TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
TIỂU LUẬN
TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM &
NỀN MĨNG NHÂN CÁCH BAN ĐẦU
Ở TRẺ MẪU GIÁO
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. CHUNG VĨNH CAO
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN TRÍ BẢO
MSSV: 46.01.611.010
LỚP: K46.TLH.B
TP.HỒ CHÍ MINH – 12/2021
MỤC LỤC:
A. PHẦN MỞ ĐẦU: ______________________________________________ 1
I. LỜI CẢM ƠN: ____________________________________________________ 1
II. LỜI DẪN LUẬN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: _________________________ 1
B. PHẦN NỘI DUNG: ____________________________________________ 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN: _______________________________________2
1. KHÁI NIỆM TÌNH CẢM VÀ CÁC LOẠI TÌNH CẢM CẤP CAO: __________2
2. KHÁI NIỆM NHÂN CÁCH: _________________________________________3
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM VÀ NỀN MÓNG NHÂN
CÁCH BAN ĐẦU Ở TRẺ MẪU GIÁO: _________________________________4
1. ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO: ______________4
1.1. Đặc điểm chung và “tính hợp lý” trong đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo: _4
1.2. Nội dung và hình thức thể hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo: _______________ 5
1.3. Sự phát triển thuận lợi của các tình cảm cấp cao: _______________________ 6
2. NỀN MÓNG NHÂN CÁCH CỦA TRẺ MẪU GIÁO: _____________________ 10
2.1. Sự phát triển các động cơ hành vi: __________________________________10
2.2. Sự hình thành thứ bậc các động cơ hành vi: ___________________________ 14
2.3. Sự phát triển của sự tự ý thức (hay sự xác định ý thức bản ngã): ___________15
2.4. Sự phát triển tính chủ định của tâm lý: _______________________________ 16
C. KẾT LUẬN: __________________________________________________ 18
1. KẾT LUẬN: ______________________________________________________ 18
1.1. Sự phát triển và đặc điểm chủ yếu nhất trong đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo
– vai trò của người lớn: ___________________________________________18
1.2. Vai trò của hoạt động cá nhân của trẻ với sự hình thành nền móng nhân cách: 19
1.3. Vai trị của người lớn đối với sự hình thành nền móng nhân cách ở trẻ mẫu giáo:
______________________________________________________________ 19
2. HẠN CHẾ CỦA TIỂU LUẬN: _______________________________________21
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: ________________________________ 21
...
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. LỜI CẢM ƠN:
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sĩ Chung Vĩnh Cao – một người
thầy vừa “đứng” tuổi đời, vừa “đứng” tuổi nghề mà tơi rất kính mến. Nhờ những phần
giảng bài rất sâu sắc, kĩ càng; nhờ những kinh nghiệm từ học thuật đến thường thức
mà thầy đã truyền đạt trong học phần Tâm lý học Phát triển 1 đã giúp tôi có thêm sự
tự tin và kinh nghiệm để phục vụ cho công việc học tập trong tương lai, cũng như có
thêm sự hiểu biết, kiến thức để hồn thành bài tiểu luận cuối kì này. Một lần nữa, xin
chân thành cảm ơn thầy !
Nguyễn Trí Bảo
II. LỜI DẪN LUẬN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Khi nhắc đến tâm lý học phát triển, mà đặc biệt là tâm lý học phát triển trẻ em;
bằng cảm nhận chủ quan, tôi cho rằng chủ đề về đời sống tình cảm và nền móng nhân
cách của trẻ ở độ tuổi mẫu giáo là hết sức đặc biệt và lý thú ở chỗ. Thứ nhất, trong
nhiều quan điểm, lý thuyết tâm lý học khác nhau về sự phát triển tâm lý của trẻ em,
thì độ tuổi này đều được nhắc đến nhiều và có tầm ảnh hưởng quan trọng là vậy;
Trong phân tâm học giai đoạn trẻ từ 3-6 tuổi được gọi là giai đoạn “Dương vật tượng
trưng – Phallic stage”, trong giai đoạn này trẻ xuất hiện “mặc cảm Oedipus” [5], đây
là một trong những vấn đề lý luận gây tranh cãi hàng đầu trong thuyết phân tâm cổ
điển của Sigmund Freud; Theo thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, trẻ từ 36 tuổi vừa thoát ra khỏi giai đoạn “giác động” và nằm trong giai đoạn “tiền thao tác”,
trong giai đoạn này trẻ biểu tượng hóa các sự vật, hiện tượng thơng qua ngơn ngữ,
hình vẽ hoặc trị chơi, ... [5]; Thứ hai, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo vấn còn phụ thuộc rất
nhiều vào người lớn, nên vai trò và ảnh hưởng của người lớn trong việc xây dựng nền
móng nhân cách lành mạnh cho trẻ là rất quan trọng. Với sự nhiều khác biệt và lý thú
về các quan điểm giữa các lý thuyết khác nhau và tầm ảnh hưởng quan trọng của
1
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
người lớn với sự phát triển tâm lý của trẻ trong giai đoạn này. Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo
cần nhận được sự quan tâm đúng mực của nó so với mặt bằng chung các lứa tuổi khác
khi bàn luận về sự phát triển và các đặc điểm tâm lý ở trẻ em trên các giảng đường
đại học, diễn đàn học thuật hay các tạp chí về tâm lý học ở Việt Nam, nhằm sớm đưa
ra một cái nhìn tổng thể nhất, khoa học nhất đối với sự phát triển tâm lý của trẻ trong
giai đoạn này, phục vụ cho giáo dục, phát triển con người.
Cũng vì lý do như đã nêu trên, trong xuyên suốt bài tiểu luận này, tôi chủ ý tham
khảo nhiều giáo trình tâm lý học phát triển khác nhau với mục đích làm rõ nội dung
trong tiểu luận với một cách nhìn nhận có sự so sánh, sự tham khảo thấu đáo hơn.
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH
CẢM & NỀN MÓNG NHÂN CÁCH BAN ĐẦU Ở TRẺ MẪU GIÁO” để thực hiện bài
tiểu luận cuối kì học phần Tâm lý học Phát triển 1.
B. PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1. KHÁI NIỆM TÌNH CẢM VÀ CÁC LOẠI TÌNH CẢM CẤP CAO:
Tình cảm là những thái độ đặc biệt của con người đối với những sự vật hiện tượng
trong hiện thực khách quan tuỳ thuộc vào sự vật hiện tượng đó có thoả mãn hay khơng
nhu cầu của con người. Thái độ đó được biểu hiện ở các rung động hay trải nghiệm
của chủ thể [7].
1.1. Tình cảm thẩm mĩ:
Tình cảm thẩm mĩ là những tình cảm có liên quan đến nhu cầu thẩm mĩ, nhu cầu về
cái đẹp của con người. Tình cảm thẩm mĩ biểu hiện thái độ thẩm mĩ của con người
đối với hiện thực (tự nhiên, xã hội, con người, lao động) [6].
