Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

Lý luận kinh tế chính trị Mác Lênin về tích lũy tư bản và vận dụng vấn đề này trong nền kinh tế hiện nay.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.09 KB, 23 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Trải qua 35 năm đổi mới, Đất nước ta với xuất phát điểm thấp, tiềm lực kinh tế rất
yếu, thiếu nền tảng kỹ thuật cũng như là con người,... Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước. Đất nước ta chuyển dần sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự tham gia ngày một sâu rộng của
kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngồi, hội nhập ngày một chủ động, tích cực, sâu hơn vào
các tổ chức kinh tế Thế giới. Và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế,
chính trị, nâng cao vị thế đất nước trên thế giới.
Với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, vốn có vai trị đặc biệt quan trọng trong
việc tăng trưởng kinh tế. Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson cho rằng một trong những
đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là "kĩ thuật công nghiệp tiên tiến hiện đại dựa
vào việc sử dụng vốn lớn". Vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, để có công nghệ tiên tiến, để
tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy
phát triển sản xuất theo chiều sâu, Cơ cấu sử dụng vốn có tác động quan trọng vào chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đất nước.
Để giữ được nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững,
một trong những khó khăn lớn nhất đặt ra là phương thức huy động vốn. Nguồn vốn
có thể được huy động từ tích lũy trong nước và vốn vay nước ngoài. Lý luận và thực
tiễn cho thấy tích luỹ và huy động vốn từ trong nước là quan trọng nhất, đảm bảo sự
bền vững của nền kinh tế và khơng bị phụ thuộc vào bên ngồi.
Với nhận thức sâu sắc về vai trị của việc tích luỹ vốn phục vụ phát triển kinh tế
đất nước, trong bài viết này nhóm em sẽ trình bày những lý luận kinh tế chính trị MácLênin về tích lũy tư bản, các yếu tố quyết định quy mơ tích lũy tư bản và vận dụng vấn
đề này trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Do hạn chế về thời gian và trình độ, bài
viết sẽ khó tránh khỏi những sai sót trong q trình nghiên cứu, nhóm em rất mong
nhận được sự đánh giá, hướng dẫn của cơ. Nhóm em xin trân trọng cảm ơn.


MỤC LỤC


PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Tích lũy tư bản là một yếu tố quan trọng quyết định đối với sự hình thành
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, một hệ thống các nước tư bản đầu tiên trên thế
giới đã hình thành và phát triển vô cùng mạnh mẽ mà lịch sử đã cho thấy rằng cuối thế
kỷ XV đầu thế kỷ XVI, tích lũy nguyên thủy đã diễn ra sôi động ở các nước phương
Tây và nền kinh tế-xã hội của các nước này phát triển vơ cùng mạnh mẽ. Như vậy,
chúng ta có thể khẳng định rằng tích lũy tư bản cịn là sự đòi hỏi khách quan của bất
cứ một giai đoạn phát triển nào ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Nếu khơng tích lũy
và huy động nguồn lực tư bản cho quốc gia mình thì nền kinh tế xã hội quốc gia đó sẽ
khơng phát triển mạnh mẽ và cường thịnh được. Đối với Việt Nam tích lũy luôn là
điều kiện tiên quyết để tái sản xuất mở rộng. Có tích lũy mới có thể làm cho nền kinh
tế tăng trưởng và phát triển, đưa đất nước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa xã
hội mà chúng ta đã lựa chọn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang tiến
hành công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì nhu cầu về vốn để xây dựng các
cơng trình nền tảng và cái tiến kỹ thuật áp dụng khoa học tiên tiến là càng cần thiết và
quan trọng hơn bao giờ hết.

2. Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin về tích lũy tư bản.
- Các yếu tố quyết định quy mơ tích lũy tư bản.
- Vận dụng lý luận về tích lũy tư bản trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

3. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin và các tài liệu tham khảo khác để định

nghĩa khái niệm tích lũy tư bản và đánh giá ảnh hưởng của q trình tích lũy tư bản lên
nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

4. Ý nghĩa của đề tài
- Thấy được tầm quan trọng của tích lũy tư bản đến sự phát triển kinh tế. Đồng thời thấy


được vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, công nghệ tiên tiến để phát triển kinh tế đất nước.

4


PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN
1.1 Tích lũy tư bản là gì?
- Tích lũy tư bản trong kinh tế chính trị Mác-Lênin là việc biến một bộ phận giá trị

thặng dư trở lại thành tư bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác nó đơn giản là sự
hình thành tư bản (tăng lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chính
phủ và tư nhân)
- Đặc trưng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tái sản xuất mở rộng. Muốn vậy, cần
phát triển một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Việc biến giá trị thặng
dư trở lại tư bản gọi là tích lũy tư bản. Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản
hóa giá trị thặng dư.
- Tích lũy tư bản khác về bản chất với tích lũy ngun thủy. Nó gắn liền với q trình
phát triển của chủ nghĩa tư bản, gắn với quá trình bóc lột của tư bản đới với lao động
làm thuê. Tích lũy tư bản gắn liền với tái sản xuất mở rộng. Do đó xét một cách cụ thể
thì tích lũy tư bản chẳng qua chỉ là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở
rộng.

1.2 Điều kiện của tích lũy tư bản
Theo C.Mác, muốn tiến hành tích lũy để tái sản xuất mở rộng phải có hai điều kiện:
- Một là: Phải có một phần sản phẩm thặng dư chuyển hóa thành tư bản. Nhưng phần

sản phẩm này phải đảm bảo cho quá trình sản xuất và nuôi sống công nhân, tức là phải
bao hàm cả tư liệu sản xuất lẫn tư liệu tiêu dùng.

- Hai là: phải có lao động phụ thêm. Chính nhờ có lao động mới làm cho các yếu tố đó
được thực sự hoạt động với với tư cách là tư bản. Lao động phụ thêm có thể thực hiện
được bằng hai cách: kéo dài thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động của số
cơng nhân hiện có hoặc tuyển thêm lao động mới.

