Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

TIỂU LUẬN độc lập, tự chủ, sáng tạo của đảng ta trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (131.57 KB, 28 trang )

1

TIỂU LUẬN - độc lập, tự chủ, sáng tạo của đảng ta trong nhận
thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
việt nam

Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu liên
quan trực tiếp đến đường lối chính trị của Đảng, phương hướng phát
triển của đất nước. Đây là vấn đề trung tâm, cốt lõi trong đường lối
cách mạng nước ta, nó chi phối các hoạt động chính trị, kinh tế văn
hố, xã hội, đối ngoại, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng… của
Đảng ta. Tuy nhiên đây cũng là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, có
nhiều cách tiếp cận khác nhau và hiện vẫn cịn khơng ít nội dung
phải tiếp tục nghiên cứu, cắt nghĩa, lý giải, trả lời, cả trên định
hướng chung cũng như định hướng cụ thể trên từng lĩnh vực. Cuộc
đấu tranh tư tưởng diễn ra gay gắt nhiều năm nay chủ yếu cũng trên
vấn đề này. Trong nội bộ chúng ta cũng có nhiều ý kiến khác nhau
cũng xung quanh vấn đề này. Cùng với sự chống phá quyết liệt của
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã
hội ở nước ta thì địi hỏi nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay càng trở nên cấp
bách hơn bao giờ hết.
1. Quá trình nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


2

Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, trong Cương lĩnh (năm 1930)
đã khẳng định mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của nước ta là độc lập


dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Và từ đó đến nay, hơn 70 năm qua
chúng ta luôn luôn kiên định và phấn cho mục tiêu, lý tưởng đó. Tuy
nhiên chủ nghĩa xã hội là gì và Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội
bằng cách nào thì qua mỗi chặng đường cách mạng chúng ta mới có
được nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.
Nếu giai đoạn 1930 - 1954, chủ nghĩa xã hội còn là mục tiêu,
phương hướng lâu dài của cách mạng Việt Nam, thì từ năm 1954 xây
dựng chủ nghĩa xã hội trở thành nhiệm vụ trực tiếp của miền Bắc.
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954) miền Bắc đã
được giải phóng, Miền Nam cịn tạm thời dưới ách xâm lược của
đế quốc Mỹ. Với nhận thức đúng đắn quy luật cách mạng xã hội
chủ nghĩa, trung thành với tư tưởng của Cương lĩnh đầu tiên và
xuất phát từ thực tiễn tình hình cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã
quyết định đưa một nửa nước - miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội
trong bất kỳ tình huống nào. Đây là nét sáng tạo độc đáo, phản ánh
tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và bản lĩnh vững vàng của Đảng,
xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nửa nước điều chưa có trong lý
luận cũng như tiền lệ thế giới.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiếp tục cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam để đánh đuổi đế quốc
Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Trong khi


3

tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền, Đảng khẳng
định miền Bắc xã hội chủ nghĩa giữ vai trị quyết định nhất đối với
tồn bộ sự nghiệp cách mạng cả nước, quyết định thắng lợi của nhiệm
vụ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Nam “chiếu cố miền Nam”...xây dựng chủ nghĩa xã hội

miền Bắc là chủ nghĩa xã hội thời chiến (theo kết luận của Đảng năm
1994). Do vậy, miền Bắc chịu sự chi phối của cả hai quy luật là quy
luật chiến tranh và quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội trong đó quy
luật của chiến tranh là chủ yếu chi phối. Do đó, địi hỏi Đảng ta phải
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ xây dựng và chiến
đấu bảo vệ.
Quan điểm của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
từ 1954 đến Đại hội III ( 2/1960) được hình thành về cơ bản, Đại hội
xác định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhằm: “đưa
miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.
Trên cơ sở những vấn đề cơ bản đã hình thành, quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc1 là quá trình Đảng từng bước bổ
sung, phát triển thêm những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam thể hiện qua các hội nghị Trung ương như: Hội nghị Trung ương
lần thứ 10 (1964) về lưu thơng phân phối và hình thành tư tưởng về 3
cuộc cách mạng, về mối quan hệ giữa công - nông nghiệp; Nghị quyết
Trung ương 19 (1971) hình thành lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong điều kiện chiến tranh, về mối quan hệ giữa chun chính vơ
1