1.2. Tình cảm đạo đức:
Tình cảm đạo đức là những tình cảm có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu đạo đức
của con người. Tình cảm đạo đức cịn là sự thể hiện thái độ của con người đối với
2
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
người khác, đối với xã hội và đối với trách nhiệm xã hội của bản thân [6]. Ví dụ như
tình u tổ quốc, u q hương, u ơng bà cha mẹ...
1.3. Tình cảm trí tuệ:
Tình cảm trí tuệ là những tình cảm nảy sinh trong q trình hoạt động trí óc. Nó liên
quan đến nhận thức, sáng tạo, đến sự thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người.
Tình cảm trí tuệ biểu hiện thái độ của con người đối với các ý nghĩ, tư tưởng, các quá
trình và kết quả hoạt động trí tuệ. Đó là sự ham hiểu biết, sự ngạc nhiên hoặc hoài
nghi hay tin tưởng, v...v [6].
2. KHÁI NIỆM NHÂN CÁCH:
“Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân thể hiện bản
sắc và giá trị xã hội của con người” [4]. Trong đó, “tổ hợp” là muốn nói đến nhiều
thuộc tính, đặc điểm bên trong, bao gồm nhiều tầng bậc, chúng sẽ được sắp xếp theo
một kết cấu nhất định và mỗi người sẽ có một kiểu riêng. Tức là các thành phần bên
trong của nhân cách không tồn tại rời rạc, không phải là sự cộng lại mà nó có một cấu
trúc liên kết nhất định và hoàn toàn riêng biệt ở mỗi người. “Thuộc tính tâm lý cá
nhân” chỉ một hiện tượng được xem xét có phải là thuộc tính của cá nhân đó dưới
góc độ nhân cách hay khơng bằng cách quan sát xem hiện tượng tâm lý đó có sự lặp
lại thường xuyên ở cá nhân hay không. “Bản sắc” nói đến cái riêng biệt, cái đặc trưng
riêng của mỗi người mà dựa vào nó ta có thể phân biệt được giữa người này với người
khác. “Giá trị xã hội” phản ánh mối quan hệ của hai bên, một bên là thực chất của
nhân cách, một bên là yêu cầu của xã hội. Mối quan hệ này càng trùng khớp với nhau
cao thì nhân cách đó càng được đánh giá cao và đánh giá xã hội có vai trị quan trọng
trong việc hình thành nhân cách.
3
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM & NỀN MĨNG NHÂN
CÁCH BAN ĐẦU Ở TRẺ MẪU GIÁO.
1. ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM CỦA TRẺ MẪU GIÁO:
1.1. Đặc điểm chung và “tính hợp lý” trong đời sống tình cảm của trẻ mẫu
giáo:
Cũng giống như trong lứa tuổi ấu nhi, tình cảm thống trị ở tất cả các mặt trong
đời sống tâm lý ở trẻ mẫu giáo. Khi trẻ biết đi quan hệ của trẻ với những người xung
quanh được mở rộng một cách đáng kể, từ đó tình cảm của trẻ cũng được phát triển
về nhiều phía đối với những người trong xã hội, đây là nguồn cảm xúc mạnh mẽ và
quan trọng bậc nhất trong đời sống tinh thần của trẻ mẫu giáo, mà nhất là ở độ tuổi
mẫu giáo nhỡ, từ 4 đến 5 tuổi đời sống tình cảm của trẻ có một bước chuyển biến
mạnh mẽ, phong phú và sâu sắc hơn so với các lứa tuổi trước đó.
Trong giai đoạn này, tình cảm của trẻ nảy sinh, biểu hiện trong các hoạt động của
trẻ mẫu giáo và cũng chi phối mọi hoạt động của nó. Tình cảm của trẻ phát triển mãnh
liệt, nó phụ thuộc rất nhiều vào những mối liên hệ qua lại của nó với người lớn và
các bạn đồng trang lứa, vậy nên hành vi của những người xung quanh có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sự xuất hiện và phát triển tình cảm của trẻ. Nếu người lớn chú ý đến
trẻ, có thái độ âu yếm, tơn trọng trẻ, thì trẻ cảm thấy sự n ổn, có tâm trạng thoải
mái, yêu đời. Nếu người lớn làm trẻ thất vọng hoặc đối xử bất công đối với trẻ, thì nó
sẽ thể nghiệm sự khơng hài lịng, buồn rầu và sẽ chuyển thái độ tiêu cực đó sang cho
những người xung quanh hoặc cho đồ chơi của mình.
Đặc điểm chủ yếu nhất trong đời sống tình cảm ở trẻ trong giai đoạn này là tính
đồng cảm và tính dễ xúc cảm, sự hồn nhiên, ngây thơ, tính chưa ổn định và dễ thay
đổi.
Cuối cùng, điểm đặc biệt nhất thể hiện sự phát triển trong đời sống tình cảm của
trẻ mẫu giáo so với trẻ ấu nhi là “tính hợp lý” trong đời sống tình cảm. “Tính hợp lý”
ở đây được hiểu là vai trò chi phối của nhận thức đối với những rung động trong xúc
cảm, tình cảm. Như vậy, ở trẻ mẫu giáo đã từng bước có nhận thức sáng suốt hơn so
4
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
với trẻ ấu nhi, điều này tác động đến xúc cảm, tình cảm ở trẻ, khiến nó phát triển trở
nên hợp lý hơn. Ví dụ, khi ba mẹ dẫn trẻ đi siêu thị và đi ngang qua quầy đồ chơi trẻ
em và trẻ địi mua, dù ba mẹ nói khơng mang theo tiền, nhưng đối với trẻ độ tuổi ấu
nhi sẽ nằng nặc địi cho bằng được mà khơng cần suy nghĩ, quan tâm đến lời ba mẹ;
ngược lại, với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo, dù có thể trẻ vẫn buồn hay nuối tiếc, nhưng nó
sẽ biết “thơng cảm” cho ba mẹ, trẻ sẽ khơng khóc lóc địi cho bằng được. Và “tính
hợp lý” trong đời sống tình cảm này sẽ đi xuyên suốt với sự phát triển các loại tình
cảm cấp cao ở trẻ mẫu giáo.
1.2. Nội dung và hình thức thể hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo:
Trẻ bộc lộ tình cảm của mình một cách rất mạnh mẽ đối với người xung quanh, trước
hết là ba, mẹ, anh, chị, em. Biểu hiện là trẻ thường thể hiện sự quan tâm, thông cảm
hay trẻ sẽ tỏ ra rất buồn khi thấy người thân mình bị ốm đau, trẻ sẽ muốn an ủi hay
chăm sóc họ.
Tiếp đó, do được chơi trong nhóm bạn bè nên trẻ cũng bắt đầu thể hiện sự quan
tâm với các bạn trong nhóm. Sẵn sàng chia đồ chơi hay quà bánh của mình cho bạn.
Một biểu hiện đặc biệt nữa là trẻ mẫu giáo rất quan tâm đến những em bé. Có thể
là do trẻ muốn đóng vai bố/ mẹ để trơng nom em giống như người lớn (đây cũng là
một dạng của trị chơi “Đóng vai theo chủ đề” xuất hiện trong hoạt động chủ đạo ở
độ tuổi này). Ví dụ như trẻ thường kêu “Mẹ sinh thêm em cho con nuôi”, v..v.