1.3 Bản chất và nguồn gốc của tích lũy tư bản
- Từ khi xuất hiện con người đã tiến hành các hoạt động khác nhau như: kinh tế, xã hội,

văn hóa,... Để tiến hành các hoạt động nói trên trước hết con người cần phải tồn tại.
Muốn tồn tại con người cần phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại và các
thứ cần thiết khác. Để có những thứ đó con người phải lao động để tạo ra chúng, tức là

5


là phải sản xuất và không ngừng sản xuất với qui mô ngày càng mở rộng. Xã hội
không thể ngừng tiêu dùng nên không thể ngừng sản xuất.

- Bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào nếu xét theo tiến trình đổi mới khơng ngừng của
nó, thì đồng thời cũng là quá trình tái sản xuất. Quá trình này là tất yếu khách quan
theo hai hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất giản
đơn không phải là tái sản xuất điển hình của CNTB mà hình thái điển hình của CNTB
là tái sản xuất mở rộng. Muốn tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản không thể sử dụng hết
giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải dùng một phần giá trị thặng dư để tăng
quy mô đầu tư so với năm trước. Chính phần giá trị thặng dư đó được gọi là tư bản phụ
thêm. Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay chuyển hoá giá trị thặng dư trở lại
thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản. Xét một cách cụ thể, tích luỹ tư bản nhằm tái sản
xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng. Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hố
thành tư bản được là vì tư bản thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của một tư
bản mới. Tích luỹ tư bản là là tất yếu khách quan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luật

giá trị và cạnh tranh... của phương thức sản xuất TBCN quy định. Nguồn gốc duy nhất
của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư và tư bản tích luỹ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn
trong toàn bộ tư bản. Như vậy thực chất của tích luỹ tư bản là biến một phần giá trị
thặng dư thành tư bản phụ thêm (tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụ
thêm) để mở rộng sản xuất. Trong quá trình sản xuất, lãi tiếp tục được bổ sung vào
vốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở
thành phương tiện mạnh mẽ quay trở lại bóc lột chính họ.

- Quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá đã biến thành quyền chiếm đoạt TBCN
thơng qua q trình tích luỹ tư bản. Khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn, trong
nền sản xuất TBCN sự trao đổi giữa người lao động và nhà tư bản dẫn đến kết quả là
nhà tư bản chẳng những chiếm không một phần lao động của cơng nhân mà cịn là
người sở hữu hợp pháp lao động khơng cơng đó. Sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở
hữu hồn tồn khơng vi phạm quy luật giá trị.

- Mục đích của nền sản xuất TBCN là sự lớn lên không ngừng của giá trị. Để thực hiện
mục đích đó các nhà tư bản khơng ngừng tích luỹ và tái sản xuất mở rộng, xem đó là
phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột cơng nhân. Mặt khác do tính cạnh tranh
6


quyết liệt nên các nhà tư bản buộc phải không ngừng làm cho tư bản của mình tăng
lên. Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách tăng nhanh tư bản tích luỹ. Do đó động cơ
thúc đẩy tích luỹ và tái sản xuất mở rộng TBCN chính là một quy luật kinh tế cơ bản
của CNTB. Trong buổi đầu của sản xuất TBCN, sự ham muốn làm giàu của các nhà tư
bản thường chi phối tuyệt đối nhưng đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêu
dùng xa phí của các nhà tư bản ngày càng tăng lên theo sự tích luỹ tư bản. Như vậy
khơng có nghĩa là có mâu thuẫn giữa phần tiêu dùng của nhà tư bản và phần tích luỹ.
1.3.1 Tái sản xuất
- Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi không


ngừng. Căn cứ theo phạm vi có: Tái sản xuất cá biệt và tái sản xuất xã hội. Tái sản
xuất cá biệt là tái sản xuất diễn ra trong từng doanh nghiệp, tái sản xuất xã hội là tổng
thể tái sản xuất cá biệt trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Căn cứ theo quy mơ có: Tái
sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất giản đơn là q trình sản
xuất được lặp lại với quy mơ như cũ, tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được
lặp lại với quy mô lớn hơn trước.
“Dù cho hình thái xã hội của quá trình sản xuất là như thế nào chăng nữa, thì
bao giờ quá trình đó cũng phải có tính chất liên tục, hay cứ từng một chu kỳ một, phải
không ngừng trải qua cùng những giai đoạn ấy. Xã hội không thể ngừng tiêu dùng, thì
xã hội cũng khơng thể ngừng sản xuất. Vì vậy, xét trong mối liên hệ không ngừng và
trong tiến trình của nó, mọi q trình sản xuất xã hội đồng thời cũng là q trình sản
xuất”.
(Trích: C.Mác bộ “Tư bản”, quyển I, tập 3, tr.8)

 Tái sản xuất giản đơn
- Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ.
- Tái sản xuất giản đơn là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất nhỏ. Trong tái sản xuất

giản đơn năng suất lao động rất thấp, thường chỉ đạt mức đủ ni sống con người,
chưa có sản phẩm thặng dư hoặc nếu có một ít sản phẩm thặng dư thì cũng chỉ sử dụng
cho tiêu dùng cá nhân, chứ chưa dùng để mở rộng sản xuất.
7


 Tái sản xuất mở rộng
- Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước.
- Tái sản xuất mở rộng là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất lớn. Để có tái sản xuất mở

rộng thì năng suất lao động xã hội phải đạt đến một trình độ cao nhất định, vượt

ngưỡng của sản phẩm tất yếu và tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư bởi vì sản
phẩm thặng dư dùng để đầu tư thêm vào sản xuất mới là nguồn lực trực tiếp của tái sản
xuất mở rộng.