4

sản và quyền làm chủ của nhân dân; Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 22 về khôi phục phát triển kinh tế miền Bắc...như vậy, từ sau
Đại hội III, những vấn đề lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội từng
bước được Đảng ta bổ sung phát triển phù hợp với thực tiễn xây dựng
chủ nghĩa xã hội, trong hoàn cảnh chiến tranh của miền Bắc. Đây là
yếu tố quyết định tạo nên thắng lợi của sự nghiệp xây dựng miền Bắc
xã hội chủ nghĩa - hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam thắng

Mỹ, hoàn thành sự nghiệp thống nhất nước nhà (1975).
Năm 1976, Đại hội IV của Đảng đã phát triển một bước quan
trọng đường lối do Đại hội lần thứ III (9/1960) đề ra đường lối xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Đó là đường lối: “Nắm
vững chun chính vơ sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng
quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học- kỹ thuật, cách mạng tư tưởng
và văn hố, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy
mạnh cơng nghiệp hố xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả
thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập
thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa...”1
Tuy nhiên, trong việc thiết kế mơ hình cụ thể và tổ chức chỉ đạo
thực hiện chúng ta đã phạm phải một số sai lầm khuyết điểm. Đó là
những sai lầm về chủ trương chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược
1

ĐCSVN - Báo cáo Chính trị BCHTU tại ĐHĐBTQ lần thứ IV, Nxb Sự thật, H. 1977, tr.
67.


5

và tổ chức thực hiện. Điều này đã được Đại hội VI của Đảng (12 1986) phân tích nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh
chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội,
khơng tơn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội
không đúng với thực tế Việt Nam.
Đến Đại hội V của Đảng (3/1982), quan niệm về con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội của Đảng có sự phát triển. Đồng thời, với việc
xác định đúng hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: xây

dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hai nhiệm vụ chiến lược đó
có quan hệ mật thiết với nhau. Đại hội V có nhận thức mới về sự phân
kỳ của thời kỳ quá độ thấy được tính khó khăn, phức tạp, lâu dài của
thời kỳ quá độ; do vậy, phải trải qua nhiều chặng đường kế tiếp nhau,
mà chúng ta còn đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Bởi
vậy, Đại hội xác định đường lối cơng nghiệp hố, phải ưu tiên phát triển
nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu...Song Đại hội V, vẫn
chưa thấy được sự cần thiết duy trì nền kinh tế nhiều thành phần trong
suốt thời kỳ q độ chưa có những chính sách, giải pháp cụ thể, để phát
triển nền kinh tế. Những hạn chế đó là một trong nguyên nhân của
những khó khăn mà đất nước phải vượt qua sau Đại hội.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam ngày càng được sâu sắc, đầy đủ và rõ hơn trong
công cuộc đổi mới xây dựng đất nước của Đảng.


6

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội thế
giới lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Trong khi chủ nghĩa tư
bản thế giới tích cực điều chỉnh và tranh thủ được thành tựu khoa
học, công nghệ đã phát triển khá nhanh về kinh tế. Trước tình hình
đó, các Đảng Cộng sản ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đã ý
thức được yêu cầu phải cải tổ, cải cách, đổi mới. Song, do có những
sai lầm trong xác định đường lối cải tổ, cải cách, những hạn chế
trong lãnh đạo chỉ đạo, cùng với sự tiến công ngày càng điên cuồng
của chủ nghĩa đế quốc đã đưa nhiều Đảng cộng sản mắc phải những
sai lầm nghiêm trọng như, hoang mang, hoài nghi mất niềm tin dẫn
đến xa rời, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, từ bỏ con đường xã hội chủ

nghĩa, đi theo chủ nghĩa tư bản hoặc theo chủ nghĩa xã hội dân chủ
mà thực chất, cũng là theo chủ nghĩa tư bản, chấp nhận đa nguyên,
chính trị, đa Đảng đối lập...kết quả là làm cho toàn bộ các nước xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào cuối những năm
80 đầu 90 của thế kỷ XX.
Đứng trước tình hình khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã
hội thế giới và sự khủng hoảng về kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Đảng
ta với bản lĩnh chính trị vững vàng, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng
tạo, đã nắm bắt đúng tình hình cách mạng thế giới và trong nước,
kịp thời rút ra những bài học quý qua cải tổ, cải cách để đề ra đường
lối đổi mới cho Việt Nam.
Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm
nhận thức đúng hơn và thực hiện hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ


