ta cịn mở rộng đến nhiều vấn đề, nhiều nội dung khác nữa.
Ví dụ: Thầy ơi ! cho em xin phép nghỉ học một buổi nhé !.
- Chức năng biểu cảm:
Ngồi nhu cầu thơng báo, thơng tin ra thì trong sinh hoạt người ta cịn cần đến nhu cầu biểu

cảm (bày tỏ thái độ, tình cảm).
Ví dụ: Khuyên con : nhẹ nhàng hoặc Mắng con

:giận giữ.

Hoặc khi gọi bạn : Hà ơi! (giọng nhẹ nhàng bình thường)
Thái độ khi giận giữ, la mắng:
VD: “Hắn hầm hầm, chĩa vào mặt mụ bảo rằng:
- Cái giống nhà mày khơng ưa nhẹ! Ơng mua chứ ơng có xin của nhà mày đâu! Mày tưởng
ông quỵt hở? Mày thử hỏi cả làng xem ơng có quỵt của đứa nào bao giờ khơng?...”
(Chí Phèo - Nam Cao)

1.4. Đặc trưng chung của phong cách ngơn ngữ sinh hoạt
- Tính cá thể:
Đặc trưng này được biểu hiện ở những dấu hiệu cá nhân của từng người. Có bao nhiêu
người nói thì có bấy nhiêu dáng điệu riêng nhất là ở trong ngôn ngữ nói. Đặc điểm này thể
hiện ở rất nhiều khía cạnh như tâm lý, sinh lý, vật lý, trình độ văn hóa, thói quen, nghề
nghiệp, địa phương,… của mỗi người trong mỗi hồn cảnh.
- Tính cụ thể:
Nhìn chung, hồn cảnh trong giao tiếp sinh hoạt là trực tiếp đối thoại cho nên người nói
và người nghe phải ln đổi vai cho nhau. Người ta cần phải cụ thể trong lời nói để có thể hiểu
nhau một cách chính xác, đầy đủ và nhanh chóng.
VD: Về câu ca dao;
Vàng thì thử lửa, thử than


6

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
+ Đây là một kinh nghiệm sống. Một trong những tiêu chí để đánh giá một con người là qua

lời ăn tiếng nói. Người ngoan là người ăn nói khiêm nhường, nhã nhặn, biết “kính trên
nhường dưới”.
- Tính cảm xúc:
Trong lời nói sinh hoạt thường mỗi một lời nói được tạo ra đều kèm theo một tình cảm,
thái độ, sự đánh giá đến đối tượng được nói đến và đến người nghe. Đó chính là tính cảm
xúc.
VD: Hồn cảnh bạn ấy thật đáng thương! Tội cho bạn đó quá! (cảm xúc đồng cảm với
bạn,biết chia sẻ…)
Hoặc: Mẹ thật tuyệt vời! (nhận xét về đối tượng được nói đến và đến người nghe).

1.5. Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách sinh hoạt
Phương thức tồn tại chủ yếu của phong cách sinh hoạt là nói. Vì vậy, đặc điểm về mặt
ngơn ngữ cũng khác đối với các phong cách khác.
- Về mặt ngữ âm:
+ Các dấu hiệu ngữ âm trong ngôn ngữ sinh hoạt là rất quan trọng nhất là ngữ điệu
(“Ngữ điệu là điệu bộ âm thanh” – Bally).
+ Người ta có thể dùng các biến thể ngữ âm địa phương để góp phần thể hiện sắc thái
địa phương hoặc bộc lộ cảm xúc, hay là một nhu cầu, một dụng ý nào đó.
VD: Lối xóm (tiếng Nam Bộ): hàng xóm
Rứa (tiếng Trung Bộ): thế, như thế
Ri (tiếng Trung Bộ):thế này, như thế này.
Chớ (tiếng Nam Bộ): chứ
- Về mặt từ ngữ:
+ Phong cách sinh hoạt hay sử dụng những lớp từ ngữ mang tính cụ thể, hình ảnh, cảm
xúc.


7

+ Phong cách sinh hoạt cũng hay sử dụng các từ láy, từ cảm thán, từ ngữ “khí”.