1.4 Quy luật chung của tích lũy tư bản
1.4.1 Q trình tích lũy tư bản là q trình tăng cấu tạo hữu cơ cảu tư bản
Tư bản tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị. Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kĩ thuật
và cấu tạo giá trị.
 Cấu tạo kĩ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao

động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó.
Nó biểu hiện dưới các hình thức của số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng do
một cơng nhân sử dụng trong một thời gian nào đó. Cấu tạo kĩ thuật phản ánh đặc
điểm và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.
 Cấu tạo giá trị là tỷ lệ giữa số lượng giá trị của tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động

cần thiết để tiến hành sản xuất.
1.4.2 Quá trình tích lũy tư bản là q trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng
tăng
- Tích tụ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích luỹ của từng nhà tư bản

riêng rẽ. Tích tụ tư bản, một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến
bộ kĩ thuật. Mặt khác, khối lượng giá trị thặng dư tăng thêm lại tạo khả năng hiện thực
cho tích tụ tư bản mạnh hơn.
- Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn. Đây là
sự tập trung những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của
chúng, là việc biến nhiều tư bản nhỏ thành một số ít tư bản lớn hơn.
8



- Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt tăng lên, và tư bản xã hội cũng tăng theo. Còn tập

trung tư bản chỉ làm cho tư bản cá biệt tăng quy mơ cịn tư bản xã hội vẫn như cũ.
1.4.3 Q trình tích lũy tư bản là q trình bần cùng hóa giai cấp vơ sản
Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng, làm cho cầu tương đối về sức lao
động có xu hướng ngày càng giảm. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra nạn nhân khẩu
thừa tương đối.
Có ba hình thái nhân khẩu thừa:


Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này, nhưng lại tìm
được việc làm ở xí nghiệp khác. Nói chung, số này chỉ mất việc kàm từng lúc.



Nhân khẩu thừa tiềm tàng là nhân khẩu thừa trong nơng nghiệp – đó là những người
nghèo ở nông thôn, thiếu việc làm và cũng không thể tìm được việc trong cơng nghiệp,
phải sống vất vả.



Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất nghiệp, thỉnh
thoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, tạo thành tầng lớp thấp
trong xã hội.

1.5 Mối quan hệ tích lũy – tích tụ - tập trung tư bản
Quy mô của tư bản cá biệt tăng lên thông qua hai con đường là tích tụ và tập
trung tư bản:
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá một
phần giá trị thặng dư. Đây là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản.

Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt có sẵn thành một tư bản cá
biệt khác lớn hơn. Tập trung tư bản diễn ra bằng hai phương pháp là cưỡng bức (các nhà tư
bản bị thơn tính do phá sản) và tự nguyện (các nhà tư bản liên hiệp, tổ chức thành công ty
cổ phần). Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ biện chứng với nhau và tác động thúc đẩy
nhau nhưng lại không đồng nhất với nhau. Đây không những là sự khác nhau về mặt chất
mà còn khác nhau về mặt lượng.
9


Tích tụ tư bản làm tăng quy mơ tư bản xã hội, nó phản ánh mối quan hệ trực tiếp
giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Tập trung tư bản không làm tăng quy mô tư
bản xã hội mà chỉ phân phối lại và tổ chức lại tư bản xã hội, nó phản ánh quan hệ trực
tiếp giữa các nhà tư bản. Tập trung tư bản có vai trị rất lớn trong q trình chuyển sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn TBCN và quá trình chuyển chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn
thấp lên giai đoạn cao. Nếu gạt bỏ tính chất TBCN, tích tụ và tập trung là hình thức
làm tăng thu nhập quốc dân và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn của xã hội
trong q trình sản xuất.
Q trình tích luỹ tư bản tất yếu dẫn đến sự phân cực: một bên làm cho chủ nghĩa tư
bản phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu thơng qua sự tích tụ và tập trung của tư bản,
thông qua việc nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản và làm cho giai cấp tư sản ngày càng giàu
có xa hoa; Cịn một bên là giai cấp những người lao động không tránh khỏi sự thất nghiệp và
bần cùng. Đó là quy luật chung của tích luỹ tư bản.
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở dùng bạo lực để tước đoạt của
những người sản xuất nhỏ, đặc biệt là nơng dân. Q trình đó đã biến chế độ tư hữu
nhỏ dựa trên lao động cá nhân thành chế độ sở hữu TBCN dựa trên sự bóc lột lao động
làm thuê, biến sản xuất nhỏ lạc hậu, phân tán thành sản xuất lớn, tập trung. Đó là sự
phủ định chế độ tư hữu của những người sản xuất nhỏ. Nhưng khi phương thức sản
xuất TBCN đã hình thành thì q trình tích luỹ và cạnh tranh dẫn đến tư bản và sản
xuất được tập trung ngày càng lớn, do đó sản xuất được xã hội hố cao hơn, lực lượng
sản xuất được phát triển mạnh hơn. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa tính chất xã hội

của sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa phát triển. Sự phát triển của
mâu thuẫn này sẽ dẫn đến sự tất yếu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng xã hội cao hơn,
tiến bộ hơn. Đây cũng là xu hướng lịch sử của tích luỹ tư bản, xu hướng tạo ra những
tiền đề vật chất và tiền đề xã hội cao cho sự phủ định đối với chủ nghĩa tư bản.