Trẻ thèm khát sự trìu mến, thương yêu, đồng thời lo sợ trước thái độ thờ ơ, lạnh
nhạt của người khác dành cho mình. Biểu hiện là trẻ sẽ vui mừng khi được bố mẹ
hoặc bạn bè khen ngợi. Ngược lại, trẻ sẽ tỏ ra rất buồn và khóc khi người lớn tỏ ra
khơng quan tâm đến nó hoặc khi bị bạn bè trong lớp “tẩy chay”.
Tình cảm của trẻ đối với người khác được bộc lộ khá rõ ràng và nồng thắm, tình
cảm của trẻ có thể được chuyển qua nhiều đối tượng, sự vật, hiện tượng khác nhau ví
dụ như các nhân vật trong chuyện cổ tích: trẻ biết buồn, biết thông cảm cho những
nhân vật bất hạnh trong chuyện. Trẻ có thể từ nghe thụ động thành một người tham
gia tích cực vào câu chuyện đó, biểu hiện là trẻ có thể có những hành động can thiệp
5
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
trực tiếp vào nhân vật trong chuyện (vẽ má hồng cho cô Tấm, lấy bút gạch mặt, vẽ
xấu cho Cám) nhằm thể hiện tình cảm của mình đối với các nhân vật.
Với động vật, đồ chơi, các hiện tượng thiên nhiên, v...v thì trẻ thường gắn cho
chúng những sắc thái tình cảm của con người, ví dụ như xót thương cho thú cưng bị
chết hoặc giận ông trời đã đổ cơn mưa làm nó khơng được ra đường chơi với các bạn.
1.3. Sự phát triển thuận lợi của các tình cảm cấp cao:
Các loại tình cảm cấp cao như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm
mĩ đều ở thời điểm phát triển thuận lợi nhất. Mà đặc biệt là tình cảm đạo đức, bởi vì
ở tuổi mẫu giáo, hoạt động chủ đạo của trẻ chính là vui chơi - mà trung tâm là trị
chơi đóng vai theo chủ đề. Trong trị chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ chủ yếu phản ánh
lại cuộc sống, hoạt động trong các mối quan hệ của người lớn; trẻ cần để ý kỹ người
lớn để làm sao phản ánh lại hoạt động của người lớn cho chính xác nhất nhằm thỏa
mãn nhu cầu trở thành người lớn của trẻ. Vậy nên, chính khi quan sát người lớn hoạt
động trong các mối quan hệ (với đồng nghiệp, vợ/ chồng, trẻ em, người già, ...) để
phản ánh lại sao cho giống, trẻ đã đồng thời học được các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Ví dụ như, cách người lớn nói chuyện với nhau, cách bác sĩ nói chuyện với bệnh
nhân, cách cơ giáo nói chuyện với các bạn, cách ơng/ bà, cha/ mẹ nói chuyện với
nhau sao cho đúng chuẩn mực đạo đức.
1.3.1. Tình cảm thẩm mĩ:
Tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát cảm của những xúc cảm thẩm mĩ. Ví dụ như
tình u cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Đây thực chất
là tình cảm được khêu gợi lên bởi những xúc cảm về cái đẹp của con người, của tình
người. Trẻ mẫu giáo biết rung cảm khá nhạy bén với những cái đẹp trong thế giới
xung quanh, đó là những xúc cảm tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực
tiếp với cái đẹp khiến trẻ thấy thiết tha với con người và cảnh vật xung quanh, loại
tình cảm này có thể kích thích trẻ làm những điều tốt lành và đem niềm vui đến cho
mọi người.
6
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
Trẻ nhận thức thế giới và tỏ thái độ với những sự vật xung quanh mình thường
là thơng qua những xúc cảm thẩm mỹ này. Biểu hiện là trẻ dễ sung sướng, ngỡ ngàng
trước vẻ đẹp tưởng chừng như rất đơn giản trong thiên nhiên, trong cuộc sống: khi
nhìn thấy một bơng hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ, một khúc nhạc hay.
Sự phát triển mạnh những xúc cảm thẩm mĩ kết hợp với trí nhớ máy móc vốn
có ở trẻ, khiến cho ở lứa tuổi này trẻ rất nhạy cảm với những tác phẩm văn học nghệ
thuật và dẫn đến trẻ dễ tiếp nhận, dễ thuộc những bài thơ, bài hát có vần điệu rõ ràng,
có giai điệu hay, dễ nghe.
Vì vậy đây là thời điểm thuận lợi cho việc giáo dục thẩm mỹ và chính nó lại
mang lại một hiệu quả to lớn đối với sự phát triển nhân cách tồn diện của trẻ, khó
có gì có thể so sánh được. Người lớn cần tạo cho trẻ một môi trường khơng chỉ kích
thích hoạt động của trẻ, mà cịn là môi trường đẹp để gợi cho trẻ những cảm xúc thẩm
mĩ - đạo đức. Giáo viên không chỉ hướng dẫn cho trẻ cảm thụ cái đẹp, mà còn biết
tạo ra cái đẹp, nuôi dưỡng ở trẻ nhu cầu muốn làm cho mình trở nên đẹp (trong nét
mặt, cử chỉ, lời nói, sinh hoạt hàng ngày) để đem lại niềm vui cho những người xung
quanh.
Trong sự phát triển tình cảm thẩm mĩ ở trẻ mẫu giáo, có thể thấy sự xuất hiện
của “tính hợp lý”. Tình cảm thẩm mĩ ở trẻ mẫu giáo phát triển hơn ấu nhi ở chỗ, ở độ
tuổi ấu nhi thì cái “đẹp” hay “xấu” hồn tồn phụ thuộc vào sự đánh giá của người
lớn chứ trẻ khơng tự đánh giá được, ngun do là vì nhận thức của trẻ ở độ tuổi này
chưa đủ để định hướng hay cảm nhận những rung động thẩm mĩ. Đến độ tuổi mẫu
giáo, nhận thức được từng bước phát triển hơn so với trẻ ấu nhi, nên trẻ đã bắt đầu
biết dựa trên nhận thức, suy nghĩ của chính mình để nhận định, đánh giá một sự vật,
hiện tượng là “đẹp” hay “xấu”.
1.3.2. Tình cảm đạo đức:
Tình cảm của con người chỉ nảy sinh trong những mối quan hệ giữa người và
người. Ở tuổi mẫu giáo, quan hệ của trẻ với mọi người trong xã hội là nguồn tình cảm
mạnh mẽ nhất và quan trọng nhất trong đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo.
7
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
Đầu tiên, nhu cầu được quan tâm, được yêu thương của trẻ rất lớn và trẻ biểu
lộ tình cảm của mình đối với những người thân, người xung quanh một cách mạnh
mẽ (bố mẹ, anh chị, cơ giáo…). Trẻ đã biết đặt mình vào địa vị người mà nó gắn bó,
thể nghiệm niềm vui sướng, sự đau đớn, … mà người đó trải qua như là cảm xúc của
chính mình.
