Nguyễn Thị Sương
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
TỰ GIÁC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH LỚP 3
Mục lục
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
2
...................... 2
II. Mục tiêu của đề tài
.........................2
III. Đối tượng nghiên cứu.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
IV. Phạm vi nghiên cứu
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .3
V. Phương pháp nghiển cứu
................... 3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3
I. Thực trạng của vấn đề. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
II. Các biện pháp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1. Biện pháp thứ nhất . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .4
2. Biện pháp thứ hai . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
3. Biện pháp thứ ba
. . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .8
III.Kết quả nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .9
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. Bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .10
II. Đề xuất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Trang
1
10
A ĐẶT
VẤN
Nguyễn Thị Sương
Luật Giáo dục có ghi: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.” và “Phương
pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
Cùng với sự đổi mới về nội dung của sách giáo khoa, những năm qua
ngành giáo dục đã có sự đổi mới trong cách dạy và giáo dục học sinh. Nổi
bật trong những năm học gần đây là cao trào phát huy tính tích cực của HS
trong việc lĩnh hội tri thức của HS. Thật sự, xã hội mới đang cần mơ hình
người lao động mới năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với sự phát triển
của thời đại, đang đòi hỏi những phương pháp giáo dục, đào tạo mới. Mơ
hình HS học theo kiểu im lặng nghe giảng khơng ý kiến phát biểu, học thuộc
làu bài nhưng không hiểu bài, ... đã khơng cịn phù hợp.
Trong xu thế hiện nay, phương pháp giáo dục tập trung vào vai trò người
giáo viên sang phương pháp tập trung vào vai trò của HS. Từ hình thức dạy
học đồng loạt sang hình thức dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động nhằm
phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS. Phương pháp dạy học mới
nhằm phát huy khả năng và kiến thức của HS ở mức cao nhất, ở đó các em
khơng bị "áp đặt" phải nghe và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động mà các
em được chủ động tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn và giải
thích của giáo viên. Giáo viên phải tạo được hình thức khơi dậy ở các em
lịng ham hiểu biết, tìm tịi học hỏi, tạo cho HS một động cơ học tập, có
nhu cầu học tập để tiếp thu những kiến thức mới. Khi có hứng thú học tập thì
các em tham gia hoạt động sơi nổi, hào hứng và tích cực. Hứng thú với học
tập là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết giúp cho việc học tập của HS
mang lại hiệu quả cao, tránh được sự căng thẳng và nhàm chán.
II.Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh lớp 3” là giúp giáo viên có được những kinh
nghiệm, biện pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học
tập của học sinh . Đồng thời nếu được giáo viên vận dụng rộng rãi, đề tài
cũng sẽ góp phần đưa chất lượng “ Dạy - Học ” đạt hiệu quả tốt hơn.
III.Đối tượng nghiên cứu
- 36 học sinh lớp 3/6, trường Tiểu học Phù Đổng, năm học 2017 – 2018
- 34 học sinh lớp 3/8, trường Tiểu học Phù Đổng, năm học 2018– 2019
- 35 học sinh lớp 3/7, trường Tiểu học Phù Đổng, năm học 2019 – 2020
Trang
2
Nguyễn Thị Sương
IV. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện và đặc thù công việc của bản thân, tôi chỉ nghiên cứu, áp dụng
đối với học sinh mình đã dạy trong 4 năm qua.
V.Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp quan sát:
Đây là phương pháp giúp tôi quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát
hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt để phát
huy tính tích cực, tự giác của học sinh.
2. Phương pháp thực nghiệm :
Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hồn cảnh,những
điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên
cứu thu lại được những tư liệu cần thiết.Đây là một phương pháp hết sức quan
trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.
3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và
những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình
đạt chất lượng cao.
4. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:
Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh
nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập
của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và
hoạt động ngoại khố. Từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc
phục và đề xuất.
5. Phương pháp đàm thoại:
Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trị chuyện là một hình thức
tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trị chuyện với
một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm,
nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các
em. Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đạt kết
quả tốt nhất.
6. Phương pháp thống kê, tính tốn:
Qua những thơng tin tài liệu thu thập được, tơi đã vận dụng phương pháp
này để thống kê lại tình hình và tính tốn các số liệu cần thiết để biết được
chất lượng học tập của học sinh sau thời gian nghiên cứu.