10


Chương 2: NHỮNG YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH QUY MƠ TÍCH
LŨY TƯ BẢN
Quy mơ của tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỷ lệ
phân chia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và thu nhập.
Nếu nhà tư bản sử dụng khối lượng giá trị thặng dư vào việc tiêu dùng cá nhân
nhiều thì khối lượng giá trị thặng dư dành cho tích luỹ sẽ ít đi. Khi đó quy mơ của tích
luỹ tư bản của nhà tư bản đó sẽ giảm đi và ngược lại. Ngược lại việc tiêu dùng ít đi sẽ
làm tăng khối lượng tích luỹ, khi đó quy mơ tích luỹ sẽ tăng lên. Tích luỹ của chế độ
TBCN nhằm thu được ngày càng nhiều giá trị thặng dư: sản xuất mở rộng thì chúng
càng tăng cường bóc lột công nhân, thu được thêm nhiều giá trị thặng dư. Khi đó nhà
tư bản càng có vốn mở rộng thêm sản xuất, quy mơ bóc lột càng tăng lên. Ngồi tiêu
dùng xa phí của mình, nhà tư bản cịn phải đối phó với tình trạng cạnh tranh gay gắt
trong xã hội tư bản nên họ đều phải tăng thêm tích luỹ để mở rộng sản xuất với quy
mô lớn hơn giành nhằm phần thắng cho mình trên thương trường.
Nếu tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó đã cho sẵn, thì khi đó đại lượng
của tư bản tích luỹ sẽ do đại lượng tuyệt đối của giá trị thặng dư quyết định. Vì vậy
những nhân tố quyết định quy mơ của tích luỹ chính là những nhân tố quyết định quy
mô của khối lượng giá trị thặng dư.
Có 4 yếu tố quyết định quy mơ của khối lượng giá trị thặng dư:

2.1 Trình độ bốc lột giá trị thặng dư
Mức độ bóc lột sức lao động được nâng cao bằng cách cắt xén vào tiền công của

công nhân. Như vậy công nhân không những bị nhà tư bản chiếm đoạt lao động thặng
dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiền công.
Việc cắt xén tiền công giữ vai trị quan trọng trong q trình tích luỹ tư bản.
Một cách khác để nâng cao mức bóc lột nữa là tăng cường độ lao động và kéo dài
ngày lao động. Việc tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động sẽ làm tăng
thêm giá trị thặng dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư tư bản hố, tức là làm
tăng tích luỹ. Ảnh hưởng này còn thể hiện ở chỗ số lượng lao động tăng thêm mà nhà
11


tư bản chiếm không do tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động khơng địi
hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng (khơng địi hỏi phải tăng thêm số lượng
cơng nhân, tăng thêm máy móc, thiết bị mà hầu như chỉ cần tăng thêm sự hao phí
nguyên liệu).

2.2 Năng suất lao động
Việc nâng cao năng suất lao động sẽ làm tăng thêm giá trị thặng dư, do đó tăng
thêm bộ phận giá trị thặng dư được tư bản hoá. Song vấn đề ở đây là quy mơ của tích
luỹ khơng chỉ được quyết định bởi khối lượng giá trị thặng dư, mà còn bởi khối lượng
tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, do khối lượng giá trị thặng dư đó có thể chuyển
hố thành. Như vậy năng suất lao động tăng sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất
của tư bản, do đó làm tăng quy mơ của tích luỹ. Năng suất lao động cao thì lao động
sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới
hình thái có ích mới, chúng làm chức năng tư bản để sản xuất ra tư bản càng nhiều, do
đó mà quy mơ của tư bản tích luỹ càng lớn. Như vậy năng suất lao động là nhân tố
quan trọng quyết định đến quy mơ của tích luỹ.

2.3 Sự chênh lệch ngày càng cao giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất, tất cả các bộ phận cấu thành của máy móc đều hoạt
động, tức là máy móc tham gia tồn bộ vào q trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao

mịn dần, do đó giá tri của chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm, vì vậy có
sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Mặc dù đã mất dần giá trị như
vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạt động máy móc vẫn có tác dụng khi cịn đủ giá trị.
Do đó, nếu khơng kể đến phần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng
thời gian, thì máy móc phục vụ khơng cơng đó chẳng khác gì lực lượng tự nhiên.
Lực lượng sản xuất xã hội càng phát triển, máy móc càng hiện đại, phần giá trị
của nó chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian càng ít, thì sự chênh lệch giữa tư bản
cố định sử dụng và tư bản cố định tiêu dùng càng lớn. Do đó tư bản lợi dụng được
những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều.

2.4 Quy mơ của tư bản ứng trước
Với mức bóc lột khơng đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do số lượng cơng
nhân bị bóc lột quyết định. Do đó quy mơ của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản
12


khả biến càng lớn, thì giá trị thặng dư bóc lột được và quy mơ tích luỹ cũng càng lớn.
Đối với sự tích luỹ của cả xã hội thì quy mô của tư bản ứng trước chỉ là nhỏ nhưng rất
quan trọng. C. Marx đã nói rằng tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dịng sơng
của sự tích luỹ mà thơi.
Tích luỹ dưới chế độ TBCN làm cho của cải của xã hội ngày càng tập trung vào
tay giai cấp tư sản, người công nhân càng bị bóc lột nặng nề, càng tăng thêm thất
nghiệp và nghèo đói, làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp cơng nhân và giai cấp tư sản
ngày thêm sâu sắc hơn. Mặt khác tiêu dùng của người lao động bị hạn chế trong một
phạm vi rất nhỏ hẹp. Một phần lớn thu nhập quốc dân của xã hội TBCN là dùng vào
việc tiêu dùng không sản xuất và tiêu dùng ăn bám của chúng. Phần thu nhập quốc dân
dùng vào tích luỹ do đó tương đối ít so với khả năng và đòi hỏi của sự phát triển khách
quan của xã hội. Sự chênh lệch đó dẫn đến khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa có điều
kiện phát sinh, phá hoại nặng nề và thường xuyên nền sản xuất của xã hội TBCN. Tuy
nhiên thành quả kinh tế mà xã hội tư bản đạt được lại vơ cùng to lớn và có ý nghĩa lịch

sử quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người.

