Tải bản đầy đủ (.docx) (87 trang)

Thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt trong bệnh viện đa khoa Nghĩa Hưng Nam Định công suất 250 m³ngày

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (849.15 KB, 87 trang )

Trường Đại học Mỏ - Địa chất

SVTH: Đặng Thị Xoan

Đồ án tốt nghiệp

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

DANH MỤC VIẾT TẮT
BOD BTNMT
BTCT BXD
COD CT
HTXLNT KCN
MLSS MLVSS
N, P
NT NXB NĐCP QCVN
QCXDVN SS
TCXDVN TT
THPT TNHH
CP DV TM
SCR

:
:
:
:


:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Nhu cầu oxy hóa sinh hóa Bộ Tài ngun &
Mơi trường Bê tơng cốt thép
Bộ Xây Dựng
Nhu cầu oxy hóa hóa học Cơng thức
Hệ thống xử lý nước thải Khu công nghiệp
Hàm lượng chất rắn lơ lửng trong bùn lỏng
Hàm lượng cặn lỏng rắn lơ lửng bay hơi Nitơ,
Photpho
Nước thải Nhà xuất bản
Nghị định – Chính phủ Quy chuẩn Việt Nam
Quy chuẩn xây dựng Việt Nam Chất rắn lơ
lửng
Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam Thông tư
Trung học phổ thông Trách nhiệm hữu hạn Cổ
phần
Dịch vụ Thương mại Song chắn rác


SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy cô giáo trong bộ môn Kỹ thuật Môi trường Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em được học tập trong suốt
thời gian 4 năm học của em. Nhờ có sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô trong suốt 4 năm
học đã giúp em tích lũy được nhiều hơn kiến thức về chuyên ngành kỹ thuật môi trường,
giúp em có những kiến thức thực tế có thể phục vụ cho công việc trong tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của cơ giáo trực tiếp hướng dẫn là
PGS.TS Phan Quang Văn đã giúp đỡ em hồn thiện trong suốt q trình làm đồ án tốt
nghiệp. Trong suốt thời gian làm việc với cô, em không những tiếp thu được thêm nhiều kiến
thức bổ ích mà cịn được học tập tinh thần, thái độ làm việc nghiêm túc, hiệu quả từ cô. Đồng
thời em xin cảm ơn những ý kiến đóng góp bổ ích của các thầy cơ, bạn bè, đó là nguồn động
viên lớn để em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Dù đã có nhiều cố gắng để hồn thiện nhưng do kiến thức còn hạn chế nên đồ án của tốt
nghiệp của em khơng tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được những lời nhận xét và
chia sẻ quý báu của thầy cô để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân thành nhất đến tồn thể thầy cơ và các bạn!
Hà Nội, ngày tháng năm 20
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Xoan
(Lớp kỹ thuật môi trường B- K59)

SVTH: Đặng Thị Xoan


KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp
MỞ ĐẦU

Hoạt động của các bệnh viện ở nước ta hiện nay đang được cải thiện hàng ngày cả về chất lẫn
về lượng. Những năm gần đây nhu cầu khám chữa bệnh của người dân rất lớn. Hơn nữa, với
chủ trương đưa thầy thuốc đến với tất cả các bệnh nhân trên toàn quốc kể cả vùng sâu và
vùng xa. Nhà nước đã đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp nhiều bệnh viện, trạm y tế khắp cả
nước nhằm phục vụ người dân được tốt hơn. Bên cạnh đó, ngày nay cịn có rất nhiều bệnh
viện cỡ nhỏ và vừa do các tổ chức cá nhân xây dựng lên. Tuy nhiên, song song với việc tăng
cường khả năng phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, các hoạt động của bệnh viện cũng
thải ra một lượng rất lớn chất thải gây ảnh hưởng đến con người và môi trường.
Như chúng ta đa biết, chất thải y tế được xem là một trong những loại chất thải nguy hại có
tác động trực tiếp đến con người và môi trường nếu không được kiểm sốt, quản lý và xử lý
tốt. Vì vậy, việc kiểm soát, quản lý và xử lý chất thải y tế là một nhiệm vụ cấp bách của
ngành y tế và các ngành liên quan, nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cho nhân viên y
tế, bệnh nhân và cộng đồng. Ở nước ta, công tác quản lý và xử lý chất thải y tế đã được ban
ngành các cấp quan tâm. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa được chú trọng đầu tư đúng mức, quản
lý chưa hiệu quả như công tác phân loại, vận chuyển. Xử lý chưa đúng quy định, chủ yếu vẫn
còn tập trung xử lý chung cùng với các loại chất thải khác tại bãi chôn lấp, Các hệ thống
XLNT của bệnh viện thì thiết kế sơ sài, khơng hiệu quả, chủ yếu “che mắt” các cơ quan có
thẩm quyền hoặc khơng có hệ thống. Với sự gia tăng ngày càng nhiều các loại chất thải, đặc
biệt là chất thải y tế nguy hại, cùng với sự quản lý còn nhiều bất cập như hiện này, sẽ là một
nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng dân cư nghiêm trọng ở
hiện tại và trong tương lai, nếu như ngay từ bay giờ chúng ta khơng có những biện pháp tích

cực hơn.
Với mục đích tìm hiểu các vấn đề sinh thái môi trường trong khu vực Nam Định, và thiết kế
hệ thống xử lý nước thải cho bệnh viện đa khoa Nghĩa Hưng Nam Định, đồng thời bổ sung
thêm kiến thức cho cá nhân, chính vì vậy đề tài: “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
trong bệnh viện đa khoa Nghĩa Hưng Nam Định công suất 250 m³/ngày” đã được lựa chọn để
làm đồ án tốt nghiệp.
Căn cứ theo mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài và cấu trúc đồ án do bộ môn Kỹ thuật Môi trường,
khoa Môi trường, trường Đại học Mỏ - Địa chất quy định, đồ án được chia thành các chương
cụ thể như sau:
Mở đầu
Chương I. Điều kiện địa lí tự nhiên khu vực huyện Nghĩa Hưng Nam Định
Chương II. Tổng quan về phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt
Chương III. Lựa chọn cơng nghệ và tính tốn hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho bệnh
viện đa khoa Nghĩa Hưng Nam Định với Công suất 250 m3/ngày đêm
Chương IV. Tính tốn kinh tế
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

CHƯƠNG 1: THƠNG TIN CHUNG VỀ BỆNH VIỆN

1.1.


Vị trí địa lý tự nhiên

Vị trí địa lý và ranh giới của bệnh viện đa khoa Nghĩa Bình
Bệnh viện đa khoa với địa chỉ cụ thể : ĐC490C,TT.Liễu Đề, Nghĩa Hưng, Nam Định.
+ Phía Đơng: giáp khu dân cư
+ Phía Tây: giáp trường học và khu dân cư
+ Phía Nam: giáp mặt đường
+ Phía Bắc: giáp sơng
Hình 1- 1: Vị trí bệnh viện

Hình 1.1: Vị trí bệnh viện
Vị trí của bệnh viện so với các đối tượng tự nhiên xung quanh
Bệnh viện được xây dựng ở nơi gần khu dân cư, tiếp giáp với sông . Mọi hoạt động của bệnh
viện đều gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Vị trí của bệnh viện so với các đối tượng kinh tế xung quanh
Bệnh viện được xây dựng với quy mô lớn với nhiều chuyên khoa khác nhau và gần các
trường học, khu dân cư, sông.
Điều kiện môi trường tự nhiên
Điều kiện về địa lý, địa chất

Điều kiện về địa hình
Địa hình khu vực gần ven biển, tương đối bằng phẳng. Độ sâu của sông thay đổi từ 1,5- 2m .
Chiều rộng trung bình của sơng là 8m.
1.2.