B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I.Thực trạng của vấn đề
1.Tình trạng chung: Hiện nay trình độ dân trí của nước ta còn rất thấp so với
các nước phát triển trên thế giới.Vậy làm thế nào để giải quyết vấn đề đó? Để
nâng cao trình độ nhận thức của người dân thì những người đứng trong ngành
giáo dục phải có trách nhiệm. Muốn giải quyết được vấn đề thì địi hỏi phải
đổi mới chương trình SGK, đổi mới PPDH cũng như hình thức tổ chức dạy
học để phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Trang
3
Nguyễn Thị Sương
2.Tình hình địa phương: Hải Châu là một quận có các điều kiện thuận tiện
so với một số quận trong thành phố. Song số hộ gia đình theo nghề kinh
doanh, buôn bán chiếm tỉ lệ cao so với các ngành nghề khác. Những phụ
huynh theo nghề kinh doanh bn bán thì sự quan tâm sát sao đến việc học
tập của con cái cịn nhiều hạn chế.
3.Tình hình trường, lớp:
Phù Đổng là một ngơi trường có bề dày về lịch sử và thành tích .Trường
gồm có hai cơ sở. Trường đã đón nhận các em HS trong và ngồi địa bàn đến
học. Nhìn chung học sinh đi học đều, đồ dùng học tập đầy đủ nhưng vẫn có
nhiều học sinh chưa biết chuẩn bị đồ dùng học tập, ý thức học tập chưa cao
thiếu tích cực, khơng chủ động trong học tập . Một số em còn rụt rè, thiếu tự
tin trước đám đơng...
4.Tính thuyết phục của đề tài
Trong tình hình hiện nay, việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đòi hỏi ở
học sinh một yêu cầu cao là phải độc lập, tự giác, sáng tạo trong học tập. Qúa
trình dạy học này gồm hai mặt quan hệ hữu cơ với nhau: Hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ thể của hoạt
động dạy với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức. Điều cần chú ý
trong học tập là phải hoạt động một cách tích cực, chủ động có nhận thức sâu
sắc. Bằng hoạt động học tập, học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách
của mình khơng ai có thể làm thay được. Như vậy, dạy học phải xây dựng trên
nhu cầu hứng thú, thói quen, năng lực của học sinh ở các trình độ khác nhau
nhằm làm cho học sinh lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ
giá trị cần thiết, phát huy được đầy đủ năng lực của các em.Vai trò của giáo
viên là truyền đạt tri thức, là người hướng dẫn, người cố vấn cho học sinh
trong việc học tập. Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ qua lại chặt chẽ
giữa những tác động bên ngoài của giáo viên, biểu lộ trong việc trình bày tài
liệu chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh với sự căng thẳng
trí tuệ “bên trong” của các em mới tạo được cơ sở của sự học tập có hiệu
quả.Tính tích cực nhận thức của bản thân các em càng cao thì sự cân bằng
năng lượng sinh hố cơ sở tư duy sẽ càng phong phú và những kiến thức được
lĩnh hội càng sâu sắc, đầy đủ hơn và vững chắc hơn.
II.Các biện pháp
1. Biện pháp thứ nhất: Rèn luyện năng lực giáo viên
Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú
học tập cho học sinh thì địi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều.Trước hết địi
hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ
tức là phải có năng lực sư phạm. Giáo viên phải rèn luyện để có những năng
lực sau:
- Nhớ tên học sinh và gọi tên chúng một cách thường xuyên nhất có thể.
- Có kế hoạch chi tiết cho từng tiết học, đừng để cho học sinh có thời gian làm
việc riêng không liên quan đến bài học.
- Chú ý đến điểm mạnh và những giới hạn của học sinh. Khen thưởng những
Trang
4
Nguyễn Thị Sương
điểm mạnh và giúp học trò khắc phục những điểm yếu.
- Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý cho học sinh để khuyến khích sự tương tác giữa
các học sinh.
-Đa dạng hóa các chiến thuật dẫn dắt: sử dụng lời giảng, thảo luận, nghiên
cứu trường hợp, làm việc nhóm,…
-Ln nhắc lại mục tiêu bài học với học sinh. Chắc chắn rằng học sinh nhận
thức rõ ràng điều mà chúng mong muốn được học, thực hành,…
- Giáo viên phải di chuyển khỏi chỗ ngồi (đi quanh lớp học) trong quá trình
giảng dạy.