13


PHẦN 3: VẬN DỤNG LÝ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀO NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Tại sao phải tích lũy tư bản?
Đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất
là hơn 35 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển, có tích
luỹ từ nội bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Để giữ được tốc độ tăng trưởng
cao trong những năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn cho
nền kinh tế.
Nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng Việt Nam muốn phát triển và đạt tốc độ theo
hướng rồng bay thì phải nỗ lực huy động và tích lũy vốn trong nước, tăng cường có
hiệu quả với nguồn nước ngồi và đầu tư có hiệu quả cao. Họ đã tính tốn rằng để tốc
độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm khoảng 8-10% thì tổng đầu tư trong nước
của Việt Nam phải đạt từ 20-35%, từ nay đến 2020 để đạt được sự tăng trưởng GDP
với tố độ cao như vậy đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa q trình cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Nhưng đất nước ta đang đứng trước một bài tốn vơ cùng nan
giải đó là tình trạng thiếu vốn về mọi mặt (vốn lao động, vốn tín dụng, vốn đầu tư phát
triển) cần phải giải đáp của nền công nghiệp: muốn phát huy tối đa nguồn nhân lực,
nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân tài để phát huy tối đa cho cơng cuộc cơng
nghiệp hóa hiện đại hóa.

2. Vai trị của tích lũy tư bản trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN
2.1 Đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Mối quan hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế với tích tụ và tập trung tư bản rất chặt
chẽ. Sự tăng trưởng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tích tụ và tập trung tư bản.

Khi nền kinh tế đạt tăng trưởng cao, mức sống người dân thay đổi, doanh thu xí nghiệp
tăng lại tạo điều kiện tích lũy tăng. Ngược lại quá trình tích tụ và tập trung hiệu quả trở
thành địn bẩy cho sự tăng trưởng kinh tế. Tích tụ và tập trung tư bản càng nhiều thì
quy mơ vốn đầu tư càng lớn hoạt động kinh tế diễn ra được nhanh chóng. Do đó, con
đường tích lũy tư bản trong nước có hiệu quả là bài tốn cần tháo gỡ để tăng tốc nền
kinh tế Việt Nam. Khi nào các nguồn nhân lực: tiền bạc, của cải, trí tuệ con người,...
14


được tập trung tối đa vào dòng chảy của đầu tư để sản sinh ra những dòng lợi nhuận
mới cao gấp nhiều lần số vốn ban đầu, thì khi đó mỗi doanh nghiệp hay cả quốc gia
chúng ta mới có thể đạt được những bước phát triển vượt bậc về kinh tế. Tư bản là
nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Nhờ đó, đời sống nhân dân ngày một nâng cao, các nguồn lực về con người, tài
nguyên và các mối bang giao cũng được khai thác có hiệu quả hơn. Từ đó, tác động
mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế của đất nước chuyển dịch nhanh chóng theo hướng cơng
nghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo ra nền kinh tế có các ngành cơng nghiệp và dịch vụ
chiếm tỉ lệ cao và hướng mạnh ra xuất khẩu. Chính điều đó sẽ tạo nên một nền kinh tế
có tốc độ nhanh và ổn định.
Việt Nam sẽ có tốc độ tăng trưởng như thế nào trong những thập niên sắp tới tùy
thuộc vào khả năng áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật, cả tiến máy móc mà cơ sở
của nó là q trình tích lũy tư bản.
2.2 Đối với q trình cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là q trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng tỉ trọng công nghiệp, giảm tỉ trọng nơng nghiệp, hiện đại hóa máy móc kỹ thuật,
áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến trên cơ sở đó tăng năng suất lao động, cải tiến
chất lượng, đưa Việt Nam thành một nước có nền kinh tế phát triển. Muốn làm được
điều đó tất yếu cần một nguồn vốn lớn mà điều đó chỉ có khi q trình tích lũy trở nên
mạnh mẽ trên tất cả mọi lĩnh vực và thực sự có hiệu quả.


3. Ý nghĩa của tích lũy tư bản trong thực tiễn
Đối với các doanh nghiệp hiện nay, việc vận dụng quy luật của tích lũy tư bản
vào trong huy động vốn và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả là vô cùng quan
trọng và cần thiết. Trên thực tế, các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thể cạnh tranh
một cách sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngồi phần vì tiềm lực kinh tế chưa
đủ mạnh phần vì chưa thực sự chưa có chiến lược và chiến thuật phù hợp.

15


Tích lũy tư bản đem đến bài học về sử dụng vốn hiệu quả. Doanh nghiệp cũng
cần phải tiết kiệm sao cho hợp lý, việc xây dựng cơ sở sản xuất và thiết bị cũng cần
phải được tính tốn kỹ càng. Nếu như vội vàng đưa ra quyết định đầu tư khơng hợp lý
sẽ gây ra lãng phí, thất thốt tài sản. Yêu cầu đối với doanh nghiệp đó là phải phân bố
một cách hợp lý giữa tiêu dùng và tích lũy.
Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần khai thác tối đa các nguồn lực, đây là điều
kiện tiên quyết cho q trình tích lũy vốn của doanh nghiệp. Nội dung này đòi hỏi
doanh nghiệp phải linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước. Do đó
doanh nghiệp phải có cơ chế, giải pháp huy động vốn một cách hợp lý.

4. Khái qt tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam
Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng cịn thiếu thốn thì q trình tích
lũy vốn cịn gặp rất nhiều trở ngại. Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn
đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của mình, nhiệm vụ
tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả. Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, đời
sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập quốc dân tăng lên. Tuy nhiên nó vẫn
cịn q nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới. Một trong những nguyên nhân chính là
thực trạng tích lũy vốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các
doanh nghiệp thấp.

Sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hố ở nước ta bắt đầu từ kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất 1960 đến 1964 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra. Q trình này có
thể được chia thành 2 thời kỳ:
Thời kỳ 1960- 1985: CNH được tiến hành trong điều kiện cơ chế kinh tế tập trung
quan liêu, bao cấp.
Thời kỳ 1986 đến nay: CNH gắn liền với quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN. Từ năm 1986 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa, các kênh huy
động vốn cho CNH, HĐH cũng bắt đầu phong phú, linh hoạt hơn. Đối với nguồn vốn
nước ngoài, ngồi hình thức cũ là vay nợ và viện trợ, đã có thêm hình thức đầu tư trực
tiếp. Nguồn vốn trong nước cũng được bổ xung một số kênh mới, đặc biệt là từ khi có
pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, tín dụng và cơng ty
Tài chính. Theo 2 pháp lệnh này, hệ thống ngân hàng một cấp ở nước ta đã chuyển
16


sang hệ thống ngân hàng hai cấp. Các Ngân Hàng Thương Mại có thể được thành lập
dưới hình thức cơng ty cổ phần và được phép thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ.
Đây là tiền đề pháp lý đầu tiên cho phép các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam có
thêm nhiều khả năng thực hiện các nghiệp vụ tài chính, góp phần thúc đẩy nhanh q
trình tích tụ và tập trung vốn. Tính chung tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực
hiện cả giai đoạn 1996 - 2000 thì cả nước đạt 394,1 ngàn tỷ đồng, tăng 66,7% so với
giai đoạn 1991 - 1995. Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 1996-2000
chiếm trong GDP bình qn là 28,6% năm. Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức
không đáng kể đã tăng lên 25%GDP. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay: năm 20012006 chiếm 28,2% so với tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư là 52,7% năm 2007 tốc độ
tăng trưởng tín dụng là 53,9%, gấp 3,1 lần tốc độ tăng GDP theo giá thực tế; năm 2008
tăng 39,6%, gấp 3,3 lần, năm 2009 tăng 34,8%, năm 2010 tăng 37 ,5%, năm 20112017 chiếm nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 15.524 tỷ đồng; trong đó vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ước thực hiện 1.150 tỷ đồng.
4.1 Tình hình vốn của doanh nghiệp những năm gần đây
Theo thống kê của Cổng thông tin quốc gia về đăng kí doanh nghiệp:
 Năm 2017, cả nước có 126.859 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là


1.295.911 tỷ đồng, tăng 15,2% về số doanh nghiệp và tăng 45,4% về số vốn đăng ký
so với cùng kỳ năm 2016.
- Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong năm 2017 đạt 10,2 tỷ
đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước
 Năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là

1.478.101 tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký.
Đây là năm thứ tư liên tiếp có số lượng doanh nghiệp thành lập mới và số vốn đăng ký
đạt cao nhất trong lịch sử.
- Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong năm 2018 đạt 11,3 tỷ
đồng, tăng 10,2% so với năm 2017.
 Trong năm 2019, số lượng doanh nghiệp thành lập mới và số vốn đăng ký tiếp tục đạt

mức cao nhất so với các năm trước. Đặc biệt, ở giai đoạn 2015 – 2019, tình hình doanh
nghiệp thành lập mới trong năm đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Cụ thể, trong năm 2019,
cả nước có 138.139 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.730.173 tỷ
đồng, tăng 5,2% về số doanh nghiệp và tăng 17,1% về số vốn đăng ký so với năm 2018.
17


Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong năm 2019 đạt 12,5 tỷ đồng, tăng
11,2% so với năm 2018.
- Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2019 là 4.003.127 tỷ đồng
(tăng 3% so với năm 2018), bao gồm: số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành
lập mới là 1.730.173 tỷ đồng (tăng 17,1%) và số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh
nghiệp là 2.272.954 tỷ đồng (giảm 5,6%) với 40.076 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn.
 Tình hình đăng ký doanh nghiệp năm 2020 có sự giảm sút nhẹ về số lượng doanh
nghiệp thành lập mới với 134.941 doanh nghiệp, giảm 2,3% so với năm 2019. Mặc dù
vậy, đây cũng là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng

toàn diện đến đời sống kinh tế xã hội như năm nay.
- Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong năm 2020 đạt 16,6 tỷ
đồng, tăng 32,3% so với năm 2019. Điều này cho thấy mặc dù gặp phải nhiều ảnh
hưởng do dịch bệnh nhưng quy mô của doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục có
xu hướng tăng lên.
- Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2020 là 5.577.570 tỷ đồng

(tăng 39,3% so với năm 2019), bao gồm: số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập
mới là 2.235.626 tỷ đồng (tăng 29,2% so với năm 2019) và số vốn đăng ký tăng thêm
của các doanh nghiệp đang hoạt động là 3.341.944 tỷ đồng (tăng 47% so với năm
2019) với 39.476 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn. Số vốn đăng ký tăng thêm đã cho
thấy niềm tin của các doanh nghiệp đang hoạt động về sự phục hồi kinh tế sau đại
dịch.
4.2 Tình hình vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngồi
Theo Trang thơng tin điện tử đầu tư nước ngồi:
- Tính đến 20/04/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ

phần (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt 12,25 tỷ USD, bằng 99,3% so với cùng kỳ năm
2020. Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 5,5 tỷ USD,
tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2020.
- Tính lũy kế đến ngày 20/04/2021, cả nước có 33.463 dự án còn hiệu lực với tổng vốn
đăng ký 394,9 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
ước đạt 238,36 tỷ USD, bằng 60,4% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
- Đã có 67 quốc gai và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, Singapore dẫn đầu với
tổng vốn đầu tư trên 4,8 tỷ USD, chiếm gần 39,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam,
Nhật Bản đứng thứ với tổng vốn đầu tư trên 2,5 tỷ USD, chiếm 20,5% tổng vốn đầu
18


tư, Hàn Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư gần 1,5 tỷ USD, chiếm 12,1% tổng vốn

đầu tư,...