Điều kiện về địa chất
Địa chất khu vực bệnh viện chủ yếu các hạt thơ vừa lẫn nhiều hạt bụi, ít mảnh dăm sạn phong
hóa, bên dưới lớp cát là các lớp đất đá có nguồn gốc bồi tích sơng, nguồn gốc sườn tích và
trầm tích biển.
Theo báo cáo khảo sát địa chất bệnh viện , thứ tự địa chất từ trên xuống có các lớp:
+ Lớp 1: Lớp cát thô, chặt. Bề dày trung bình 2m;
+ Lớp 2: Thấu kính sét pha, cát kết. Bề dày trung bình 3m;
+ Lớp 3: Lớp bột kết, cát kết. Bề dày trung bình 2m;
+Lớp 4: Lớp đá gốc, rất cứng. Bề dày trung bình 5m.
1.2.1.

Điều kiện khí tượng thủy văn
Nghĩa Hưng mang đầy đủ đặc điểm của tiểu khí hậu vùng đồng bằng.Là khu vực nhiệt đới
gió mùa nống ẩm,mưa nhiều.Có 4 mùa rõ rệt(Xn,Hạ,Thu,Đơng).
Nhiệt độ: trung bình năm từ 23-24 độ c.Tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1,nhiệt độ
trung bình từ 16-17 độ c.Tháng 7 là tháng nóng nhất,nhiệt độ khoảng trên 29 độ.
Lượng mưa: trung bình của huyện Nghĩa Hưng trong năm từ 1750-1800mm,chia làm 2
mùa rõ rệt;mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 12 năm
sau.Mặt khác do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nghĩa Hưng thường chịu ảnh
hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới,bình qn từ 4-6 cơn/năm.
Gió: chịu ảnh hưởng của gió mùa Đơng Bắc vào mùa đơng,gió Đơng-Nam vào m
hè,tốc độ gió trung bình năm 1.5-1.8m/s.Tốc độ gió mạnh nhất đo được trong bão đạt tới
3540m/s và trong gió mùa Đơng Bắc khơng q 25m/s.
Thủy triều: tại vùng biển huyện Nghĩa Hưng thuộc loại nhật triều,biên độ trung bình từ
1,6-1,7m lớn nhất là 3,31m và nhỏ nhất là 0,11m.

Độ ẩm trung bình:80-85%.Tổng số ngày nắng 250 ngày.Tổng số giờ nắng 1650-1700 giờ.
1.2.2.

Mực nước ngầm thay đổi theo mùa. Mùa mưa một số nơi mực nước ngầm bằng mực nước
mặt. Khu vực quy hoạch không nằm trong khu vực vùng lũ. Nước mưa của khu vực chủ yếu
thoát theo địa hình hiện hữu thốt từ phía Bắc sang Nam và chảy xuống sông.
Hiện trạng chất lượng các thành phần mơi trường vật lý
Mơi trường khơng khí
Khí thải, bụi, tiếng ồn phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải.
1.2.3.

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Các phương tiện giao thông trong bệnh viện sử dụng nhiên liệu chủ yếu là xăng và dầu diesel
sẽ thải ra mơi trường một lượng khói thải chứa các chất gây ô nhiễm không khí. Thành phần
chủ yếu trong khí thải là bụi, CO, SO2, NOx, CxHy... Ngoài ra các phương tiện di chuyển
trong bệnh viện còn phát ra tiếng ồn gây ảnh hưởng đến những người làm trong bệnh viện và
những khu vực xung quanh. Tuy nhiên đây là nguồn ơ nhiễm phân bố rải rác nên rất khó
kiểm sốt.
Khí thải từ hoạt động của các phương tiện đi lại:
+ Bụi: có kích thước từ vài micromet đến hàng trăm micromet chủ yếu là từ các phương tiện
đi lại.
+ Các hóa chất phụ gia, ngun vật liệu thất thốt, rơi vãi trong q trình sử dụng (ở dạng khí

hoặc hơi).
+ Khí phân rã từ các ngun liệu thất thốt, chất thải y tế.
nghiệp công nghệ cao tại Thị trấn Quỹ Nhất và Thị trấn Rạng Đơng. Từng bước hình thành
các khu xử lý rác thải rắn tập trung vùng tại Thị trấn Rạng Đông và xã Nghĩa Thái. Về xây
dựng NTM, tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng ở từng tiêu chí như nước sạch, nâng
cấp hệ thống chợ, các tuyến đường trục xã, thơn xóm, đường nội đồng; đầu tư nâng cấp kiên
cố hóa kênh mương thủy lợi nội đồng qua các năm; nâng cấp hệ thống trạm y tế các xã và
lưới điện ở địa bàn các xã xa trung tâm huyện.
Huyện Nghĩa Hưng đã hoàn thành mục tiêu trở thành huyện NTM trong những tháng
cuối năm 2017. Cùng với quy hoạch xây dựng vùng huyện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2050 đã được UBND tỉnh phê duyệt, huyện Nghĩa Hưng tự tin bước vào giai đoạn mới với
kỳ vọng là 1 trong 3 mũi nhọn phát triển kinh tế biển của tỉnh và tiềm năng mạnh mẽ về công
nghiệp, dịch vụ, thương mại dựa trên một nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
1.2.3.

Các ngành dịch vụ

Về du lịch, Nghĩa Hưng có khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Rạng Đơng, đình Hưng Lộc (xã
Nghĩa Thịnh), đền chùa Hạ Kỳ (xã Nghĩa Thịnh), đền thờ Phạm Văn Nghị (xã Nghĩa Lâm),
đền thờ Doãn Khuê (xã Nghĩa Thành
Điều kiện xã hội
1.3.1. Dân số và nguồn lao động
Dân số trung bình năm 2010 có 205.280 người với diện tích 250.47km2, phân bố khơng đều,
tập trung chủ yếu vùng đồng bằng ven biển.
Dân số trong độ tuổi lao động có 131.379 người, chiếm khoảng 64%; tỷ lệ lao động qua đào
tạo đạt khoảng 40%. Cơ cấu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm
51,99%, công nghiệp xây dựng chiếm 15%, khu vực dịch vụ chiếm 33,01%.
Với nguồn lao động dồi dào trên sẽ đáp ứng nhu cầu lao động cho các dự án đầu tư trên địa
bàn tỉnh.
1.3.2. Giáo dục – đào tạo

Huyện Nghĩa Hưng rất coi trọng sự phát triển của nền giáo dục,đã và đang củng cố xây dựng
nền giáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng.Vì vậy mà trong suốt nhiều năm qua huyện
1.3.

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư cho nền giáo dục..
Y tế
Theo mơ hình mới, hệ thống y tế của huyện gồm 1 phòng y tế, 1 trung tâm y tế, 2 bệnh viện
đa khoa (Bệnh viện Đa khoa Nghĩa Bình và Bệnh viện Đa khoa Nghĩa Hưng), 25 trạm y tế
xã, thị trấn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được quan tâm đầu tư xây dựng đồng bộ từ
huyện đến cơ sở. Đội ngũ cán bộ được tăng cường đào tạo, đào tạo lại, được bổ sung qua các
đợt thi tuyển viên chức, đảm đương nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân tại địa phương,
giảm tải bệnh nhân lên tuyến tỉnh, hỗ trợ kỹ thuật cho tuyến xã, thực hiện tốt công tác chỉ đạo
tuyến. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế của các trạm y tế xã, thị trấn được từng bước đầu tư
nâng cấp, cải tạo. Hiện tại 23/25 trạm y tế xã, thị trấn đã có bác sĩ; nhiều đơn vị có 2 bác sĩ
như Trạm Y tế các xã Nghĩa Hải, Nghĩa Lạc và Thị trấn Quỹ Nhất. 100% trạm y tế có nữ hộ
sinh, 100% thơn, xóm có y tế thơn, xóm. Huyện chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của
mạng lưới cộng tác viên y tế cơ sở để góp phần củng cố hệ thống y tế thơn, xóm thơng qua
các lớp tập huấn ngắn hạn của các chương trình truyền thơng lồng ghép. Bên cạnh đó huyện
chú trọng hồn thiện việc xây dựng xã đạt chuẩn Bộ Tiêu chí quốc gia mới về y tế giai đoạn
2011-2020. Năm 2014, huyện đã có 5 xã, thị trấn được cơng nhận xã đạt Bộ Tiêu chí quốc gia
về y tế giai đoạn 2011-2020, gồm các xã: Nghĩa Lợi, Nghĩa Sơn, Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình và

Thị trấn Quỹ Nhất. Năm 2015, huyện có thêm 2 xã là Nghĩa Phong, Nghĩa Thịnh được công
nhận xã đạt Bộ Tiêu chí quốc gia mới về y tế giai đoạn 2011-2020. 100% số trạm y tế trên địa
bàn huyện đảm nhiệm việc khám, chữa bệnh BHYT, khám, chữa bệnh cho người nghèo và
các đối tượng chính sách khác. Cơng tác y tế dự phịng và thực hiện các chương trình mục
tiêu quốc gia đạt nhiều kết quả mới. Hằng năm Phòng Y tế huyện kết hợp chặt chẽ với cấp
uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể huy động sức mạnh cộng đồng thực hiện có hiệu
quả cơng tác giáo dục sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh và bảo vệ môi trường. Các
đơn vị y tế từ huyện đến cơ sở chủ động làm tốt cơng tác phịng chống dịch bệnh, thực hiện
nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch.
1.3.3.