Trẻ thể hiện sự quan tâm, chăm sóc với người xung quanh (buồn khi người thân
ốm đau). Hành vi của những người xung quanh ln gây ra ở trẻ tình cảm mn hình
mn vẻ như niềm vui sướng, lòng tự hào, sự mất lòng, … . Trẻ rất quan tâm đến các
em bé, biểu hiện là trẻ tỏ thiện chí, muốn chăm sóc để thể hiện vai trò của một người
lớn.
Trẻ mẫu giáo tuy chưa có tình bạn ổn định vì trẻ thường kết bạn theo hồn cảnh
cụ thể, ví dụ như gần nhà, cơ xếp ngồi gần hay do thích chơi cùng, … . Nhưng trẻ đã
biết quan tâm đến bạn trong nhóm, biểu hiện là trẻ biết buồn khi bạn vắng, giúp đỡ
bạn, chia sẻ đồ chơi, chơi cùng một cách thích thú, đồng cảm khi bạn gặp khó khăn.
Tình cảm của trẻ dễ dàng được chuyển vào các nhân vật trong truyện cổ tích
hoặc chuyện kể. Trẻ thâm nhập vào câu chuyện, trải nghiệm cảm xúc cùng nhân vật.
Những xúc cảm xuất hiện khi trẻ nghe truyện, xem truyện cổ tích biến trẻ từ một
thính giả thụ động thành một người can thiệp trực tiếp vào truyện, bằng cách trẻ sẽ
vẽ vào đấy để tỏ thái độ. Trẻ còn biểu lộ tình cảm đối với thế giới động vật, cỏ cây,
hoa lá… Khi tìm hiểu những đối tượng này trẻ có xu hướng gán cho chúng những sắc
thái tình cảm của con người.
Khi trẻ hoạt động trong tập thể, hình thành tình cảm mới - tinh thần trách nhiệm,
nghĩa vụ trước người khác, yêu cầu cao với bản thân. So sánh mình với các bạn, trẻ
thể nghiệm tình cảm: lịng tự hào, tự tin hoặc thiếu tự tin, tính xấu hổ, biết tự kiềm
chế, tự làm chủ bản thân.
Đây là thời điểm thuận lợi để giáo dục lòng nhân ái cho trẻ. Cần giáo dục cho
trẻ tình yêu quê hương đất nước, con người. Giúp hình thành ở trẻ tình yêu, lịng kính
trọng đối với đất nước, người lao động và sản phẩm lao động.
8
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
“Tính hợp lý” cũng xuất hiện trong tình cảm đạo đức của trẻ mẫu giáo, nó cho
thấy sự phát triển hơn của loại tình cảm cấp cao này so với lứa tuổi trước đó. Ví dụ
như ở độ tuổi ấu nhi, khi trẻ nghe ba mẹ kể chuyện, trẻ cần đến sự phân tích, diễn giải
của ba mẹ để phân định, nhận định được đâu là nhân vật “tốt” hay “xấu”, nhân vật
“chính diện” hay “phản diện” và có biểu hiện tương ứng về mặt xúc cảm, tình cảm,
chứ trẻ chưa tự đánh giá được bằng nhận thức của chính mình. Tới độ tuổi mẫu giáo,
nhận thức của trẻ từng bước phát triển hơn, vì vậy trẻ bắt đầu biết tự dựa vào nhận
thức, suy nghĩ của mình để tự đưa ra nhận định, đánh giá xem đâu là nhân vật “tốt”
hay “xấu”, “chính diện” hay “phản diện”.
1.3.3. Mối liên hệ giữa tình cảm thẩm mĩ và tình cảm đạo đức:
Đối với trẻ mẫu giáo cái đẹp và cái tốt chỉ là một, khó mà chia cắt rạch rịi. Vì
vậy, trong tình cảm thẩm mĩ đã chứa đựng yếu tố đạo đức. Và ngược lại, trong tình
cảm đạo đức đã chứa đựng yếu tố thẩm mĩ, có thể gọi chung là tình cảm thẩm mĩ đạo đức.
Chính vì vậy trong giáo dục mẫu giáo, cần quan tâm nhiều đến việc giáo dục
thẩm mĩ cho trẻ, vì thơng qua giáo dục thẩm mĩ mà giáo dục các mặt khác, đặc biệt
là giáo dục đạo đức cho trẻ. Tạo cho trẻ mẫu giáo một môi trường “thẩm mĩ – đạo
đức” thuận lợi để kích thích các mặt hoạt động của trẻ. Lưu ý, tạo ra một môi trường
“thẩm mĩ” tức là không chỉ từ những đồ chơi, đồ dùng, đến việc trang trí lớp học,
cách tổ chức những hoạt động cho trẻ mang tính thẩm mĩ mà còn phải tổ chức sao
cho hoạt động của những người xung quanh như ba, mẹ, thầy cô (cách họ ăn mặc,
nói năng, đi đứng, cách cư xử, ...) cũng phải mang tính thẩm mĩ. Người lớn cần quan
tâm, thực hiện chúng sao cho phù hợp, đẹp mắt, để gợi nên ở trẻ những tình cảm thẩm
mỹ - đạo đức, làm tiền đề cho sự phát triển nhân cách lành mạnh về sau.
1.3.4. Tình cảm trí tuệ:
Trẻ mẫu giáo thể hiện tình cảm trí tuệ trong những câu hỏi muôn màu muôn vẻ
của chúng, trong niềm vui khi tự làm hoặc khám phá ra được điều gì đó. Biểu hiện là
trẻ 2 tuổi đã rất thích nghe kể chuyện vì nó cảm thấy vui mừng khi được tiếp xúc với
9
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
người lớn. Trẻ chỉ mới hiểu lờ mờ nội dung của bản thân câu chuyện, vì thế trẻ thường
yêu cầu kể đi kể lại một câu chuyện. Ở trẻ mẫu giáo, nội dung câu chuyện kể đã gây
hứng thú cho trẻ, trẻ lo lắng cho số phận của các nhân vật chính nghĩa, tán thưởng
hay không tán thưởng hành vi của họ, muốn tìm hiểu những gì xảy ra tiếp theo. Trẻ
hay thêm thắt vào câu chuyện, đưa ra ý kiến của mình, biểu lộ sự tức giận, xúc động…
Ngoài ra, các loài động vật, chim chóc là những đối tượng mới gây nên tình
cảm nhận thức ở trẻ rất rõ, biểu hiện là trẻ thích chú ý đến thói quen của súc vật, quan
sát hình dạng bên ngồi của chúng: cái mỏ, cái chân, bộ lơng, hoạt động …, trẻ thích
chăm sóc thú cưng và biểu lộ tình cảm yêu thương với chúng.
Ở tình cảm trí tuệ, cũng vì nhận thức của trẻ mẫu giáo phát triển hơn, có thể
thấy câu hỏi của trẻ mẫu giáo khác với câu hỏi của trẻ ấu nhi. Ví dụ, trẻ ấu nhi sẽ hỏi
mẹ là “Con với bạn này ai ngoan hơn ?” còn trẻ mẫu giáo sẽ hỏi là “tại sao bạn này
ngoan hơn con ?”. Tức là, loại câu hỏi của trẻ ấu nhi mang tính tri giác đơn giản bề
ngồi, cịn loại câu hỏi của trẻ mẫu giáo mang tính đào sâu hơn với đặc điểm bản chất
để tìm hiểu, với hiện tượng nhận thức đi kèm phát triển hơn – đó là tư duy. Đây là
đặc điểm cho thấy tình cảm trí tuệ ở trẻ mẫu giáo đã phát triển hơn so với lứa tuổi
trước đó.