7

nghĩa xã hội.Đại hội đã đưa ra những nhận thức mới về cơ cấu kinh tế,
về cơng nghiệp hố xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên; thừa
nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường (tuy vẫn
quan niệm có hai thị trường là: thị trường có tổ chức và thị trường tự do,
nên chủ trương thực hiện thị trường có tổ chức); thực hiện đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế theo hướng hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa;
phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đại hội chủ trương
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh
phù hợp; coi trọng việc kết hợp các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; có
nhận thức mới, có bước đột phá rất quan trọng về đổi mới chính sách xã
hội và thực hiện chính sách xã hội, coi chính sách xã hội là chính sách
độc lập, chính sách vì con người, chăm lo tồn diện và phát huy nhân tố
con người, chính sách xã hội phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội;

đổi mới một bước về chiến lược quốc phòng - an ninh đất nước. Đại hội
VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức
của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
Sau Đại hội VI là thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân vượt qua
những khó khăn của tình hình thế giới và trong nước, kiên trì đẩy
mạnh, từng bước cụ thể hố đường lối đổi mới của Đại hội VI để
tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hết
sức quan trọng.
Đại hội VII của Đảng họp vào tháng 6 - 1991, trong lúc tình hình thế
giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Lúc này chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước


8

Đông Âu đã bị sụp đổ và Liên Xô đã đi chệch hướng cải tổ, đang có nguy
cơ đi đến tan rã. Trước tình hình đó tác động sâu sắc đến cán bộ, đảng viên
và nhân dân ta; đã có những biểu hiện dao động, thậm trí có người muốn “đi
con đường khác”. Các thế lực thù địch thì tập trung phản công quyết quyết
liệt vào các nước xã hội chủ nghĩa cịn lại, trong đó có Việt Nam. Dựa trên
cơ sở đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra . Đại hội đã thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đại hội xác định
công bố Cương lĩnh là yêu cầu khách quan, Cương lĩnh cùng các văn kiện
khác là nền tảng lý luận để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới phát triển theo
con đường xã hội chủ nghĩa. Nội dung Cương lĩnh đề cập việc tổng kết quá
trình lãnh đạo cách mạng và rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng
Việt Nam. Cương lĩnh khẳng định tính tất yếu và điều kiện đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, xác định quan niệm đúng về chủ nghĩa xã hội và con
đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khẳng định hệ thống chính trị và

vai trị lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị.
Thành công nhất là Cương lĩnh xác định đúng về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cương lĩnh
chỉ rõ: “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã
hội: do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển
cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các
tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hố tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất cơng,
làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống tự do, ấm no,


9

hạnh phúc, có điều kiện phát triển tồn diện cá nhân; các dân tộc
trong nước bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”2.
Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đã nêu lên những phương
hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
gồm 7 điểm sau:
Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân, vì
dân, lấy liên minh giai cấp cơng nhân với giai cấp nơng dân và tầng lớp trí
thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền
dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỹ thuật cương xã hội, chuyên chính với
mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Phát triển lực lượng sản xuất, cơng nghiệp hố đất nước theo hướng
hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ
trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sơ vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất và cải thiện đời sống
nhân dân.
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn

hoá làm cho thế giới quan Mác - lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy
những truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu tinh
hoa văn hoá nhân loại

2

ĐCSVN, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH, Nxb CTQG, H. 1991, tr. 7