Vì vậy, trong nhiều năm trên địa bàn huyện khơng có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra. Cơng tác
vệ sinh phịng bệnh, vệ sinh mơi trường trên địa bàn huyện từng bước được cải thiện; hiện đã
có 23/25 xã, thị trấn có bãi tập kết rác thải. Tại các xã, thị trấn đều có tổ thu gom rác thải,
tuần thu gom 1 lần; 73% số hộ gia đình trên địa bàn huyện có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% số
hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt. Công tác tiêm chủng được triển khai
đều đặn, đúng lịch, không xảy ra tai biến. Hằng năm duy trì tỷ lệ trẻ trong độ tuổi trên địa
bàn huyện được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 99%. Huyện thường xuyên kiểm tra, thanh tra,
thẩm định các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm ăn uống đủ điều kiện vệ sinh
an toàn thực phẩm. Nhiều năm liền trên địa bàn huyện khơng có ngộ độc thực phẩm lớn xảy
ra. Chương trình uống bổ sung Vitamin A được triển khai tại 100% xã, thị trấn trên địa bàn
huyện cho 98% trẻ em từ 6-36 tháng tuổi.
Để tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở, thời
gian tới huyện tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo, bồi dưỡng

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59



Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

nguồn nhân lực cho 2 bệnh viện đa khoa huyện và các trạm y tế xã. Có chính sách tăng
cường bác sĩ về cơng tác tại các xã chưa có bác sĩ; cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ cho từng
đơn vị về thực hiện xã hội hố cơng tác y tế. Duy trì và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các
xã, thị trấn đã đạt Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, giáo
dục, truyền thông thay đổi hành vi để nhân dân tự giác tích cực tham gia vào các hoạt động
chăm sóc sức khoẻ như vệ sinh phịng bệnh, rèn luyện thân thể, phòng chống bệnh dịch,
phòng chống các tệ nạn xã hội, hạn chế những thói quen có hại cho sức khoẻ, xây dựng nếp
sống văn minh, lành mạnh. Phát triển mạng lưới y tế dự phòng bảo đảm đủ điều kiện và năng
lực kiểm soát, phát hiện, khống chế có hiệu quả các bệnh dịch nguy hiểm và các bệnh dịch
mới, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong lĩnh vực phịng bệnh.
1.4.

Tình hình hoạt động của bệnh viện

1.4.1.

Sơ đồ tổ chức bộ máy
GIÁM ĐỐC

PHĨ GIÁM ĐỐC

Phịng tổ
chức cán
bộ

Phịng kế

hoạch
tổng hợp

PHĨ GIÁM ĐỐC

Phịng tài
chính- kế
tốn

Các khoa lâm
sàng

Phịng
hành
chínhquản trị

Phịng
chỉ đạo
tuyến

PHĨ GIÁM ĐỐC

Phịng
vật tưTTB

Phịng
điều
dưỡng

Phịng

cơng nghệ
thơng tin

Các khoa cận
lâm sàng

Hình 1.2 : sơ đồ tổ chức bô máy bệnh viện

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Khả năng cung cấp các dịch vu y tế
Khám chữa bệnh đa khoa.
Cấp cứu,xét nghiệm,phẫu thuật hồi sưc cấp cứu,xét nghiệm,khám điều trị các bệnh nội khoa
thông thường,khám bệnh cộng chuẩn đốn hình ảnh,phịng ngừa và xử lí dịch bệnh tại khoa
truyền nhiễm.
Khám chữa bệnh tại khoa bệnh tổng hợp,mắt,tai,mũi,họng,răng hàm mặt,da liễu,chỉnh
hình:sơ cứu,cấp cứu,điều trị ngoại trú các bệnh ngoại khoa thông thường.
Khám chữa bệnh tại khoa phụ sản.
Khám chữa bệnh tại khoa nội,nhi,đông y.
Cấp phát thuốc và đưa ra các phương pháp dinh dưỡng từ khoa Dược,dinh dưỡng.
Quy trình khám chữa bệnh
Quy trình khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa huyện Nghĩa Bình được thể hiện trên
sơ đồ sau:


SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Bệnh nhân cấp
cứu

NT

Đồ án tốt nghiệp

`Người bệnh đến khám

Phịng cấp cứu

Phịng đón tiếp người bệnh

Phòng mổ

Phòng khám tổng quát

Phòng hồi sức

Bệnh nhân được chỉ định làm
các thủ tục xét nghiệm


Nước thải sinh hoạt

Các phòng xét nghiệm(Xquang, siêu âm, nội soi)

Nước thải

Lấy kết quả

Bệnh nhân được chỉ
định nhập viện

Bệnh nhân được kê
đơn thuốc

Làm các thủ tục nhập
viện

Phịng bệnh

Nước thải sinh hoạt

Xuất viện
Hình 1.3 : sơ đồ hoạt động của bệnh viện
Thuyết minh:
Bệnh nhân được người nhà đưa đến bệnh viện để khám sẽ đi vào phịng đón tiếp người bệnh
của bệnh viện. Tai đây bệnh nhân sẽ được phân loại,làm các xét nghiệm ban đầu khai cần

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59



Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

thiết và khám tổng quát.. Sau khi được khám tổng quát xong, bệnh nhân được bác sĩ chỉ định
đi làm các thủ tục xét nghiệm như chụp X- quang, nội soi, siêu âm, xét nghiệm sinh hóa. Kĩ
thuật viên thực hiện xét nghiệm sẽ đưa lại phiếu kết quả cho người nhà bệnh nhân,người nhà
bệnh nhân sẽ mang phiếu kết quả này quay trở về phòng khám tổng quát ban đầu. Tại đây,
tùy theo tình trạng của bệnh nhân, bác sỹ sẽ khuyến nghị bệnh nhân nhâp viện, chuyển tuyến
hoặc kê đơn thuốc để bệnh nhân điều trị tại gia đình.
Đối với các bệnh nhân cấp cứu: sẽ được chuyển vào phòng cấp cứu,bác sĩ sẽ trục tiếp khám
và mổ. Sau khi mổ bệnh nhân sẽ được chuyển sang phòng hồi sức cấp cứu và theo dõi, sau
đó chuyển sang phịng bệnh để điều trị tiếp, đến khi khỏi thì xuất viện.
1.5.

Công tác bảo vệ môi trường của bệnh viện

Quản lý chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh trong bệnh viện gồm 2 nguồn chính: chất thải y tế và chất thải trong
sinh hoạt.
Trong y tế các chất thải rắn phát sinh chủ yếu: bao bì, nhãn mác, vỏ chai, vải thừa, giấy rác…
được thu gom, phân loại tại nguồn và tập kết về khu vực để chất thải rắn có mái che. Đối với
các bao bì, nhãn mác các vỏ lon, vỏ chai thải ra trong quá trình sử dụng được vận chuyển và
tái chế.
Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt chủ yếu là hoạt động từ nhà bếp và hoạt động xây
dựng của công ty, nhưng chất thải này được thu gom và được công ty môi trường hàng ngày
đến vận chuyển mang đi xử lý.
1.5.1.