5. Những giải pháp tăng cường vốn tích lũy ở Việt Nam
Mục đích của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: “CNXH là làm nhằm nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần văn hoá cho mọi người dân sung sướng, ấm no”. Trong điều
kiện nước ta, từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH chúng ta khơng cịn cách nào khác là một
mặt phải huy động toàn bộ sức lực của mọi người, mọi ngành mọi cấp để tăng gia sản
xuất thúc đẩy sản xuất phát triển; mặt khác, phải triệt để tiết kiệm nhằm tích luỹ vốn từ
nội bộ nền kinh tế nước ta cho sự nghiệp xây dựng phát triển nền kinh tế sản xuất lớn
XHCN.
5.1 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy – tiêu dùng

- Xã hội chủ nghĩa là xã hội mà trong đó con người làm theo năng lực và hưởng theo
nhu cầu. Muốn có điều đó cần phải sản xuất và khơng ngừng mở rộng sản xuất, tức là
phải tích lũy và tích lũy khơng ngừng. Đó chính là q trình giải quyết mối quan hệ
tích lũy và tiêu dùng. Tích lũy bao nhiêu để tạo ra cơ sở phát triển trong tương lai, tiêu
dùng bao nhiêu để đảm bảo nhu cầu cá nhân. Nó thể hiện cụ thể mối quan hệ giữa xây
dựng kinh tế và cải thiện đời sống giữa lợi ích lâu dài và trước mắt, giữa lợi của nhân
dân và lợi ích của tồn xã hội

- Việc phân chia tỷ lệ này không cố định mà thay đổi tuỳ thuộc vào nhu cầu của nền
kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Đồng thời chúng ta phải khơng ngừng khuyến
khích tất cả mọi người dân đều ra sức tiết kiệm, tích luỹ. Như vậy có thể nói tỷ lệ giữa
tích luỹ và tiêu dùng không chỉ đơn thuần là tỷ lệ về kinh tế mà là thể hiện đường lối
chính sách của Đảng trong từng thời kỳ nhất định.
5.2 Sử dụng hiểu quả nguồn vốn

- Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trước hết chúng ta phải xác định rõ từng đối
tượng được cấp vốn, thực hiện phân phối và phân phối lại các nguồn thu nhập trong xã
hội theo hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động, theo vốn, tài sản, trí tuệ. Từ đó

phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý cho các ngành nhằm nâng cao hiệu quả trong sử
dụng nguồn lực tài chính quốc gia.
19


- Đối với các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ khơng nên cấp vốn tồn bộ mà nên tiến
hành cổ phần hố doanh nghiệp, nhờ vậy doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với
đồng vốn của mình, đồng thời chính nhờ có cổ phần hố mà tạo điều kiện cho các chủ
doanh nghiệp phát huy mọi năng lực cũng như khả năng quản lý của họ từ đó sẽ nâng
cao rất nhiều hiệu quả sử dụng vốn. Lên phương án sáp nhập, khoán kinh doanh, cho
thuê hoặc rao bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhà nước quy mô nhỏ thua lỗ
kéo dài khơng cổ phần hố được và nhà nước khơng cần nắm giữ để sử dụng có hiệu
quả tài sản của nhà nước.

- Tiếp tục cơ cấu lại việc chi ngân sách nhà nước theo hướng tích cực hơn: tăng đầu tư
phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng. Phân tích rõ nội dung và phạm vi chi
ngân sách nhà nước, tập trung thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, thiết yếu, gắn cơ
cấu lại chi ngân sách nhà nước với cải cách hành chính cho phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa để huy động nguồn lực phát triển kinh
tế - xã hội.

- Việc đồng vốn có được sử dụng hiệu quả hay khơng một phần lớn phụ thuộc vào yếu
tố con người. Vì thế cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ năng lực và
trách nhiệm cao. Đồng thời nhà nước cũng cần phải xem xét lại mơ hình tổ chức quản
lý, chú ý đến đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ có thể phát huy mọi
năng lực của mình. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt nguồn vốn FDI trong
khu vực cũng như trên thế giới thì việc hồn thiện một cơ chế tổ chức gọn nhẹ khơng
chồng chéo có hiệu quả cũng tạo ra khả năng cạnh tranh lớn.
5.3 Tăng cường tích lũy vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước
ngồi


- Tích luỹ vốn trong nước có nhiều giải pháp nhưng giải pháp hàng đầu là nguồn vốn từ
ngân sách nhà nước, nguồn vốn này sẽ đóng vai trị quan trọng để giải quyết các nhu
cầu chi của nhà nước về chi thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển và cho phát triển
công nghiệp. Vì vậy nâng cao hiệu quả tích luỹ, tích tụ và tập trung vốn qua ngân sách
nhà nước là hết sức cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn lớn lao.

- Một biện pháp để tăng cường lượng vốn là thơng qua các tổ chức tín dụng và ngân
hàng. Đây là hai hình thức tích luỹ vốn có hiệu quả tương đối cao do có thể thu hút
20