+ Ngơn ngữ sinh hoạt cũng hay sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, qn ngữ,…
+ Trong ngơn ngữ sinh hoạt cũng có các hiện tượng nói tắt (bỏ bớt từ ngữ). Có những
cách nói tắt đã trở thành chuẩn, nhất là tên của các tổ chức liên kết hay tài trợ.
+ Ngôn ngữ sinh hoạt có thể sử dụng những cách kết hợp từ rất đặc biệt, bất quy tắc.
Ví dụ: đẹp dã man, đẹp mê ly quằn quại, hơi bị đẹp,…
Ví dụ: đẹp quá trời, đẹp thấy ghê, đẹp dữ dằn, xấu như con mắm….
Hoặc: mệt thấy mồ, mệt thấy bà cố, mệt thấy sợ….
- Về mặt cú pháp:
Nhìn chung, cú pháp trong ngơn ngữ sinh hoạt có thể là tất cả các kiểu câu, tất cả các
kiểu lời nói trong tiếng Việt. Từ những câu có cấu trúc đầy đủ thành phần cho đến những câu
thiếu thành phần, thậm chí là những câu sai.
Tóm lại, cú pháp trong ngơn ngữ sinh hoạt rất đa dạng và biến hóa rất linh hoạt.
- Về mặt tu từ:
Phong cách sinh hoạt rất ưa sử dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,
phóng đại, chơi chữ,…
Ví dụ: xinh như hoa hậu, hiền như cụt đất, chậm như rùa, nhanh như cắt, hiền như
cục cơm nguội, đẹp như tiên,…

Nội dung 2: Chọn hai văn bản trong SGK Tiếng Việt ở tiểu học, hãy chỉ ra những
dấu hiệu của phong cách ngơn ngữ sinh hoạt và phân tích giá trị của chúng trong
văn bản đó.
Tập đọc (Lớp 5)
TIẾNG RAO ĐÊM
Gần như đêm nào tôi cũng nghe thấy tiếng rao ấy: “Bánh… giò… ò… ò…!” Tiếng rao
đều đều, khàn khàn kéo dài trong đêm khuya tĩnh mịch, nghe buồn não ruột.Rồi một đêm,
vừa thiếp đi, tơi bỗng giật mình vì những tiếng la: “Cháy! Cháy nhà!”…Ngôi nhà đầu hẻm
đang bốc lửa phừng phừng. Tiếng kêu cứu thảm thiết vọng lại. Trong ánh lửa, tôi thấy một


8


bóng người cao, gầy, khập khiễng chạy tới ngơi nhà cháy, xô cánh cửa đổ rầm. Mấy người
trong nhà vọt ra, khung cửa ập xuống, khói bụi mịch mù…
Rồi từ trong nhà, vẫn cái bóng cao, gầy, khập khiễng ấy lom khom như đang che chở vật gì,
phóng thẳng ra đường. Qua khỏi thềm nhà, người đó vừa té quỵ thì một cây rầm sập xuống.
Mọi người xơ đến. Ai nấy bàng hồng vì trong cái bọc chăn cịn vương khói mà người ấy
đang ơm khư khư là một đứa bé mặt mày đen nhẻm, thất thần, khóc khơng thành tiếng. Mọi
người khiêng người đàn ông ra xa. Người anh mềm nhũn. Người ta cấp cứu cho anh. Ai đó
thảng thốt kêu: “Ô… này!”, rồi cầm cái chân cứng ngắc của nạn nhân giơ lên: Thì ra là một
cái chân gỗ!
Người ta lần tìm tung tích nạn nhân. Anh cơng an lấy ra từ túi áo nạn nhân một mớ giấy tờ.
Ai nấy bàng hoàng khi thấy trong xấp giấy một tấm thẻ thương binh. Bây giờ người ta mới
để ý tới chiếc xe đạp nằm lăn lóc ở góc tường và những chiếc bánh giị tung tóe… Thì ra
người bán bánh giị là một thương binh. Chính anh đã phát hiện ra đám cháy, đã báo động và
cứu một gia đình.
Vừa lúc đó, chiếc xe cấp cứu ào tới chở nạn nhân đi…
Theo Nguyễn Lê tín Nhân
-Phong cách sinh hoạt:
+Giao tiếp lí trí: Nghe tiếng rao : “Bánh …giị…ị..ị…!”
+Biểu cảm:Cháy! Cháy nhà!…
-Đặc trưng chung của phong cách sinh hoạt:
+Tính cá thể:một bóng người cao gầy, khập khiễng chạy tới ngôi nhà cháy…
Mấy người trong nhà vọt ra, mọi người xơ tới, mọi người khiêng người đàn ơng ra…
+Tính cụ thể:là nội dung bài nói về một người thương binh bán bánh giò lao vào đám cháy
cứu em nhỏ.


9

+Tính cảm xúc:nghe tiếng rao buồn não ruột.Tiếng kêu cứu thảm thiết, mọi người bàng

hoàng khi phát hiện người cứu em nhỏ là thương binh.
-Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách sinh hoạt:
+Ngữ âm:vọt ra, đen nhẻm, mềm nhũn, lăn lóc.
+Từ ngữ:đa dạng, kết hợp tự do:não ruột,thảm thiết,lom khom,té quỵ, xô đến.
+Cú pháp:Sử dụng câu kể, câu cảm.
+Biện pháp tu từ:So sánh:Lom khom như che chở vật gì.
+Sử dụng cá biện pháp: So sánh, ẩn dụ.