1.3.5. Tình cảm lao động “chớm nở”:
Ở trẻ mẫu giáo có ba hình thức lao động cơ bản: Lao động tự phục vụ/ lao động
phụ giúp với người lớn và lao động cơng ích đơn giản. Từ ba hình thức lao động đơn
giản này, trẻ hình thành tình cảm đối với sản phẩm lao động của bản thân trẻ, cảm
nhận được niềm vui mang lại cho người khác và niềm vui khi sống như người có ích.
Từ đó, trẻ hình thành những tình cảm sơ khởi đầu tiên đối với lao động.
2. NỀN MÓNG NHÂN CÁCH CỦA TRẺ MẪU GIÁO:
2.1. Sự phát triển các động cơ hành vi.
Đến tuổi mẫu giáo nhỡ, các động cơ đã xuất hiện trước đây như động cơ muốn
tự khẳng định, muốn được sống và làm việc giống như người lớn, muốn nhận thức
sự vật và hiện tượng xung quanh, v...v đều được phát triển mạnh mẽ.
10
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã phát triển muôn màu, mn vẻ. Các
động cơ quan trọng có thể kể đến như: động cơ tự khẳng định, động cơ nhận thức,
muốn khám phá về thế giới xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xã hội, ... Trong
những động cơ đó có thể có sự pha trộn mặt tích cực lẫn tiêu cực, nhất là đối với
những động cơ xã hội. Do đó cần phải quan tâm đến nội dung động cơ của trẻ, cần
phải phát huy động cơ tích cực và uốn nắn động cơ tiêu cực.
2.1.1. Động cơ đạo đức, xã hội:
Những động cơ đạo đức, thể hiện thái độ của trẻ đối với những người khác có
một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các động cơ hành vi; gắn liền với
việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực về những quy tắc đạo đức hành vi trong xã
hội.
Lúc đầu, với trẻ việc thực hiện những quy tắc hành vi xã hội chỉ là phương tiện
để trẻ duy trì mối quan hệ qua lại tích cực giữa bản thân với người lớn xung quanh.
Nhưng sau đó, trẻ được tán thưởng, khen ngợi, trẻ sẽ vui vẻ thực hiện những hành vi
đó như một sự bắt buộc của chính mình. Như thế là để đáp ứng đòi hỏi của xã hội,
tức là trẻ hiểu được ý nghĩa xã hội của những hành vi này. Ví dụ: với câu hỏi: “Tại
sao khơng được đánh bạn?”, trẻ mẫu giáo bé sẽ trả lời: “Không được đánh nhau, đánh
nhau sẽ bị phạt”. Trẻ mẫu giáo nhỡ lại trả lời “Khơng được đánh bạn vì cơ giáo đã
dặn là phải yêu thương bạn”.
Với trẻ mẫu giáo nhỡ, những động cơ xã hội muốn làm một cái gì đó cho người
khác, mang lại niềm vui cho người khác bắt đầu chiếm vị trí ngày càng lớn trong số
các động cơ đạo đức. Trẻ bắt đầu hiểu rằng, những hành vi của bản thân có thể mang
lại lợi ích cho người khác và chúng bắt đầu thực hiện những công việc vì người khác
theo sáng kiến của bản thân. Bên cạnh đó, người lớn cũng cần nói cho trẻ hiểu để trẻ
có sự hình dung rõ ràng về những việc mình làm là có đem lại niềm vui cho những
người mình quan tâm. Ví dụ, muốn cho trẻ mẫu giáo hồn thành được cơng việc làm
đồ chơi tặng cho các bé ở nhà trẻ nhân dịp tết trung thu, cô giáo phải kể cho chúng
nghe dưới một hình thức rõ ràng và giàu hình tượng về sự thèm khát có đồ chơi của
11
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
những em bé ở nhà trẻ, về sự bất lực của các em nhỏ, về niềm vui của các em bé đó
khi nhận được quà trung thu do các anh chị mẫu giáo gửi cho. Dần dần sau này về
cuối tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ có thể tự giác thực hiện các yêu cầu của người lớn.
Sự hình thành những động cơ xã hội ở trẻ mẫu giáo nhỡ đánh dấu một bước
trưởng thành so với trẻ mẫu giáo bé. Chẳng hạn, khi người ta hỏi các cháu mẫu giáo
bé đang làm trực nhật là tại sao chúng làm việc đó thì thường nhận được những câu
trả lời như: "Tại cô bảo", "Tại cháu thích". Nhưng trẻ mẫu giáo nhỡ thì lại có cách trả
lời khác: "Cháu cần phải giúp đỡ bác lao cơng kẻo một mình bác làm bị mệt" hoặc
"Cháu phải dọn cơm cho các bạn ăn không thôi các bạn đói rồi".
2.1.2. Động cơ gắn liền hứng thú của trẻ với thế giới người lớn, khát vọng
hành động giống người lớn:
Nguyện vọng được giống như người lớn, được làm mọi việc như người lớn.
Nguyện vọng này thể hiện trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ muốn làm cơng
việc của người lớn, thể hiện các mối quan hệ của người lớn với nhau.
Người lớn như ba mẹ, thầy cô có thể sử dụng nguyện vọng này để giáo dục tính
độc lập cho trẻ hoặc yêu cầu trẻ trong hành vi. Ví dụ, người lớn tự mặc quần áo, người
lớn khơng khóc nhè, ... .
2.1.3. Động cơ thiết lập và giữ gìn mối quan hệ tốt với người lớn và các
bạn:
Loại động cơ này có ý nghĩa quan trọng trong hành vi của trẻ mẫu giáo. Muốn
được người khác khen ngợi là động lực mạnh mẽ trong hành vi của trẻ. Khát vọng
vươn tới mối quan hệ tốt với người lớn buộc trẻ phải chú ý đến ý kiến đánh giá của
họ và phải thực hiện các quy tắc hành vi do người lớn đặt ra.
Trong mối quan hệ với trẻ khác: trẻ càng tiếp xúc nhiều với bạn thì thái độ của
bạn đối với nó ngày càng quan trọng. Biểu hiện, trẻ 3-4 tuổi thời kỳ đầu dường như
không nhận thấy những đứa trẻ khác xung quanh, nó hành động hồn tồn như khơng
có bạn bên cạnh. Chẳng hạn, trẻ có thể kéo ghế của bạn nếu nó muốn ngồi. Trẻ 5-6
12
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
tuổi muốn được các bạn có cảm tình và đánh giá tốt trở thành động cơ hành vi có hiệu
quả nhất. Trẻ đặc biệt được nhiều người ưa thích.