- Biến lớp học trở nên sống động. Chắc chắn rằng học sinh nhận thức được
các nội dung học tập có liên quan đến thế giới xung quanh chúng.
- Tạo ấn tượng. Hãy cười khi có thể.
- Hãy thể hiện sự hứng thú trong bài giảng, thay đổi giọng điệu, âm lượng, sắc
thái ngơn ngữ,…
- Đưa ra nhiều ví dụ cụ thể.
- Khuyến khích học sinh chia sẻ quan điểm và nhận thức của chúng, thậm chí
những quan điểm đó là chưa chính xác. Giáo viên sẽ khơng khơng bao giờ
biết được những nội dung mà học sinh chưa hiểu cho đến khi hỏi lại chúng.
- Duy trì sự giao tiếp bằng mắt và hướng đôi mắt của giáo viên đến học sinh
khi đang tương tác/ giao tiếp .
-Tạo cơ hội để học sinh có thể nói trước lớp.
- Luôn sẵn sàng mọi thời điểm: trước khi giờ học bắt đầu, trong giờ nghỉ và
sau giờ học để trò chuyện, trao đổi với học sinh.
- Chấm và trả bài kiểm tra cho học sinh sớm nhất có thể. Đưa ra các phản hồi
mang tính xây dựng.
- Ln kiên định, thống nhất và công bằng trong cách đối xử với học sinh.
- Đảm bảo bài kiểm tra giáo viên đưa ra cho học sinh phải có liên hệ với nội
dung, mục tiêu của chủ đề mà học sinh được học.
- Có kế hoạch để thay đổi hoạt động trong khoảng 15 – 20 phút. Học sinh sẽ
cảm thấy khó khăn để duy trì sự tập trung chú ý trong một khoảng thời gian
kéo dài.
- Để học sinh tham gia vào q trình giảng dạy, giáo viên ln u cầu học
sinh đưa ra các phản hồi.
2. Biện pháp thứ hai: Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học là phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học
trong các tiết dạy. Sự đa dạng của phương pháp dạy học là sự phối hợp một số
Trang
5
Nguyễn Thị Sương
hình thức tổ chức dạy học thích hợp. Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có
tác dụng tích cực, phát huy học sinh một khía cạnh nào đó. Vì vậy, chúng ta
cần phải biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả nhất.
Phương pháp dạy học mới đòi hỏi phải tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm
việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn, cụ thể là sử dụng các hình thức
dạy học sau:
a.Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh,
đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc. Hình thức dạy học
cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập. Ngồi ra cịn có một số
hình thức khác như: làm bài tập trong sách, tiến hành các thí nghiệm, thể hiện
tài năng, các hoạt động độc lập như sưu tầm tranh ảnh, thu thập tài liệu, khảo
sát thực tế nơi mình ở,...
b.Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai
trị tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm
rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: biết lắng nghe có chọn lọc; tiếp nhận ý
kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình; biết trình bày ý
kiến của mình cho bạn nghe và học tổ chức, điều khiển hoạt động nhóm.
Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:
-Thảo luận về một vấn đề học tập.
-Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một chủ
đề.
-Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.
-Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.
-Tiến hành một thí nghiệm hay một trị chơi học tập.
-Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.
Dạy học theo nhóm là một phương pháp giúp cho tất cả các học sinh (HS)
cùng tiến bộ. Trong mỗi lớp học bao giờ cũng có HS giỏi, khá, trung bình,
yếu kém. Giáo viên phải biết phân loại trình độ học sinh, có phân công nhiệm
vụ cho từng đối tượng. Tránh không để sự nhàm chán đối với HS giỏi, khá và
tâm lý căng thẳng cho HS trung bình, yếu kém. Giải pháp:
Giáo viên cần thực hiện thường xuyên công tác phân loại HS, đặc biệt vào
đầu năm học giáo viên khảo sát chất lượng của HS 2 mơn Tốn, Tiếng Việt.