10

Thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt
trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn dấu vì sự nghiệp dân
giàu nước mạnh
Xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến
lược của cách mạng Việt Nam.
Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức ngang tầm với đòi hỏi của cách mạng.
Tiếp tục đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện cơng
nghiệp hố, hiện đại hố đất nước cần phải chú trọng bảo vệ cải thiện
môi trường sinh thái, thực hiện kế hoạch hố gia đình.
Bảy điểm trong các phương hướng nêu trên chính là những nhiệm vụ
lớn phải giải quyết trong thời kỳ quá độ, là nội dung của con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Các đặc trưng và phương hướng chỉ đạo quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh đã tạo
nên một mơ hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mơ hình đó là sự thống
nhất giữa tính phổ biến và tính đặc thù ở Việt Nam. Do vậy, chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam là một mơ hình cụ thể mang “bản sắc Việt Nam”. Đây là sự

khẳng định có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với quá trình phát triển của cách
mạng Việt Nam cả hiện tại và lâu dài. Sau đó các nghị quyết của Ban Chấp
hành Trung ương và Bộ chính trị tiếp tục bổ sung, phát triển và cụ thể hoá
các quan điểm, phương hướng cơ bản nêu trong Cương lĩnh và Chiến lược.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng, khoá VII (1/1994) đã


11

đề ra những biện pháp đẩy mạnh thực hiện công cuộc đổi mới, đồng thời chỉ
ra 4 nguy cơ lớn đối với cách mạng nước ta đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế; nguy cơ đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng, tệ quan
liêu; âm mưu hành động “Diễn biến hồ bình” của các thế lực thù địch.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996), trên cơ sở phân tích,
đánh giá tình hình đã rút ra kết luận: nước ta đã ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của chặng
đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đất nước chuyển sang thời kỳ
mới - thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước. Đại
hội VIII của Đảng đưa ra kết luận mới, rất quan trọng la: sản xuất
hàng hóa khơng đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát
triển của nền văn minh nhân loại, tồn tai khách quan, cần thiết cho
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã
được xây dựng. Nhận thức mới này về chủ nghĩa xã hội và kinh tế
của chủ nghĩa xã hội là sự vượt lên nhận thức cũ, giáo điều trước đây
với sự kỳ thị, xem thường sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị, quan
hệ thị trường, cơ chế thị trường. Tuy nhiên, đến Đại hội VIII, vấn đề
nền kinh tế của nước ta hiện nay và lâu dài, có gọi là kinh tế thị
trường khơng? vẫn chưa có câu trả lời xác định, chỉ đến Đại hội IX,
với sự phát triển của thực tiễn, câu trả lời khẳng định mới xuất hiện.
Đại hội VIII tiếp tục khẳng định tư tưởng của Cương lĩnh:

“Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác
định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường


12

lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng
xã hội chủ nghĩa”3.
Như vậy là đến trước Đại hội IX của Đảng, nhận thức về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo
tinh thần đổi mới đã được xác lập và từng bước được bổ sung hoàn
thiện dần. Đó là kết quả của cả một q trình tìm tịi, thử nghiệm,
suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và cơng sức
của tồn Đảng, tồn dân ta trong nhiều thập kỷ. Nó được rút ra từ
thực tiễn quá trình đổi mới thể hiện đậm nét ở các Nghị quyết của
Đại hội Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đáng chú ý là
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khoá IV) tháng 8 - 1979 với
những chủ trương làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị 100 ngày 13 1 - 1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khố IV) về khốn sản
phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã
nông nghiệp; các quyết định 25/CP, 26/CP của Thủ tướng chính phủ
năm 1982 về nhiều nguồn cân đối và “Kế hoạch ba phần”; Nghị
quyết Đại hội V (3 - 1982) với việc xác định lại thứ tự ưu tiên trong
phát triển kinh tế, khẳng định nông nghiệp là mặt trận ưu tiên hàng
đầu; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá V) tháng 6 - 1985, về
giá, lương, tiền; Nghị quyết Đại hội VI (tháng 8 - 1986) về đổi mới
toàn diện đất nước; Cương lĩnh và Chiến lược được thông qua tại
Đại hội VII (tháng 6 - 1991); Chiến lược đẩy mạnh cơng nghiệp hố,
hiện đại hoá được xác định tại Đại hội VIII (tháng 6 n- 1996),.v.v..
3


Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG,
H, 1996, tr. 68.