2.1.4. Động cơ tự khẳng định:
Cuối tuổi ấu nhi, trẻ có nguyện vọng tách ra khỏi người khác. Ở trẻ mẫu giáo,
động cơ tự khẳng định tiếp tục phát triển. Trẻ muốn được người khác lắng nghe yêu
cầu của nó, chú ý thực hiện nguyện vọng của nó. Biểu hiện của tự khẳng định trong
trị chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ sẽ thích đóng vai chính, vai người lớn, khơng thích
đóng vai trẻ con. Ở mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ, trẻ tự gán cho mình những phẩm
chất tốt mà khơng cần biết chúng có phù hợp với thực tế hay khơng. Ví dụ như khẳng
định mình khỏe, có thể nâng nổi con voi.
Khát vọng tự khẳng định trong một số điều kiện nhất định có thể dẫn tới biểu
hiện tiêu cực dưới hình thức đỏng đảnh và bướng bỉnh để thu hút sự chú ý của người
khác. Ví dụ, những địi hỏi, thay đổi thất thường của trẻ khi đang chơi, đang ăn…Đây
thường là những đứa trẻ khơng có sáng kiến, khơng tự khẳng định mình bằng khả
năng của nó.
2.1.5. Động cơ nhận thức và động cơ thi đua:
Ta có thể thấy trẻ em ở tuổi mẫu giáo nhỡ thực hiện một cách có ý thức cơng
việc mang nội dung đạo đức tốt đẹp. Chẳng hạn trong một buổi chơi chung giữa trẻ
em thuộc nhiều độ tuổi khác nhau (bé, nhỡ, lớn) ở một trường mẫu giáo bé làm hỏng
đồ chơi và đang muốn nhờ người khác giúp đỡ. Cô giáo liền hỏi: "Anh chị nào có thể
giúp em bé sửa lại đồ chơi?" Lập tức rất nhiều trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn giơ tay sẵn
sàng tình nguyện bỏ cuộc chơi của mình đến giúp em bé.
Trong động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ cịn có thêm yếu tố thi đua giữa
mình với các bạn, giữa tổ mình với các tổ khác. Yếu tố thi đua kích thích trẻ hoạt
động một cách tích cực. Những lời nhắc nhở như "Ai làm nhanh hơn", "Tổ nào làm
tốt hơn"... đối với trẻ mẫu giáo nhỡ có một sức động viên khiến cho trẻ thực hiện
cơng việc tốt hơn bình thường. Tuy nhiên người lớn không nên biến tinh thần thi đua
của trẻ thành tính ganh đua.
13
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
2.2. Sự hình thành thứ bậc các động cơ hành vi.
Sự biến đổi động cơ hành vi trong tuổi mẫu giáo nhỡ không chỉ thể hiện ở mặt
nội dung của động cơ và sự xuất hiện nhiều loại động cơ mới, mà điều cần lưu ý là
trong lứa tuổi này đã bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động
cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc các động cơ ⇒ Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong
sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo.
Trong hệ thống thứ bậc này, các động cơ được sắp xếp theo ý nghĩa quan trọng
của mỗi động cơ đối với bản thân đứa trẻ. Chẳng hạn, trong việc làm trực nhật, không
phải chỉ một động cơ thúc đẩy, mà thường có nhiều động cơ tham gia như: có thể là
vì trẻ thích bản thân cơng việc trực nhật, hoặc có thể trẻ nghĩ rằng làm trực nhật để
được cơ khen, hoặc cũng có thể là giúp các bác cấp dưỡng v...v.
Những động cơ này thường không tồn tại ngang nhau. Tùy theo mỗi đứa trẻ,
động cơ nào được nổi lên hàng đầu, chiếm vị trí ưu thế. Chẳng hạn, ở trẻ A thì do bản
thân cơng việc làm cháu thích, vì làm trực nhật được chia bát đĩa, bưng thức ăn, được
đeo yếm giống như các bác ở khu bếp. Ở trẻ B thì lịng thương u, sự đồng cảm với
những khó nhọc của bác cấp dưỡng đã khiến cho nó thích cơng việc này. Ở cháu C
thì ý muốn cho mình được chọn bát đĩa đẹp, chỗ ngồi theo ý thích, được điều khiển
các bạn lại nổi lên hàng đầu.
Như vậy là trước một công việc, mỗi trẻ em đều có thể có một hệ thống thứ bậc
các động cơ thúc đẩy. Sự khác nhau giữa trẻ em ở đây rõ nhất là trong hệ thống thứ
bậc ấy động cơ nào sẽ chiếm ưu thế nhất. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự giáo
dục của người lớn và ảnh hưởng của cuộc sống bên ngoài mà trẻ tiếp xúc.
Hệ thống thứ bậc các động cơ được hình thành ở tuổi này khiến cho hành vi của
trẻ nhằm theo một xu hướng nhất định. Đây là điểm khác nhau trong hành vi của trẻ
mẫu giáo nhỡ so với hành vi của trẻ mẫu giáo bé. Chẳng hạn, hành vi của trẻ mẫu
giáo bé thường không xác định được phương hướng chủ yếu. Đứa trẻ vừa mới cho
bạn kẹo, bây giờ lại giành đồ chơi của bạn. Một đứa trẻ khác vừa mới hăng hái giúp
mẹ dọn dẹp trong phòng, chỉ vài phút sau lại rủ bạn đến xả rác lung tung. Ở tuổi mẫu
14
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
giáo nhỡ trở đi, hành vi của trẻ tương đối dễ xác định. Nếu có động cơ xã hội, tức là
muốn đem lại lợi ích cho người khác chiếm ưu thế, trong đại đa số trường hợp, đứa
trẻ sẽ thực hiện những hành vi mang tính đạo đức tốt đẹp. Ngược lại nếu động cơ
nhằm thoả mãn ý thích hay quyền lợi riêng của bản thân chiếm ưu thế, thì trong nhiều
trường hợp, đứa trẻ sẽ hành động nhằm tìm kiếm những quyền lợi cá nhân ích kỷ,
dẫn đến những sai phạm về quy tắc đạo đức xã hội.
Đối với những trẻ đang có những quyền lợi cá nhân ích kỷ, dẫn đến những sai
phạm về quy tắc đạo đức xã hội này cần áp dụng những biện pháp giáo dục thích
hợp, có hiệu quả nhằm thay đổi những cơ sở của nhân cách đã được hình thành một
cách bất lợi này, cần cảm hố trẻ bằng tình u thương, đồng thời lại đòi hỏi ở chúng
sự yêu thương và quan tâm đến những người xung quanh, tạo ra những tình huống để
gợi lên ở trẻ những hành vi đạo đức tốt đẹp. Việc giáo dục này cần thiết phải làm
ngay từ khi hệ thống thứ bậc động cơ vừa mới bắt đầu hình thành, có như vậy sau
này mới đỡ mất cơng giáo dục lại từ đầu.
2.3. Sự phát triển của sự tự ý thức (hay sự xác định ý thức bản ngã).
2.3.1. Biểu hiện của sự tự ý thức:
a. Trong sự tự đánh giá bản thân:
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn, khi thực sự tham gia vào trị chơi đóng vai trẻ có thể
nhận ra giá trị, vị trí của mình trong “xã hội trẻ em” thơng qua những lời nhận xét
đánh giá của người lớn về mình, về những bạn khác. Trẻ có thể bắt trước hành động
đánh giá đó để so sánh giữa mình và các bạn xung quanh.