Tuy nhiên đầu năm chưa chắc đã thực hiện được khách quan tính chính xác
trình độ của từng em, vì vậy trong năm học giáo viên vừa dạy vừa theo dõi
cũng như tham khảo giáo viên lớp dưới để đưa ra kết luận chính xác và
khoanh nhóm đối tượng để đề ra phương pháp dạy học thích hợp cho từng
nhóm đã phân loại.
Ví dụ : Trong môn Tiếng Việt,giáo viên phân thành các nhóm: Nhóm HS
đọc, viết cịn yếu (sai chính tả nhiều); Nhóm HS đọc thơng, viết thạo (HS
giỏi, khá)
+Đối với nhóm HS đọc, viết còn yếu (đọc được nhưng viết còn sai chính tả)
Giáo viên cần tranh thủ sự giáo dục của gia đình bằng cách hướng dẫn đọc
cho các em nghe - viết các từ, câu vào vở và xem trước bài viết ở nhà, đọc và
Trang
6
Nguyễn Thị Sương
gạch chân những từ các em cảm thấy khó viết, dễ sai và luyện viết trước vào
vở nháp. Khi lên lớp giáo viên sẽ lưu ý cho các em một số từ khó khác,
hường dẫn, phân tích âm, vần, phân biệt nghĩa của từ. Trước khi viết vào
vở, giáo viên đọc cho HS viết vào bảng con trước. Nếu từ nào HS khơng biết
thì giáo viên đánh vần để HS nghe, viết. Viết xong giáo viên chấm điểm, chữa
lỗi cho HS
+Đối với nhóm HS đọc thơng viết thạo : Giáo viên chủ yếu hướng dẫn, tổ
chức cho các em tự học. Nếu các em đã đọc tốt rồi thì khuyến khích các em
đọc diễn cảm hơn. Qua đọc , các em tự rút ra ý nghĩa của từng câu, đoạn, bài.
Các em là những HS đắc lực giúp giáo viên rèn các em yếu kém. Những HS
viết chữ đúng, đẹp, đúng chính tả thì giáo viên cho các em làm thư kí nhóm,
viết mẫu trên bảng con, bảng lớp cho cả lớp xem. Ngồi giờ học, có điều kiện
thì giáo viên cho các em trang trí lớp, viết bài mẫu. Đó cũng là phương pháp
giúp các em tự thể hiện những mặt tích cực của bản thân.
c.Dạy học theo lớp: Là hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy
học lấy học sinh làm trung tâm. Dạy học lấy HS làm trung tâm xuất hiện
nhiều hình thức dạy học phù hợp với các phương pháp đề cao vai trò hoạt
động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực,
nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn,
vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.
d.Dạy học ngồi trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự
nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức
cho học sinh học ngồi trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân
trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngồi trời giúp học sinh
có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt
thấy, tai nghe...Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể.
Mặt khác bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi
lẫn nhau.
e.Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngồi hiện
trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi,
trồng trọt, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hố hoặc rừng, sơng ,hồ, thác
nước...
Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học
sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong
lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với
bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tị mị, trí tưởng tượng, bồi
dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.
g.Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong
mọi lứa tuổi. Trị chơi giúp các em phát triển.Vì vậy tổ chức trị chơi chú ý
những đặc tính: Vui- Khoẻ- An tồn- Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư
giãn...được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.
Trang
7
Nguyễn Thị Sương
Trị chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai
đặc điểm cơ bản sau:
+ Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm
của bài học, đó là nội dung chính của bài học.
+ Mang đầy đủ tính chất của một trị chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng
thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.
Giáo viên cần thường xuyên cải tiến nội dung và các hình thức tổ chức dạy
học trong mỗi tiết học như :
+ Phối hợp các hình thức dạy học theo lớp, theo nhóm hay hoạt động cá nhân
một cách phù hợp có hiệu quả. Tạo nhiều hình thức thi đua trong học tập.
+ Tổ chức các trò chơi học tập, cải tiến các bài tập trong SGK thành trị
chơi, câu đố hay giải ơ chữ để thu hút sự chú ý ở HS,... để các em được học
mà chơi, chơi mà học.
Ví dụ : Trị chơi " Tìm bạn cho tơi" : mỗi đội có 10 tấm thẻ bằng bìa ghi
những phép tính tốn học. Trong đó có các phép tính có giá trị bằng nhau.