Quản lý chất thải nguy hại
Các chất thải nguy hại chủ yếu: các bao bì nhiễm hóa chất, dầu nhớt thải, thùng chứa các hóa
chất: H2SO4, Cl2. Những chất thải này được phân loại và tập kết về khu vực để chất thải nguy
hại có mái che và định kỳ được cơng ty môi trường đến vận chuyển mang đi xử lý.
1.5.2.

Quản lý khí thải
Những khí thải phát sinh trong bệnh viện như khí CO, SO2, NOx, CxHy... sẽ được bệnh viện
kiểm sốt và xử lý hạn chế gây ô nhiễm môi trường khơng khí, đảm bảo mơi trường sạch
sẽ, thống mát cho công nhân làm việc.
Đối với bụi sinh ra từ quá trình vận chuyển, để hạn chế lượng bụi này cần phải làm một dàn
phun nước để giảm nồng độ bụi cùng với đó là việc quét dọn thườngxuyên khu vực để hạn
chế thấp nhất lượng bụi phát sinh ra môi trường.
1.5.3.

Quản lý mơi trường nước
+ Tồn bộ nước thải phát sinh từ bệnh viện được thu gom và xử lí nước thải của bệnh viện
trước khi thải ra hện thống thoát nước chung của khu vực và nguồn tiếp nhận
+ Chất lượng nước thải sau hệ thống xử lí đạt tiêu chuẩn theo quy định QCVN
28:2010/BTNMT Cột B : Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải y tế
+ Thường xuyên kiểm tra bảo dưỡng các thiết bị của hệ thống xử lí nước thải tập trung
đảm bảo hệ thống luôn vận hành ổn định.
+
Thuê đơn vị chức năng định kì nạo vét bùn thải tránh tình trạng quá tải làm giảm hiệu
suất xử lí của hệ thống.
1.5.4.

SVTH: Đặng Thị Xoan


KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Phương án phịng ngừa và khắc phục sự cố kiểm sốt hành đơng xử lí,xả nước thải
vào nguồn nước.
+ Đã xây dựng hệ thống bể tự hoại nằm ngầm dưới các cơng trình.
+ Đã xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung với công suất 250m3/ngày đêm.
+ Phần lớn mặt bằng trong bệnh viện đã được bê tơng hóa,có hệ thống cống thoát
nước mưa chảy tràn.
+ Thường xuyên nạo vét hố gas,vệ sinh đường ống tiêu thoát nước mưa và đường ống
thu gom nước thải.
+ Bố trí đội ngũ cán bộ nhân viên vận hành hệ thống xử lí nước thải.
+ Tuân thủ đúng hướng dẫn trong sổ tay hướng dẫn vận hành hệ thống xử lí nước thải
bệnh viện,bao gồm cả các chế độ kiểm tra,bảo dưỡng trạm xử í nước thải.Có nhật kí vận
hành hệ thống xử í nước thải và theo dõi theo đồn hồ đo lưu lượng nước thải.
+ Xây dựng biện pháp phòng ngừa,ứng phó khắc phục sự cố trong q trình vận hành
trạm xử lí nước thải,ngăn chặn kịp thời việc xả nước thải khơng đạt QCCP sang nguồn tiếp
nhận.
1.5.5.

1.6.

Phân tích lựa chọn đề tài thiết kế

Yêu cầu nước thải đầu vào bệnh viện
Nước thải của sinh hoạt của bệnh viện chứa các chất ô nhiễm chỉ thị đặc trưng cho công nghệ

của ngành đó với mức độ ơ nhiễm khác nhau. Do đó, Ban Quản lý của bệnh viện quy định
bệnh viện phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ.
Theo các tiêu chuẩn thải nước hiện hành của Việt Nam (cột B QCVN 28:2010/BTNMT)
có quy định các khu cơng nghiệp bắt buộc phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung với
nồng độ trong ngưỡng cho phép trước khi xả thải ra môi trường.
Nước thải tại bệnh viện đã xử lý nước thải sơ bộ theo quy định của Ban Quản lý bệnh viện đề
ra trước khi xả thải vào hệ thống thu gom của trạm xử lý nước thải tập trung
Việc thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho bênh viện là một việc cần thiết để kiểm
soát các thành phần nước thải đặc thù trước khi xả thải ra môi trường. Khi thiết kế hệ thống
xử lý nước thải tập trung của bệnh viện cần phải đảm bảo các yêu cầu và mục tiêu sau:
Yêu cầu về mặt môi trường: nước thải sau xử lý đảm bảo đạt QCVN 28:2010/BTNMT cột
B. Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, về bảo vệ môi trường.
Yêu cầu về mặt kỹ thuật: Việc lắp đặt, xây dựng hệ thống xử lý nước thải phì hợp với mặt
bằng chung của bệnh viện, đảm bảo hoạt động tối đa cơng suất. Ngồi ra cịn u cầu hệ
thống xử lý phải đảm bảo công nhân vận hành dễ dàng ít xảy ra các vấn đề nguy hiểm trong
quá trình vận hành.
Yêu cầu về kinh tế: Mức độ đầu tư cho hệ thống xử lý cần phải phù hợp với tình hình tài
chính của chủ đầu tư. Hệ thống lắp đặt phải đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư và tiết kiệm tối đa
chi phí.
1.6.1.

1.6.2.

Phân tích lựa chọn đề tài thiết kế

Cùng với sự phát triển của đất nước,đời sống con người được nâng cao.Từ đó người dân

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59



Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

quan tâm đến sức khỏa hơn và nhu cầu khám chữa bệnh tang.Vì vậy,để đáp ứng nhu cầu chữa
bệnh của người dân, nhiều dự án xây dựng mới nâng cấp và mở rộng bệnh viện đang được
thực hiện. Việc quản lí nước thải y tế là yêu cầu tất yếu được đặt ra và vấn đề này phải được
giải quyết kịp thời. Đảm bảo trước hết cho việc vệ sinh chung, cho cảnh quan đô thị, cho sức
khỏe cộng đồng và còn đảm bảo cho việc giả thiểu những tác động xấu đến mơi trường.Theo
bộ y tế, mỗi ngày có gần 1200 bệnh viện và hơn 200 cơ sở y tế, viện, trung tâm y tế dự
phòng,cơ sở sản xuất,kinh doanh dược trên cả nước thải ra khoảng 350 tấn chất thải rắn y tế
và trên 150 ngàn m3 nước thải.Tuy nhiên, 63% số bệnh viện hiện chưa có hệ thống xử lí
nước thải và 70% số hệ thống xử lí nước thải hiện có khơng đạt tiêu chuẩn.
Điểm đặc thù của nước thải bệnh viện là sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh,đặc
biệt nguy hiểm là nước thải từ những bệnh viện chuyên các bệnh truyền nhiễm cũng như
khoa lây nhiễm của bệnh viện.Những nguồn nước thải bệnh viện này là 1 trong những nhân
tố cơ bản có kha năng lan truyền vào nước thải những tác nhân truyền nhiễm qua đường tiêu
hóa và làm ơ nhiễm môi trường. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây
bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được
tưới băng nước thải.
Thực tế hiện nay lượng nước sử dụng ở các bệnh viện nước ta rất lớn, cao hơn tiêu chuẩn cấp
nước rất nhiều. Các nghiên cứu đều cho thấy lượng nước thải các bệnh viện vượt quá công
suất thiết kế nhiều lần. Phần lớn lượng nước thải sau sử dụng đều xả vào hệ thống thốt
nước.Lượng nước thực tế thải ra tính cho 1 giường bệnh tính cho 1 ngày đêm vượt tiêu chuẩn
của các nước Đức, Nga, Mỹ và lớn hơn rất nhiều so với các quy định hiện hành của Tiêu
chuẩn Việt Nam. Do đặc điểm chữa bệnh và nghiên cứu khác nhau, tiêu chuẩn cấp nước của
các bệnh viện là rất khác nhau. Nhìn chung đối với các bệnh viện đa khoa cáp tỉnh tiêu chuẩn
cấp nước ở mức 600-800L/giường bệnh.ngày. Đối với các bệnh viện chuyên khao hoặc các