được vốn còn nhàn dỗi trong nhân dân. Để thực hiện được ngày càng tốt các nghiệp vụ
của mình, ngân hàng cần phải đổi mới phương thức phục vụ khách hàng, mở rộng các
hình thức tiết kiệm, cải tiến các thủ tục đảm bảo an tồn bí mật và ổn định cho tiền gửi
của khách hàng. Đồng thời chính phủ cũng cần có biện pháp nâng cao lãi suất nhằm
thu hút ngày càng nhiều vốn nhàn dỗi trong dân. Đặc biệt là hệ thống ngân hàng cần
phối hợp chặt chẽ với các quỹ tín dụng nhân dân để tích tụ và tập trung vốn được
thuận tiện. Chúng ta có thể huy động vốn cả qua các công ty bảo hiểm, công ty sổ xố
kiến thiết, qua sự tài trợ của các nhà doanh nghiệp, các quỹ từ thiện, quỹ hỗ trợ, ... Mặt
khác, việc tích tụ và tập trung các nguồn vốn trong nước từ các nguồn tài nguyên quốc
gia và từ những tài sản cơng cịn bỏ phí vừa là mục tiêu vừa là biện pháp cơ bản trước
mắt và lâu dài để chúng ta tăng thêm nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển. Cần
nghiên cứu lại các quy định về đất và quyền sử dụng đất kết hợp hài hoà với các tổ
chức thị trường liên quan. Trong thời gian tới phải tìm cách để khai thác cao nhất hiệu
quả nhất nguồn vốn từ tài sản cơng. Đó là cơ sở vật chất trực tiếp sẵn có mà chúng ta
có thể huy động bằng cả hiện vật hoặc huy động bằng tiền trở thành nguồn thu trực
tiếp của ngân sách Nhà nước là cơ sở ban đầu cần thiết để gọi vốn đầu tư nước ngoài.

- Phát triển thị trường vốn, mà cốt lỗi là thị trường chứng khoán, đây là

trung tâm huy động mọi nguồn vốn tiết kiệm từ dân cư, vốn nhàn rỗi
của doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ, ...hình thành một
khối lượng vốn lớn. So với hình thức huy động vốn qua ngân hàng,
thị trường chứng khoán là phương thức huy động vốn hiệu quả, tín
dụng linh hoạt, đa dạng, đáp ứng nhanh nhu cầu về vốn của xã hội .
Tuy nhiên để có thể phát triển thị trường chứng khoán trước hết
chúng ta phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhà nước và đồng thời phải phát triển hệ thống ngân
hàng thương mại. Chính thị trường chứng khốn là một hình thức của
thị trường vốn, và nếu thị trường chứng khoán hoạt động tốt thì nó
sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế.

- Ngồi nguồn vốn tích luỹ trong nước thì trong hồn cảnh hiện nay khi nền kinh tế mở
cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì một nguồn vốn có vai trị đặc biệt quan trọng
21


khác là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián
tiếp trong đó vốn đầu tư trực tiếp có ý nghĩa vô cùng lớn đối với sự phát triển của nền
kinh tế trong nước. Vì thế mà chúng ta cần phải có chính sách thu hút vốn đầu tư trực
tiếp, đặc biệt là vốn của các nước phát triển. Để thực hiện được chiến lược này cần
phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ của chính phủ trong đó biện pháp quan trọng
nhất là phải cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng hệ thống pháp lý tiệm cận với quốc
tế nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Do vậy chúng ta phải nhanh chóng sửa đổi và bổ
sung bộ luật đầu tư nước ngồi cho phù hợp với tình hình mới hiện nay đảm bảo cho
quyền lợi của nhà đầu tư cũng như của chính chúng ta.
5.4 Quản lý hiệu quả nguồn thu

- Quản lý các nguồn thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở cải cách hệ thống thuế, phí
phù hợp với cơ chế thị trường, theo hướng cơng bằng, có cơ cấu hợp lí và đồng

bộ.Nhằm tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong
kinh doanh.

- Đưa ra chính sách động viên hướng mạnh vào mục tiêu phát triển dài hạn, xác định
mức thuế phí hợp lý, giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp. Từ đó thúc đẩy tăng
trưởng, tạo động lực cho doanh nghiệp sản xuất, trên cơ sở đó tăng quy mơ thu ngân
sách cho nhà nước.

- Từng bước nâng cao tỷ trọng thuế thu nhập, thuế tài sản trong cơ cấu hệ thống thuế.
Nâng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng thu ngân sách nhà nước.

22


PHẦN 4: KẾT LUẬN
Đất nước ta đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và năng động nhất từ
trước tới nay .Với nền kinh tế thị trường XHCN, Việt Nam ln đạt được những thành
tựu đáng khích lệ như nền kinh tế tăng trưởng liên tục . Sự phát triển của nền kinh
cũng tạo ra áp lực về tăng quy mơ vốn cho nền kinh tế. Tích lũy tư bản làm cho nền
kinh tế tích lũy được nguồn vốn phát triển kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy
nhiên để có thể duy trì và phát triển hơn nửa thì địi hỏi chúng ta cần phải có được một
chiến lược phát triển hợp lý và một điều cực quan trọng là phải huy động được một
lượng vốn dồi dào và có những biện pháp sử dụng hiệu quả những nguồn vốn đó. Q
trình CNH-HĐH đất nước đạt được thành cơng trước hết phải có vốn lớn.
Sự phát triển bền vững và liên tục của nền kinh tế Việt nam trong một thế giới mà
xu thế toàn cầu hóa đang tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như áp lực, thách thức đòi hỏi
mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp …khơng chỉ biết làm giàu cho mình mà cịn phải
biết làm giàu cho toàn xã hội. Qui luật cạnh tranh đã buộc bất cứ một nhà doanh
nghiệp nào cũng phải không ngừng mở rộng vốn đầu tư để phát triển doanh nghiệp.
Con đường duy nhất để mở rộng vốn đầu tư của mình chính là con đường phải tích luỹ

ngày càng nhiều hơn để tái sản xuất mở rộng. Vì thế Nhà nước cần ni dưỡng khát
vọng cho cả cộng đồng dân cư ln biết say mê tích luỹ để mở rộng đầu tư hơn nữa.
Mặt khác việc thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài (FDI, ODA….) sẽ có
tác động hỗ trợ rất lớn. Đó chính là con đường dẫn đến sự thành cơng của sự nghiệp
CNH-HĐH đất nước, khẳng định tính đúng đắn của chính sách mở cửa, phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, sớm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin
- i/tich-luy-tu-ban
- />-

%A3n
/>Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
/>Tổng cục thống kê Việt Nam />Cổng thông tin điện tử Bộ kế hoạch và đầu tư
/>Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài />...

24



×