Sự tự đánh giá bị chi phối bởi cảm xúc của trẻ với người trẻ đánh giá. Những
chuẩn mực và quy tắc hành vi cũng phần nào đó giúp trẻ đánh giá tốt hơn bản thân
mình và người khác, nhưng nhìn chung vẫn chịu sự chi phối của tình cảm.
Cuối mẫu giáo, trẻ mới nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là
cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương những
người tốt, việc tốt.
15
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
b. Trong sự phát triển ý thức về giới tính:
Ở tuổi mẫu giáo lớn trẻ biết được giới tính của bản thân và của người khác, cùng
với đó trẻ biết những hành vi cần phải thể hiện như thế nào để phù hợp với từng giới
tính. Nên trẻ sẽ tiếp nhận, noi gương những hành vi của người cùng giới.
2.3.2. Ý nghĩa của sự tự ý thức:
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi
của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm nét hơn trước.
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động
một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các q trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt.
2.4. Sự phát triển tính chủ định của tâm lý.
Mặc dù các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong hoạt động
tâm lý và hoạt động trí tuệ. Song, tính chủ định của tâm lý đã bắt đầu phát triển rõ
ràng ở tuổi mẫu giáo lớn.
2.4.1. Tính chủ định trong tâm lý của trẻ mẫu giáo được phát triển thơng
qua trị chơi có luật:
Ở tuổi mẫu giáo lớn trẻ biết đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để
thực hiện hành động. Điều đó thúc đẩy các hành động định hướng bên trong (tức là
các quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõ ràng.
Tính chủ định này được phát triển cùng với sự tiến triển của hoạt động vui chơi
ở trẻ mẫu giáo lớn, làm cho dạng trị chơi đóng vai theo chủ đề chuyển dần sang dạng
trị chơi có luật rõ hơn. Trong trị chơi có luật: hành động chơi có mục đích rõ ràng
hơn: khơng phạm luật và phải đạt kết quả cao nhất. nhờ những trị chơi có luật lệ rõ
ràng hơn khiến các quá trình tâm lý được biến đổi rõ rệt từ những q trình tâm lý
khơng chủ định chuyển sang q trình tâm lý có chủ định. vd Tri giác/ chú ý/ trí nhớ
có chủ định
16
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
→ Việc tham gia vào những trị chơi có luật làm cho hoạt động của trẻ trở nên có
chủ tâm hơn, từ những q trình tâm lý khơng chủ định chuyển sang q trình tâm lý
có chủ định (tri giác, chú ý, ghi nhớ có chủ định). Nguyên do: động cơ chơi thay đổi
(chuyển từ quá trình chơi sang kết quả chơi).
2.4.2. Chú ý có chủ định phát triển:
Ở tuổi mẫu giáo bé thì trẻ chỉ tập trung chú ý vào một đối tượng trong một
khoảng thời gian ngắn, sự ham thích với đối tượng này cịn chưa hết trẻ đã nhanh
chóng chuyển sang đối tượng khác. Đến tuổi mẫu giáo lớn thì thời gian chú ý tập
trung đối với những hứng thú của trẻ đã bền vững hơn nên trẻ cũng tiếp nhận được
nhiều thơng tin từ đối tượng đó hơn. (Ngơn ngữ phát triển cũng giúp trẻ biết điều
khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý của mình vào những đối tượng nhất
định.)
2.4.3. Sự phát triển của mặt ý chí:
Do sự xác định ý thức bản ngã được rõ ràng hơn và các q trình tâm lý mang
tính chủ định làm cho các hành động ý chí của trẻ được bộc lộ rõ nét, ví dụ trẻ khơng
dễ từ bỏ những hoạt động mà mình thích và cố gắng chú ý, ghi nhớ, ... để cải thiện
kết quả chơi như hạn chế phạm luật hay luyện tập để chạy nhanh hơn hay chơi giỏi
hơn.
→ Có thể coi sự phát triển mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức,
khiến cho nhân cách trẻ được khẳng định.
Ý chí ở tuổi mẫu giáo bé/ nhỡ/ lớn: tuổi mẫu giáo bé tính bộc phát cịn chiếm
ưu thế trong hành vi, biểu hiện ý chí thi thoảng mới xuất hiện. Mẫu giáo nhỡ thì số
lượng hành động ý chí tăng lên rõ rệt nhưng vẫn chưa chiếm một vị trí đang kể trong
cách ứng xử. Mẫu giáo lớn thì những biểu hiện ý chí tương đối lâu, rõ ràng hơn dù
vẫn còn thua xa với học sinh đầu tiểu học.
Sự phát triển hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn có sự liên kết giữa ba mặt:
17
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
-
Sự phát triển tính mục đích của hành động (mục đích càng rõ thì sự cố gắng
để thực hiện càng cao)
-
Sự xác lập quan hệ giữ mục đích của hành động với động cơ (khi trẻ đã hình
thành những thứ bậc động cơ ổn định mà nếu mục đích hành động khơng tương
ứng với động cơ cao nhất của trẻ thì ý chí vượt những khó khăn để thực hiện
hành động đó cũng sẽ khơng cao).
-
Tăng vai trị điểu chỉnh của ngơn ngữ trong việc thực hiện các hành động.
C. KẾT LUẬN:
1. KẾT LUẬN:
1.1. Sự phát triển và đặc điểm chủ yếu nhất trong đời sống tình cảm của trẻ
mẫu giáo – vai trò của người lớn:
Đặc điểm chủ yếu nhất trong đời sống tình cảm ở trẻ trong giai đoạn này là tính
đồng cảm và tính dễ xúc cảm, sự hồn nhiên, ngây thơ, tính chưa ổn định và dễ thay
đổi. Các loại tình cảm cấp cao như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm
mĩ đều ở thời điểm phát triển thuận lợi nhất. Mà đặc biệt là tình cảm đạo đức, vì khi
tham gia trị chơi đóng vai theo chủ đề để phản ánh lại hoạt động của người lớn, trẻ
cần để ý kỹ để phản ánh lại sao cho giống hoạt động của người lớn, khi đó trẻ đã đồng
thời học được các chuẩn mực đạo đức xã hội. Trẻ mẫu giáo đã từng bước có nhận
thức sáng suốt hơn so với trẻ ấu nhi, điều này tác động đến xúc cảm, tình cảm ở trẻ,
khiến nó phát triển trở nên hợp lý hơn. Và “tính hợp lý” trong đời sống tình cảm này
sẽ đi xuyên suốt với sự phát triển đời sống tình cảm cũng như các loại tình cảm cấp
cao ở trẻ mẫu giáo.