bệnh viện trung ương lượng nước sử dụng tương dối cao ( đến 1000L/giường/ngày). Do nước
sử dụng cho các mục đích nghiên cứu đào tạo tại các bệnh viên chuyên khoa, tỉ lệ các số bác
sĩ và nhân viên phục vụ tương đối cao từ 1,2 -1,4.Số bệnh nhân điều trị nội chú cũng lớn hơn
số giường bệnh theo thiết kế rất nhiều…Một trong những nguyên nhân làm cho lượng nước
thải tang là tổn thất do sự thiếu ý thức của người nhà bệnh nhân.
Nhiều bệnh viện được đầu tư cơng trình xử lí nước tải đủ tiêu chuẩn sau khi được bàn giao 1
thời gian thì xuống cấp do thiếu nhân lực, kinh phí, chuyển giao cơng nghệ chưa hồn
chỉnh…Tình trạng này không chỉ xảy ra ở các bệnh viện tuyến địa phương mà có cả những
bệnh viện nhà nước. Tuy nhiên điều đáng nói là bên cạnh lí do khó khan về kinh phí,quy chế
phố hợp trong xử lí chất thải cho 1 cụm bệnh viện cũng không được xem xét nghiêm túc. Các
bệnh viện hiện chưa có được sự kết hợp tỏng nước thải y tế. Đôi khi trong cùng 1 khu vực, 2
hoặc 3 bệnh viện lớn ở cạnh nhau có thể chung 1 trạm xử lí nước thải để tiết kiệm chi phí đầu
tư và vận hành hệ thống nhưng vấn đề đó chưa bao giờ được đặt ra đối với các nhà quản lí
bệnh viện.
Do đó để giữu gìn tốt vấn đề vệ sinh dịch bệnh và ngăn chặn lan truyền bệnh ra các khu vực
lân cận , nhằm đảm bảo việc khám chữa bệnh cho bệnh nhân và bảo vệ cộng đồng, cần xây
dựng hệ thống xử lí nước thải bệnh viện đạt chuẩn và phù hợp với quy mơ bệnh viện.
Trong q trình khám chữa bệnh tại bệnh viện cũng sinh ra 1 lượng nước thải đáng kể. Nếu

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

nước thải khơng được xử lí thì nó gây ơ nhiễm cho nguồn tiếp nhận. Đặc biệt nước
thải bệnh viện chứa lượng lớn vi sinh vật gây bệnh là nguồn lây nhiễm cao đồng thời tấc

động nguy hại đến môi trường đất.Trên thực tế phần lớn hệ thống xử lí nước thải tại các bệnh
viện đóng trên địa bàn thành phố chưa được xử lí hoặc xử lí chưa triệt để từ nguồn nước thải
y tế khiến sức khỏe con người và môi trường bị đe dọa.
Để đáp ứng được yêu cầu tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, chi phí nâng cấp,vận hành, bảo
dưỡng thấp,thân thiện với mơi trường, kết hợp với phương pháp xử lí sinh học.Vậy nên lựa
chọn đề tài: Thiết kế hệ thống xử lí nước thải Bệnh viện đa khoa Nghĩa Bình với cơng
suất 250m3/ngày đêm. Nước thải sau khi xử lí dạt quy chuẩn quốc gia về nước thải bệnh
viện QCVN 28:2010/BTNMT.

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT CỦA
BỆNH VIỆN
2.1. Mục đích
Xử lý nước thải là q trình loại bỏ chất ô nhiễm ra khỏi nước thải bao gồm cả dòng chảy
mặt (dòng thải), gia dụng, thương mại và cơ quan. Bao gồm các q trình vật lý, hóa học,

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

sinh học. Mục tiêu của xử lý nước thải là tạo ra một dịng chất thải dạng lỏng an tồn với
mơi trường và chất thải rắn (xử lý: rác thải, bùn thải) phù hợp để xử lý hoặc tái sử dụng. Hiện
nay với việc sử dụng cơng nghệ tiên tiến có thể tái sử dụng nước thải thành nước uống, mặc
dù Singapore là nước duy nhất thực hiện công nghệ này vào việc sản xuất quy mô với sản
phẩm là nước mới.
Nước thải ngày nay là mối quan tâm của toàn cầu. Xử lý nước thải đang là vấn đề quan trọng

và cấp bách. Nhu cầu xử lý nước thải ở khắp các lĩnh vực, mỗi lĩnh vực ngành nghề sản xuất
lại có những phương pháp xử lý nước thải khác nhau
Xử lý nước thải là nhu cầu bức thiết của nước ta. Theo một vài thống kê thì hiện nay trên cả
nước hầu hết các doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất, các khu cơng nghiệp, bệnh viện…đều có
hệ thống xử lý nước thải. Vấn đề mấu chốt ở đây là đa số các hệ thống xử lý nước thải của
các nhà máy đề không xử lý đạt chỉ tiêu trước khi thải ra ngồi mơi trường. Mỗi loại hình sản
xuất khác nhau thì phát sinh ra nước thải có tính chất khác nhau. Nước thải có tính chất khác
nhau sẽ có các phướng pháp, cơng trình xử lý phù hợp để xử lý nước thải.
2.2. Các phương pháp xử lý nước thải
2.2.1. Phương pháp xử lý cơ học
Mục đích của xử lý cơ học là loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn và đầu ra khỏi nước thải,
cân bằng lưu lượng và hàm lượng nước thải đi vào hệ thống xử lý nước thải tạo điều kiện
thuận lợi cho các quá trình xử lý tiếp theo.
Phương pháp xử lý cơ học dùng để tách các chất khơng hịa tan và một phần các chất ở dạng
keo ra khỏi nước thải.
Song chắn rác và lưới lọc rác
Song chắn rác làm bằng sắt trịn hoặc vng đặt nghiêng theo dịng chảy mộ tgóc 600 nhằm
giữ lại các vật thơ. Vận tốc dòng nước chảy qua thường lấy 0,3-0,6m/s.
Lưới lọc giữ lại các cặn rắn nhỏ, mịn có kích thước từ 1mm - 1,5mm. Phải thường xuyên cào
rác trên mặt lọc để tránh tắc dịng chảy.
Bể lắng cát
Bể lắng cát có dạng là các loại bể, hố, giếng cho nước chảy vào theo nhiều cách khác nhau:
Theo tiếp tuyến, theo dòng ngang, theo dòng từ trên xuống và toả ra xung quanh dưới tác
dụng của trọng lực cát nặng sẽ lắng xuống đáy.
Các loại bể lắng:
Bể lắng cát ngang: Dòng chảy đi qua bể theo chiều ngang và vận tốc của dịng chảy được
kiểm sốt bởi kích thước của bể, ống phân phối nước đầu vào và ống thu nước đầu ra. Bể
lắng cát ngang chỉ ứng dụng cho trạm xử lý có cơng suất nhỏ nhưng hiệu quả xử lý khơng
cao.
Bể lắng cát thổi khí: Bao gồm một bể thổi khí dịng chảy xoắn ốc có vận tốc xoắn được thực

hiện và kiểm sốt bởi kích thước bể và lượng khí cấp vào. Bể lắng cát thổi khí ứng dụng cho
các trạm xử lý công suất lớn, hiệu quả cao khơng phụ thuộc vào lưu lượng.
Bể lắng cát dịng xốy: Bao gồm một bể hình trụ, dịng chảy đi vào tiếp xúc với thành bể tạo
nên mơ hình dịng chảy xoáy, lực li tâm và trọng lực làm cho cát được tách ra.
Thiết kế bể lắng cát thường dựa trên việc loại bỏ những phân tử có kích thước 0,2mm trở lên.
Tuy nhiên, phân tích những dữ liệu tách cát cho thấy rằng trọng lượng riêng thay đổi từ 1,3-

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

2,7mm [12].
Bể lắng
Bể lắng tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng khác với trọng lượng riêng của nước thải.
Chất lơ lửng nặng sẽ từ từ lắng xuống đáy, các chất lơ lửng nhẹ sẽ nổi lên trên bề mặt. Cặn
lắng và bọt nổi nhờ các thiết bị cơ học thu gom và vận chuyển đến cơng trình xử lý cặn.
Các bể lắng có bố trí nối tiếp nhau. Q trình lắng tốt có thể loại bỏ đến 90-95% lượng cặn
trong nước thải. Vì vậy, đây là quá trình quan trọng trong xử lý nước thải thường được bố trí
xử lý bân đầu hay sau khi xử lý sinh học. Để có thể tăng cường q trình lắng ta có thể thêm
vào các chất đông tụ.
Thông thường trong bể lắng, người ta chia làm 4 vùng:
Vùng phân phối nước vào.
Vùng lắng các hạt cặn.
Vùng chứa và cô đặc cặn.
Vùng thu nước ra.