Con sẻ (Lớp 4)
Tôi đi dọc lối vào vườn. Con chó chạy trước tơi. Chợt nó dừng chân và bắt đầu bị, tuồng
như đánh hơi thấy vật gì. Tơi nhìn dọc lối đi và thấy một con sẻ non mép vàng óng, trên đầu
có một nhúm lơng tơ. Nó rơi từ trên tổ xuống.
Con chó chậm rãi lại gần. Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ ức đen nhánh
lao xuống như hịn đá rơi trước mõm con chó. Lơng sẻ già dựng ngược, miệng rít lên tuyệt
vọng và thảm thiết. Nó nhảy hai ba bước về phía cái mõm há rộng đầy răng của con chó.
Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con. Giọng nó yếu ớt nhưng hung dữ và
khản đặc. Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ. Nó sẽ hi sinh. Nhưng một sức
mạnh vơ hình vẫn cuốn nó xuống đất.
Con chó của tơi dừng lại và lùi... Dường như nó hiểu rằng trước mặt nó có một sức mạnh.
Tơi vội lên tiếng gọi con chó đang bối rối ất tránh ra xa, lòng đầy thán phục.
Vâng, lịng tơi đầy thán phục, xin bạn đừng cười. Tơi kính cẩn nghiêng mình trước con
chim sẻ bé bỏng dũng cảm kia, trước tình u của nó.


10

Theo TUỐC-GHÊ-NHÉP
-Phong cách sinh hoạt:
+Chức năng lí trí: Tơi và chú chó đi vào vườn bỗng gặp một con Sẻ con.Bỗng một con sẻ già
lao xuống cứu con sẻ con.

+Chức năng biểu cảm: Tơi vội lên tiếng gọi con chó.
-Đặc trưng chung của phong cách sinh hoạt:
+Tính cá thể: con chó chậm rãi, chim mẹ lao xuống, tơi lên tiếng gọi.
+Tính cụ thể:Là nội dung nói về sự kính phục của tác giả đối với chim Sẻ đã hết lòng bảo vệ
con của mình.
+Tính cảm xúc: Lịng đầy thán phục.
-Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách sinh hoạt:
+Ngữ âm: lông sẻ già dựng ngược, một con quỷ,kính cẩn nghiêng mình.
+Từ ngữ: đa dạng, có tính cụ thể.
+Cú pháp:Sử dụng câu kể.
+Biện pháp tu từ:
*So sánh: lao xuống như hòn đá rơi.Con chó như một con quỷ khổng lồ.
*Nhân hóa: Sẻ già lao đến cứu con.


11

KẾT LUẬN:
Ngơn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hằng ngày, dùng để thơng tin, trao đổi ý nghĩ,
tình cảm,... đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống.
Trong chương trình sách giáo khoa mới, ngồi việc cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản về lý thuyết văn bản cũng như khảo sát thực tế, tôi nhận thấy việc phát triển và
nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và
cấp bách. Bởi khi học sinh có ngơn ngữ tốt, chuẩn mực thì sẽ phát huy tốt việc rèn luyện
nhân cách, rèn luyện đạo đức chuẩn mực xây dựng cho bản thân lối sống trong sáng lành
mạnh trong xã hội của thời kỳ đổi mới, đồng thời có ngôn ngữ chuẩn mực học sinh sẽ tiếp
thu đầy đả những kiến thức từ các môn học khác mà chương trình tiểu học đã cung cấp, qua
đó các em sẽ tích luỹ vốn kiến thức cơ bản cho mình để tiếp học học tập lên các cấp học tiếp
theo.
Việc phát triển năng lực ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh tiểu học sẽ giúp các em học

văn chương có hiệu quả. Do đó việc dạy học mơn tiếng việt trong trường tiểu học người giáo
viên phải biết phối hợp chặt chẽ giữa quá trình dạy “cấu trúc văn” và dạy “văn”. Hay nói


12

cách khác là phát triển ngôn ngữ đúng phải dẫn đến một bước cao hơn là phát triển ngôn
ngữ “hay”, ngôn ngữ văn chương cho học sinh. Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng
nói, nhưng cũng có thể ở dạng viết. Trong văn bản văn học, lời thoại của nhân vật là dạng
tái

hiện,



phỏng

ngôn

ngữ

sinh

hoạt

hằng

ngày.



13

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Đinh Trọng Lạc (1993), Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt, NXB GD.
2.Nguyễn Thái Hòa (2006), Giáo trình phong cách học tiếng Việt, NXB ĐHSP.
3.Nguyễn Thái Hòa (2004), Từ điển Tu từ -Phong cách -Thi pháp học, NXB GD.
4.Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, 5, NXB GD, 2011
---HẾT---



×