Cách chơi : chia lớp thành các đội, mỗi đội từ 5 hoặc 10 em. Trong khoảng
thời gian là 5 phút các đội phải tìm được các cặp đơi phép tính có kết quả
bằng nhau. Đội nhanh nhất, đúng nhất là đội chiến thắng. Giáo viên thay hình
thức tính nhẩm trong các dạng tốn +,-, x, : thành trị chơi thi đua tiếp sức.
h.Sử dụng bài tập trắc nghiệm: Bài tập trắc nghiệm giúp tiết học thêm phong
phú, sinh động.
Ví du: Thay vì cứ lặp đi lặp lại việc giải tốn có lời văn, thỉnh thoảng
giáo viên thay đổi hình thức trắc nghiệm : Mỗi hộp có 9 cái bánh. Vậy 5 hộp
có tất cả số cái bánh là :
a. 14 cái bánh
b. 45 cái bánh
c. 54 cái bánh
Giáo viên chuẩn bị mỗi HS một bộ thẻ a, b, c để HS chọn hoặc cho HS viết
vào bảng con đáp án đúng nhất
i. Ứng dụng công nghệ thông tin: Bài giảng điện tử là một công cụ hỗ trợ rất
hiệu quả cho tiết dạy. Học sinh rất hào hứng với các tiết học có ứng dụng
cơng nghệ thơng tin. Hiện nay các bài giảng ứng dụng công nghệ thông tin
được cập nhật liên tục trên mạng internet.
Ví dụ : Mơn TNXH, Luyện từ và câu...tôi thường sử dụng những đoạn phim
hình ảnh thật, tiếng động, âm nhạc...để minh hoạ các nội dung có liên quan
trong bài mà HS khó được quan sát một cách thực tế. Các em rất hứng thú và
ghi nhớ bài lâu hơn.
3. Biện pháp thứ ba: Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh
Ngoài hai biện pháp trên, biện pháp thứ ba chính là tạo mối quan hệ tốt
giữa giáo viên, phụ huynh và học sinh cũng hết sức quan trọng. Do đó địi hỏi
người GV phải phối hợp chặt chẽ với phụ huynh.
a.Đối với việc học ở nhà:
- Cho học sinh lập thời khóa biểu, thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công
việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.
Trang
8
Nguyễn Thị Sương
-Thường xuyên trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ
đồng thời thông qua group zalo phụ huynh để thăm dị quản lí việc học tập
của các em.
-Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,
những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thơng tin
thường xun giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm.
-Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).
b.Đối với việc học ở lớp:
-Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo
viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.
-Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị ĐDHT của các em
thông qua tổ trưởng, lớp trưởng( có sổ theo dõi thi đua)
Thống nhất ngay từ đầu với học sinh về bảng theo dõi thi đua hàng tuần như sau:
Tên HS
Chuyên cần
Đi
Vắng
trễ
Mang
dép
Tác phong
Áo
Xếp
ngồi
hàng
quần
Vệ sinh
Nói
chuyện
Học tập
Khơng
thuộc
bài
Khơng
mang
ĐDHT
Tổng
số lỗi
-Học sinh rất sợ trừ điểm thi đua nên tự giác thực hiện các quy định của lớp.
-Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và khen thưởng. Giáo viên
sử dụng bông hoa đáng khen để làm phần thưởng cho học sinh mỗi khi học
sinh tự giác, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập. Đặc biệt, giáo viên
khuyến khích, động viên học sinh tham gia các phong trào do nhà trường tổ
chức phát động bằng cách tặng số hoa gấp đôi hoặc gấp ba.
- Để giúp học sinh chuẩn bị tốt trước khi đến lớp, giáo viên phải có giao việc
cho học sinh. Học sinh sẽ biết được ngày mai các con sẽ học những môn nào,
bài nào và giúp phụ huynh biết được những việc cụ thể để nhắc nhở các con
học tập.
Trang
9
Nguyễn Thị Sương
Trang
10
Nguyễn Thị Sương
Trang
11
Nguyễn Thị Sương
-Những bông hoa là những minh chứng cho việc học tốt của học sinh. Phụ
huynh có thể dựa vào đó để động viên, khích lệ hoặc thưởng q thêm cho
các con có động lực.