Bể lăng được chia làm 3 loại:
Bể lắng ngang (có hoặc khơng có vách nghiêng); mặt bằng có dạng hình chữ nhật.
Bể lắng đứng: mặt bằng hình trịn hoặc hình vng (nhưng trên thực tế thường xử dụng bể
lắng đứng hình trịn), trong bể lắng hình trịn nước chuyển động theo phương bán kính
radian.
Bể lắng li tâm: mặt bằng hình trịn, nước thải dẫn vào bể theo chiều từ tâm ra thành bể rồi thu
vào máng tập trung rồi dẫn ra ngồi.
Bể vớt dầu mỡ
Cơng trình này thường được ứng dụng khi xử lý nước thải công nghiệp, nhằm loại bỏ các tạp
chất có khối lượng riêng nhỏ hơn nước, chúng gây ảnh hưởng xấu tới các cơng trình thốt
nước (mạng lưới và các cơng trình xử lý). Vì vậy ta phải thu hồi các chất này trước khi đi vào
các cơng trình phía sau. Các chất này sẽ bịt kín lỗ hổng giữa các hạt vật liệu lọc trong các bể
sinh học và chúng cũng phá hủy cấu trúc bùn hoạt tính trong bể Aerotank, gây khó khăn
trong q trình lên men cặn.
Lọc cơ học
Bể lọc có tác dụng tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng cách cho nước thải
đi qua lớp vật liệu lọc, cơng trình này sử dụng chủ yếu cho một số loại nước thải công
nghiệp.
Phương pháp xử lý nước thải bằng cơ học có thể loại bỏ khỏi nước thải được 60% các tạp
chất khơng hịa tan và 20% BOD.
Hiệu quả xử lý có thể đạt tới 75% theo hàm lượng chất lơ lửng và 30-35% theo BOD bằng
các biện pháp làm thống sơ bộ hoặc đơng tụ sinh học.
Nếu điều kiện vệ sinh cho phép, thì sau khi xử lý cơ học nước thải được khử trùng và xả vào
nguồn, nhưng thường thì xử lý cơ học chỉ là giai đoạn xử lý sơ bộ trước khi cho qua xử lý
sinh học.
Các loại thiết bị lọc: Lọc chậm, lọc nhanh, lọc kín, lọc hở. Ngồi ra cịn có lọc ép khung bản,
lọc quay chân không, các máy vi lọc hiện đại.

SVTH: Đặng Thị Xoan


KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

2.2.2. Phương pháp hóa lý
Dùng để xử lý nước thải có nhiều chất lơ lửng, chất độc hại, độ màu cao và là tiền đề
cho xử lý sinh học phía sau.
Keo tụ
Có hai dạng keo:
Keo kị nước (Hidropholic): Khơng kết hợp với nước để tạo ra vỏ bọc hydrat, các hạt keo
mang điện tích lớn và khi điện tích này được trung hồ thì độ bền của hạt keo bị phá vỡ.
Keo háo nước (Hidrophilic): Kết hợp với các phân tử nước tạo thành vỏ bọc hydrat các hạt
keo riêng biệt mang điện tích bé và dưới tác dụng của các chất điện phân khơng bị keo tụ.
Q trình keo tụ xảy ra theo hai giai đoạn:
Chất keo tụ thủy phân khi cho vào nước, hình thành dung dịch keo và ngưng tụ.
Trung hoà, hấp phụ, lọc, các tạp chất trong nước.
Các loại hố chất keo tụ:
Phèn nhơm Al2(SO4)3.
Phèn sắt (Fe2SO4) Ferrous sulfate.
Phèn sắt Ferric chloride – FeCl3.
Hoá chất trợ keo tụ:
Dùng để tạo bông căn lớn, ổn định nhanh bảo đảm quá trình keo tụ đạt hiệu quả cao. Bản
chất trợ keo tụ là liên kết các bông cặn được tạo thành trong quá trình keo tụ.
2.2.3. Phương pháp tuyển nổi
Phương pháp dùng loại bỏ các tạp chất ra khỏi nước bằng cách tạo cho chúng có khả năng dễ
nổi lên mặt nước khi bám theo các bọt khí. Đây là phương pháp được áp dụng tương đối rộng
rãi nhằm loại bỏ các chất rắn lơ lửng mịn, dầu mỡ ra khỏi nước thải. Phương pháp thường

được áp dụng trong xử lý nước thải chứa dầu, nước công nghiệp thuộc da,...bản chất của quá
trình tuyển nổi ngược với quá trình lắng và được áp dụng trong trường hợp quá trình lắng
diễn da rất chậm hoặc rất khó thực hiện. Các chất lơ lửng, dầu mỡ sẽ được nổi lên trên bề mặt
của nước thải dưới tác dụng nâng của các bọt khí.
Các phương pháp tuyển nổi thường được áp dụng là:
Tuyển nổi chân không.
Tuyển nổi áp lực.
Tuyển nổi cơ giới.
Tuyển nổi với cung cấp khơng khí qua lớp vật liệu xốp.
Tuyển nổi điện.
Tuyển nổi sinh học.
Tuyển nổi hóa học.
Hấp phụ
Chất bẩn lỏng hoặc rắn được giữ lại trên bề mặt chất rắn.
Dùng để hấp phụ: Chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, hợp chất chlorinated, dẫn xuất phenol hoặc
hydroxyl, hợp chất sinh mùi và vị, chất ô nhiễm vi lượng, kim loại nặng.
Các loại hấp phụ:
Hấp phụ lý học: Một phân tử qua bề mặt chất hấp phụ đi vào khe rỗng và dính lên bề mặt

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

bằng các lực lý học.
Hấp phụ hoá học: Lực hoá học gây nên sự dính bám do các phản ứng hố học giữa chất hấp

phụ và chất bị hấp phụ.
2.2.3. phương pháp hóa học
Thực chất của phương pháp xử lý hố học là đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây
tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học và tạo cặn lắng hoặc tạo dạng chất hồ tan
nhưng khơng độc hại, khơng gây ơ nhiễm mơi trường.
Phương pháp xử lý hố học thường được áp dụng để xử lý nước thải công nghiệp. Tuỳ thuộc
vào điều kiện địa phương và điều kiện vệ sinh cho phép, phương pháp xử lý hố học có thể
hồn tất ở giai đoạn cuối cùng hoặc chỉ là giai đoạn sơ bộ ban đầu của việc xử lý nước thải.
Phương pháp trung hịa
Dùng để đưa mơi trường nước thải có chứa các axit vô cơ hoặc kiềm về trạng thái trung tính
pH = 6,5 - 8,5. Phương pháp này có thể thực hiện bằng nhiều cách; trộn lẫn nước thải chứa
axit và chứa kiềm, bổ sung thêm tác nhân hóa học, lọc nước qua lớp vật liệu lọc có tác dụng
trung hịa.
Phương pháp oxi hóa - khử
Dùng để đưa mơi trường nước thải có chứa các axit vơ cơ hoặc kiềm về trạng thái trung tính
pH = 6,5 - 8,5. Phương pháp này có thể thực hiện bằng nhiều cách; trộn lẫn nước thải chứa
axit và chứa kiềm, bổ sung thêm tác nhân hóa học, lọc nước qua lớp vật liệu lọc có tác dụng
trung hịa.
Trong q trình ơxy hóa, các chất độc hại trong nước thải được chuyển thành các chất ít độc
hại hơn và tách ra khỏi nước. Quá trình này tiêu tốn một lượng lớn các tác nhân hóa học, do
đó q trình ơxy hóa hóa học chỉ được dùng trong những trường hợp khi các tạp chất gây
nhiễm bẩn trong nước không thể tách bằng những phương pháp khác. Ví dụ khử xyanua hay
hợp chất hịa tan của asen.
Phương pháp điện hóa học
Nhằm phá huỷ các tạp chất độc hại ở trong nước bằng cách oxy hoá điện hoá trên cực anốt
hoặc dùng để phục hồi các chất quý.
2.2.4. phương pháp sinh học
Phương pháp này sử dụng khả năng sống, hoạt động của vi sinh vật để phân hủy những chất
bẩn hữu cơ trong nước thải. Các sinh vật sử dụng các chất khoáng và hữu cơ để làm dinh
dưỡng và tạo năng lượng. Trong quá trình dinh dưỡng chúng nhận được các chất làm vật liệu