Người lớn có nhiệm vụ thường xuyên quan tâm, để ý tới các biểu hiện về
mặt xúc cảm, tình cảm của trẻ để xem đời sống tình cảm của trẻ có phát triển đúng
và hợp lý so với lứa tuổi mẫu giáo hay không. Cần cảm nhận, xem xét và đánh giá
xem “tính hợp lý” đã xuất hiện trong đời sống tình cảm trẻ ở giai đoạn này hay chưa,
nhằm kịp thời đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp. Bên cạnh đó, người lớn
cần tự để ý và thường xuyên tự điều chỉnh hành vi của mình cho đúng mực và
hợp lý với các chuẩn mực đạo đức, hành vi, để khi trẻ quan sát và phản ánh lại nó
18
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
trong hoạt động vui chơi, trẻ cũng đồng thời tiếp thu những chuẩn mực đạo đức, hành
vi ấy – đây là một lưu ý hết sức quan trọng để góp phần cho đời sống tình cảm của
trẻ được phát triển lành mạnh, ổn định và theo chiều hướng tích cực.
1.2. Vai trị của hoạt động cá nhân của ở trẻ với sự hình thành nền móng
nhân cách:
Hoạt động cá nhân của trẻ có vai trị quyết định trực tiếp đối với sự hình thành
nền móng nhân cách ở trẻ mẫu giáo:
Thứ nhất, hoạt động tạo ra môi trường cho trẻ lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức,
hành vi: khi trẻ tham gia vào đa dạng các hoạt động như vui chơi, học tập, lao động.
Thơng qua đó trẻ đã lĩnh hội rất nhiều các chuẩn mực đạo đức, hành vi trong quan hệ
với mọi người.
Thứ hai, hoạt động tạo ra môi trường cho trẻ trải nghiệm các chuẩn mực đạo
đức, hành vi đã lĩnh hội được: sau khi trẻ lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức, hành vi từ
các hoạt động, trẻ lại quay lại mơi trường trong các hoạt động đó để tiếp tục thể hiện,
trải nghiệm các chuẩn mực đạo đức, hành vi mà mình đã lĩnh hội được.
Thứ ba, hoạt động tạo ra mơi trường giúp trẻ rèn luyện, hình thành những thói
quen tốt ban đầu.
Thứ tư, từ những thói quen tốt đã hình thành, trẻ dần dần thực hiện q trình
nhập tâm và biến nó thành biểu hiện của các phẩm chất tốt trong tương lai.
1.3. Vai trò của người lớn đối với sự hình thành nền móng nhân cách ở trẻ
mẫu giáo:
Gần như toàn bộ đời sống của trẻ trong độ tuổi này còn phụ thuộc rất nhiều vào
sự chăm lo, sắp đặt của người lớn mà cụ thể nhất là cha, mẹ (ngoại trừ những trường
hợp cá biệt khác). Vậy nên, vai trò của người lớn trong sự hình thành nền móng nhân
cách của trẻ là cực kỳ quan trọng, vừa là người tổ chức, vừa là người hướng dẫn.
Nền móng nhân cách chính là những phẩm chất nhân cách đầu tiên được “xây
dựng” trong nhân cách trẻ, tạo tiền đề hình thành những phẩm chất nhân cách về sau.
19
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
Để giúp đỡ trẻ xây dựng một nền móng nhân cách vững vàng và “tiến bộ”, người lớn
cần:
Thứ nhất, chỉ ra cho trẻ thấy những hành vi mẫu. Chỉ ra cho trẻ thấy những hành
vi tốt ở ba mẹ, ông bà, anh chị, bạn bè đồng trang lứa hay là các nhân vật trong truyện
tranh, phim hoạt hình mang nội dung giáo dục tích cực. Người lớn tích cực nêu gương
để trẻ noi gương.
Thứ hai, tổ chức/ hướng dẫn/ yêu cầu trẻ thực hiện các hành vi cá nhân theo các
hành vi mẫu. Khi trẻ không thực hiện người lớn cần đảm bảo và tích cực yêu cầu trẻ
thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như giải thích, phân tích, dỗ dành, ..., nhưng
phải đảm bảo tôn trọng nhân cách trẻ, hạn chế tối đa dùng các hình thức bạo lực.
Người lớn cần giáo dục sao cho đảm bảo hành vi cá nhân của trẻ theo hướng hành vi
mẫu mực được thúc đẩy bởi các động cơ bên trong, trẻ biết tự hào, biết xấu hổ trước
những hành vi sai của bản thân, chứ không phải thực hiện những hành vi mẫu theo
một cách đối phó.
Thứ ba, giúp cho trẻ hình thành những động cơ của hành vi theo hướng tích cực.
Những động cơ hành vi phải đảm bảo sao cho trẻ biết tự hào, xấu hổ trước những
hành vi tương ứng của mình để trẻ biết tự điều chỉnh hành vi cho đúng chuẩn mực.
Thứ tư, người lớn cần có những phân tích/ giải thích phù hợp, dễ hiểu cho trẻ
khi trẻ có thắc mắc về những hành vi mới, góp phần định hướng hành vi của trẻ.
Thứ năm, đồng hành và giúp cho trẻ hình thành những thói quen tốt.
Thứ sáu, khi những thói quen tốt gắn bó với trẻ trong một quãng đời nhất định
sẽ bước đầu giúp trẻ hình thành những biểu hiện tính cách, phẩm chất tốt, tích cực ở
trẻ.
20
Tâm lý học Phát triển 1 – Đặc điểm ĐSTC & Nền móng nhân cách trẻ Mẫu giáo
2. HẠN CHẾ CỦA TIỂU LUẬN:
Vì sự thích thú với đề tài, người thực hiện đã cố gắng tìm hiểu, tổng hợp kiến thức từ
nhiều nguồn khác nhau liên quan đến nội dung của đề tài nhằm giúp bản thân có một
cách nhìn nhận bao quát nhất. Tuy nhiên, với giới hạn về năng lực và trình độ cịn
nhiều hạn chế, chắc chắn khơng thể tránh khỏi sai sót. Sau đây là một số hạn chế của
tiểu luận mà người thực hiện tự đánh giá:
-
Phần cơ sở lý luận chưa làm rõ được hết những vấn đề lý luận cần triển khai
để phục vụ về mặt lý luận cho chương II.
-
Tiểu luận có một số điểm triển khai chưa hợp lý và thiếu tính mạch lạc.
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. Nguyễn, Ánh Tuyết và cộng sự. (2014). Tâm lý học Trẻ em lứa tuổi mầm
non. Hà Nội: NXB Đại học Sư Phạm.
[2]. Trương, Thị Khánh Hà. (2013). Tâm lý học Phát triển. Hà Nội: NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội.
[3]. Dương, Thị Diệu Hoa và cộng sự. (2008). Tâm lý học Phát triển. Hà Nội:
NXB Đại học Sư Phạm.
[4]. Lê, Thị Bừng và cộng sự. (2007). Các thuộc tính điển hình của nhân cách.
Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm.
[5]. Castro, D và cộng sự. (2021). Tâm lý học lâm sàng. Hà Nội: NXB Tri
Thức.
[6]. Health Vietnam. (2007). Đời sống tình cảm. Truy cập ngày 19/12/2021 tại:
/>[7]. Trần, Thị Thúy Vinh. (2010). Tài liệu bài giảng Tâm lý học Trẻ em. Khoa
Giáo dục Đặc biệt. Trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3.
21