III. Kết quả nghiên cứu:
Với phương pháp dạy học mới kết hợp với hình thức tổ chức dạy học mới
(Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngồi trời, tham quan, trị
chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và
sáng tạo. Nhờ vận dụng linh hoạt các biện pháp nêu trên, tơi đã kích thích
được phong trào thi đua học tập của học sinh. Do đó, kết quả mang lại rất khả
quan, nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi,
HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng. Dạy học theo hướng đổi mới sẽ
huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy qua
những năm thực nghiệm và vận dụng nghiên cứu, chất lượng giảng dạy, giáo
dục của tôi được nâng cao.
Những biện pháp nêu trên tôi đã áp dụng vào quá trình giảng dạy thực tế ở
lớp. Năm đầu tiên, tôi đã tiến hành khảo sát vào cuối học kì 2 của năm
học.Những năm tiếp theo, tơi tiến hành khảo sát vào giữ học kì 1. Kết quả thu
được rất khả quan như sau:
Kết quả đánh giá
các nội dung
khảo sát
Toán (Điểm 10)
Lớp 3/6
Lớp 3/8
Lớp 3/7
NH: 2017- 2018
NH: 2018- 2019
NH: 2019- 2020
(Học kì 2)
(Học kì 1)
(Học kì 1)
15 / 34 em
21 / 35 em
27 / 36 em
Tiếng Việt
( Điểm 10)
16 / 34em
20 / 35 em
25 / 36 em
Năng lực (Tốt)
20 / 34 em
22 / 35 em
27 / 36 em
Phẩm chất ( Tốt)
20 / 34 em
25 / 35 em
27 / 36 em
C. KẾT LUẬN:
I. Bài học kinh nghiệm:
Qua những năm làm việc, nghiên cứu, bản thân tôi đã rút ra những bài học
bổ ích. Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn
dạy học có chất lượng và hiệu quả, người giáo viên phải nổ lực, sáng tạo,
không ngừng cải tiến phương pháp.
1.Về công tác giảng dạy
Muốn nâng cao chất lượng giảng dạy, người giáo viên phải có một năng lực
sư phạm nhất định, ln học tập và đổi mới phương pháp dạy học.
-Nắm vững chương trình sách giáo khoa và mục tiêu của từng tiết dạy.
-Chuẩn bị kế hoạch bài dạy một cách chu đáo.
Trang
12
Nguyễn Thị Sương
-Sử dụng tối đa đồ dùng học tập một cách hiệu quả trong từng tiết dạy, trong
từng môn học.
-Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
2.Về cơng tác chủ nhiệm:
Giáo viên chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm
thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời là người tổ chức, điều hành,
kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử của học sinh trong
phạm vi lớp mình phụ trách, ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách
của HS.
Để trở thành người GVCN giỏi thì ngồi những cơng việc trên, người GV
phải rèn cho mình những năng lực sau:
-Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.
-Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.
-Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp
của trường, lớp.
-Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và
ngồi nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo
dục học sinh.
Thông thường trẻ ở tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN.
Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối
với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.
II.Kiến nghị đề xuất:
1.Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:
-Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.
-Nên duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.
2.Đối với nhà trường:
- Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.
- Có thêm nhiều sách tham khảo.
3.Đối với địa phương, gia đình học sinh:
- Phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ
học.
-Nên có quỹ khuyến học cho những HS vượt khó, HS có hồn cảnh khó khăn.
-Gia đình phải chú trọng quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.
-Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của học sinh.
-Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.
Vì điều kiện, thời gian và khả năng có hạn, chắc chắn đề tài có phần chưa
thoả đáng, bản thân tơi mong có sự góp ý bổ sung của quý cấp lãnh đạo và
các bạn đồng nghiệp.
Trang
13
Nguyễn Thị Sương
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.GD học (Nguyển Sinh Huy-NXBGD)
2.Tâm lí học (Phạm Minh Hạc -NXBGD)
3.Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia)
4.Dự án GD tiểu học cho trẻ em có hồn cảnh khó khăn (Bộ GD)
5.Chun đề : Một số PP và Hình thức tổ chức dạy học (Nguyễn Đức Hoành)
Xin chân thành cảm ơn.
NGƯỜI THỰC HIỆN:
Nguyễn Thị Sương
Trang
14