để xây dựng tế bào, sinh trưởng sinh sản nên sinh khối tăng lên.
Q trình sau là q trình khống hóa chất hữu cơ cịn lại thành chất vơ cơ (sunfit, muối
amon, nitrat...), các chất khí đơn giản (CO2, N2,...) và nước. Quá trình này được gọi là quá
trình oxy hóa. Căn cứ vào hoạt động của vi sinh vật có thể chia phương pháp sinh học thành
3 nhóm chính như sau:
Các phương pháp hiếu khí
Phương pháp hiếu khí dựa trên nguyên tắc là các vi sinh vật hiếu khí phân hủy các chất hữu
cơ trong điều kiện có oxy.
Chất hữu cơ + O2H2O + CO2 + NH3 +...
Các phương pháp xử lý hiếu khí thường hay sử dụng: Phương pháp bùn hoạt tính: dựa trên

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

quá trình sinh trưởng lơ lửng của vi sinh vật và phương pháp lọc sinh học: dựa trên quá trình
sinh trưởng bám dính của vi sinh vật.
Phương pháp bùn hoạt tính
Bùn hoạt tính là tập hợp những vi sinh vật khác nhau, chủ yếu là vi khuẩn, kết lại thành các
bông với trung tâm là các hạt chất rắn lơ lửng trong nước (cặn lắng chiếm khoảng 30 – 40%
thành phần cấu tạo bơng, nếu hiếu khí bằng thổi khí và khuấy đảo đầy đủ trong thời
gian ngắn thì con số này khoảng 30%, thời gian dài khoảng 35%, kéo dài tới vài ngày có thể
tới 40%). Các bơng này có màu vàng nâu dễ lắng có kích thước từ 3 - 100 μm. Bùn
hoạt tính có khả năng hấp phụ (trên bề mặt bùn) và oxy hóa các chất hữu cơ có trong nước
thải với sự có mặt của oxy.

Quá trình xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính bao gồm các bước:
Giai đoạn khuếch tán và chuyển chất từ dịch thể (nước thải) tới bề mặt các tế bào vi sinh vật.
Hấp phụ: khuếch tán và hấp phụ các chất bẩn từ bề mặt ngoài các tế bào qua màng bán thấm.
Q trình chuyển hóa các chất đã được khuếch tán và hấp phụ ở trong tế bào vi sinh vật sinh
ra năng lượng và tổng hợp các chất mới của tế bào.
Phương pháp lọc sinh học
Là phương pháp dựa trên quá trình hoạt động của vi sinh vật ở màng sinh học, oxy hóa các
chất bẩn hữu cơ có trong nước. Các màng sinh học là các vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn)
hiếu khí, kỵ khí, tùy nghi. Các vi khuẩn hiếu khí được tập trung ở màng lớp ngoài của màng
sinh học. Ở đây chúng phát triển và gắn với giá mang là các vật liệu lọc (được gọi là màng
sinh trưởng gắn kết hay sinh trưởng bám dính).
Các phương pháp kị khí
Dựa trên sự chuyển hố vật chất hữu cơ trong điều kiện khơng có oxy nhờ rất nhiều lồi vi
sinh vật yếm khí tồn tại trong nước thải. Sản phẩm của quá trình là CH 4, CO2, N2, H2S, NH3
trong đó CH4 chiếm nhiều nhất.
Quá trình lên men Metan gồm 3 giai đoạn:
Pha phân hủy: Chuyển các chất hữu cơ thành hợp chất dễ tan trong nước.
Pha chuyển hóa axit: các vi sinh vật tạo thành axit gồm cả vi sinh vật kỵ khí và vi sinh vật
tùy nghi. Chúng chuyển hóa các sản phẩm phân hủy trung gian thành các axít hữu cơ bậc
thấp, cùng các chất hữu cơ khác như axit hữu cơ, axit béo, rượu, axit amin, glyxerin, H 2S,
CO2, H2.
Pha kiềm: Các vi sinh vật Metan đích thực mới hoạt động. Chúng là những vi sinh vật kỵ khí
cực đoan, chuyển hóa các sản phẩm của pha axit thành CH4 và CO2. Các phản ứng của pha
này chuyển pH của môi trường sang kiềm.
Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học là cơng trình mà trong đó nước thải được lọc qua lớp vật liệu. Lớp vật
liệu được bao phủ bởi màng sinh vật, vi sinh trong màng sinh học oxi hóa các chất hữu cơ, sử
dụng chúng làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng. Như vậy, chất hữu cơ được tách ra khỏi
nước thải còn khối lượng màng vi sinh vật tăng lên. Màng sinh vật chết được cuốn theo nước
và đưa ra khỏi thiết bị lọc sinh học.

Màng sinh học đóng vai trị như bùn hoạt tính, nó hấp thụ và phân hủy các chất hữu cơ trong
nước thải. Cường độ oxi hóa trong thiết bị lọc thấp hơn trong bể Aerotank.

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Các loại bể lọc thường gặp:
Bể lọc sinh học nhỏ giọt: Loại này có năng suất thấp nhưng đảm bảo xử lý tuần hoàn. Tải
trọng thủy lực của chúng là 0,5-0,3 m3/m2.ngày đêm. Chúng được áp dụng để xử lý nước với
công suất đạt đến 100m3/ngày đêm nếu BOD không lớn hơn 200mg/l.
Bể lọc sinh học cao tải: hoạt động với tải trọng thủy lực 10-30m3/m2.ngày đêm.
2.5. bể khử trùng nước thải
Khử trùng nước thải là giai đoạn cuối cùng của công nghệ xử lý nước thải nhằm loại bỏ vi
trùng và virut gây bệnh trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Để khử trùng nước thải có thể sử
dụng clo và các hợp chất chứa clo, có thể tiến hành khử trùng bằng ozon, tia hồng ngoại, ion
bạc,... nhưng cần phải cân nhắc về điều kiện kinh tế.
2.6.xử lý cặn nước thải
Nhiệm vụ của xử lý cặn (cặn được tạo nên trong quá trình xử lý nước thải):
Làm giảm thể tích và độ ẩm của cặn.
Ổn định cặn.
Khử trùng và sử dụng lại cặn cho các mục đích khác nhau.
Rác (gồm các tạp chất khơng tan kích thước lớn: cặn bả thực vật, giấy, giẻ lau...) được giữ lại
ở song chắn rác có thể chở đến bãi rác (nếu lượng rác khơng lớn) hay nghiền rác và sau đó
dẫn đến bể mêtan để tiếp tục xử lý.

Cát từ bể lắng được dẫn đến sân phơi cát để làm ráo nước và được đưa đi xử lý tiếp theo
đúng quy chuẩn.
Để giảm thể tích cặn và làm ráo nước có thể ứng dụng các cơng trình xử lý trong điều kiện tự
nhiên như: sân phơi bùn, hồ chứa bùn, hoặc trong điều kiện nhân tạo: thiết bị lọc chân không,
thiết bị lọc ép dây đai, thiết bị ly tâm cặn...). Độ ẩm của cặn sau xử lý đạt 55-75%.
Máy ép băng tải: bùn được chuyển từ bể nén bùn sang máy ép để giảm tối đa lượng nước có
trong bùn. Trong quá trình ép bùn ta cho vào một số polyme để kết dính bùn.
Lọc chân khơng: Thiết bị lọc chân không là trụ quay đặt nằm ngang. Trụ quay đặt ngập trong
thùng chứa cặn khoảng 1/3 đường kính. Khi trụ quay nhờ máy bơm chân không cặn bị ép vào
vải bọc.
Quay li tâm: Các bộ phận cơ bản là rôtơ hình cơn và ống rỗng rữa và ống quay cùng chiều
nhưng với những tốc độ khác nhau. Dưới tác động của lực li tâm các phần rắn của cặn nặng
đập vào tường của rôtơ và được dồn lăn đến khe hở, đổ ra thùng chứa bên ngoài.
Lọc ép: Thiết bị lọc gồm một số tấm lọc và vải lọc căng ở giữa nhờ các trục lăn. Mỗi một tấm
lọc gồm hai phần trên và dưới. Phần trên gồm vải lọc, tấm xốp và ngăn thu nước thấm. Phần
dưới gồm ngăn chứa cặn. Giữa hai phần có màng đàn hồi khơng thấm nước.
Để tiếp tục làm giảm thể tích cặn có thể thực hiện sấy bằng nhiệt với nhiều dạng khác nhau:
thiết bị sấy dạng trống, dạng khí nén, băng tải.... Sau khi sấy, độ ẩm còn 25-30% và cặn ở
dạng hạt dễ dàng vận chuyển.
Đối với trạm xử lý công suất nhỏ, việc xử lý cặn có thể tiến hành đơn giản hơn: nén sau đó
làm ráo nước ở sân phơi cặn trên nền cát.
2.3. Một số quy trình cơng nghệ xử lý nước thải tại một số bệnh viện cụ thể hiện
nay
2.3.1 Hệ thống xử lý nước thải tại bệnh viện Thống Nhất –TP Hồ Chí Minh

SVTH: Đặng Thị Xoan

KTMTB-K59



Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Bệnh viện Thống Nhất –TP Hồ Chí Minh nằm Số 1, Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận Tân
Bình, Tp.HCM với lưu lượng nước thải là Q= 500 m3/ngày đêm. Bệnh viện đã áp dụng hệ
thống xử lý nước thải bệnh viện được trình bày ở sơ đồ hình 2.1.

Nước thải

Song chắn rác

Bể lắng cát

Bể điều hịa

Sục khí

Bể Aerotank

Bể lắng

SVTH: Đặng Thị Xoan

Bể khử trùng

Bể tiếp xúc

Bể lắng bùn


KTMTB-K59

Cống thải chung thành phố


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Hình 2.1: Sơ đồ HTXLNT bệnh viện Thống Nhất-TPHCM
Nước thải từ các phòng, khoa và các bể phốt được thu gom ba hệ thống ống dẫn kín sau đó
được dẫn qua song chắn rác để loại bỏ rác có kích thước lớn như bông bang, giấy báo, túi
nilong. Nước thải tiếp tục chảy vào bể lắng cát để lắng các hạt có kích thước lớn trước khi
vào bể điều hịa. Bể điều hịa có chức năng điều chỉnh lưu lượng và nồng độ đảm bảo cho
nước thải trước khi chảy vào hệ thống xử lý luôn luôn ổn định. Đồng thời ở bể điều hịa có
thiết kế hệ thống cung cấp khí góp phần xử lý một phần các chất hữu cơ nhờ
các vi khuẩn hiếu khí. Nước thải tiếp tục được bơm từ bể điều hòa vào bể aerotank để xử lý
sinh học hiều khí. Tại bể aerotank sẽ diễn ra q trình sinh hóa, một lượng lớn các chất hữu
cơ bị phân hủy bởi các vi sinh vật hiếu khí. Trong bể aerotank có một hệ thống cung cấp khí
nhằm đảm bảo lượng oxi cần thiết cho q trình sinh hóa xảy ra tơt nhất. Nước từ bể aerotank
tiếp tục chảy qua bể lắng sơ cấp để lắng bùn sinh ra trong quá trình phân hủy sinh học, một
lượng bùn hoạt tính sẽ được tuần hồn trở lại bể aerotank. Nước thải sau khi được khử trùng
đạt QCVN 28/2010-BTNMT sẽ được phép thải ra cống thải chung của thành phố.
Bảng 2.1. Nồng độ nước thải bệnh Thống Nhất trước và sau xử lý
Thông số

SVTH: Đặng Thị Xoan

Đầu vào


Đầu ra

QCVN 28 cột B

Đơn vị

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất
TSS
200
COD
300
BOD5
200
Coliform TS 106
(Nguyễn Văn An, 2013)

Đồ án tốt nghiệp
12,8
35,1
28
4800

100
100
50
5000


Mg/l
Mg/l
Mg/l
MPN/100ml

2.3.2 Hệ thống xử lý nước thải tại bệnh viện Quân Y4, Vinh-Nghệ An
Bệnh viện Quân Y4 nằm trên địa bàn xã Hưng Lộc, thành phố Vinh-Nghệ An. Với quy mô
giường bệnh hiện nay là 200 giường bệnh, hàng ngày bệnh viện tiếp nhận hơn 300 lượt bệnh
nhân khám chữa bệnh với lưu lượng nước thải phát sinh là Q= 200m3/ngày đêm.(Hoàng Văn
Đạt, 2011)
Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện được trình bày trong hình 2.2

Nước thải

Bể gom

Bế điều hịa

Bể phân hủy kị khí

Bể aerotank

Bể lắng sơ cấp

SVTH: Đặng Thị Xoan

Bể khử trùng

Mương thốt nước


Bùn tuần hồn

Bể chứa bùn

KTMTB-K59


Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Đồ án tốt nghiệp

Hình 2.2: Sơ đồ HTXLNT bệnh viện Quân Y 4, TP.Vinh.
Nước thải từ các phòng, khoa và các bể phốt được thu gom bằng hệ thống ống dẫn kín về bể
thu gom. Tại bể gom có lắp đặt song chắn rác để loại bỏ rác có kích thước lớn ra khỏi nước
thải trước khi đi vào các cơng trình xử lý phía sau nhằm tránh gây tắc nghẽn bơm và đường
ống. Nước thải được bơm đến bể điều hòa, ở dưới đáy bể có lắp đặt hệ thống sục khí chìm
nhằm xứ lý một phần các chất hữu cơ. Từ bể điều hòa nước thải được bơm qua bể phân hủy
kị khí. Tại đây, nước thải được xử lý bằng biện pháp sinh học trong điều kiện thiếu khí, có tác
dụng khử amoni – nito và một phần các chất hữu cơ khó phan
hủy trong nước thải y tế. Sau đó, nước thải tự chảy qua bể aerotank. Dưới đáy có lắp đặt giàn
ống và thiết bị phân phối khí dẫn từ máy thổi khí , tại đây diễn ra quá trình oxy hóa
các chất hữu cơ trong điều kiện hiếu khí nhờ hoạt động của các vi sinh vật. Nước thải tiếp tục
chảy qua bể lắng để lắng bùn. Nước thải sau khi qua bể lắng sẽ được châm hóa chất khử
trùng ( dung dịch chlorine) trên đường ống tự chảy qua bể khử trùng rồi theo mạng lưới thoát
nước mưa ra cống thoát nước thành phố.
- Hiệu quả xử lý của hệ thống được trình bày trong bảng 2.4:
Bảng 2.2: Nồng độ nước thải bệnh Quân Y 4 trước và sau xử lý
STT
1


Thông số
SS

SVTH: Đặng Thị Xoan

Đầu vào
100-175

Đầu ra
87

QCVN28/2010
100

Đơn vị
mg/l

KTMTB-K59


×