13

Tuy nhiên, cũng cịn khơng ít vấn đề chưa đủ sáng tỏ, chưa kết luận
được, thực tiễn đang còn vận động, có nhiều việc phải vừa làm vừa
rút kinh nghiệm cần tiếp tục tổng kết thực tiễn, bổ xung, làm sáng tỏ
thêm một số vấn đề, hoàn thiện thêm những nhận thức về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2. Đại hội IX và Đại hội X của Đảng bổ xung, làm sáng tỏ thêm
nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta.
Đại hội IX của Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử
trọng đại loài người đã kết thúc thế kỷ XX và bước sang thế kỷ
XXI. Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam đã đi qua một thế kỷ
đấu tranh gian nan, oanh liệt giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ
quốc và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế kỷ XX là thế kỷ
của những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc
Việt Nam. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám
năm 1945 lập nên Nhà nước cơng nơng đầu tiên ở Đơng Nam á; đó
là thắng lợi vĩ đại của các cuộc kháng chiến thần thánh đánh thắng
những tên thực dân, đế quốc hung hãn, giải phóng dân tộc, bảo vệ
vững chắc Tổ quốc. Những thắng lợi to lớn của sự nghiệp xây dựng
đất nước sau chiến tranh, của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong những năm qua đã tạo ra thế
và lực mới cho cách mạng Việt Nam, tạo ra điều kiện tiền đề rất
quan trọng để dân tộc ta bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ



14

đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố nhằm xây dựng thành công
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bước vào thời kỳ mới, cách mạng nước ta vừa đứng trước thời
cơ vận hội lớn, vừa phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức lớn
không thể xem thường. Nắm bắt cơ hội, tận dụng thời cơ, đẩy lùi
nguy cơ, vượt qua thách thức với tinh thần cách mạng tiến công đưa
cách mạng Việt Nam tiến lên mạnh mẽ, đó là vấn đề có ý nghĩa
sống còn đối với chúng ta trong thời kỳ mới. Đại hội IX chỉ rõ: thực
tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đã
chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thơng qua tại Đại
hội VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức rõ hơn con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội khẳng định:
“Cương lĩnh (năm 1991) là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong
những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất
nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”4.
Sự khẳng định lại mục tiêu lý tưởng là rất cần thiết trong tình hình
mới, khi đất nước cùng với nhân loại bước vào thế kỷ XXI, trên thế
giới có những diễn biến nhanh và phức tạp, đất nước đứng trước nhiều
nguy cơ và thách thức mới. Đảng ta đã nhiều lần chỉ rõ mục tiêu cao cả,
thiêng liêng, bất di, bất dịch của nhân dân ta là xây dựng một nước Việt
4

Đảng Cộng sản Việt Nam,, Văn kiện Đại hội Đảng IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr 83.



15

Nam độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề nguyên tắc, sợi chỉ đỏ xuyên
suốt toàn bộ đường lối cách mạng nước ta. Bởi vì, độc lập dân tộc là
điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội
là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc thực sự. Đi lên chủ
nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan theo đúng quy luật tiến hố của
lịch sử lồi người.
Bước phát triển mới đóng vai trị làm cơ sở để bổ sung, hồn thiện
những phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đại hội IX bổ
sung nhận thức về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong mục tiêu chung đã bổ sung
thêm cụm từ: “dân chủ”. Sự bổ sung đó là cần thiết phản ánh bước tiến
mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội.
Một bước phát triển quan trọng mà Đại hội IX mang lại đã làm rõ
hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta là sự phát triển mới
nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội chỉ
rõ con đường đi lên của nước ta là sự phát triển lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị
của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng
tiếp thu kế thừa thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản
chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực
lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.


16

Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra

sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất
khó khăn, phức tạp, tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với
nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất
q độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và
đấu tranh giữa cái mới và cái cũ. Trong thời kỳ quá độ có nhiều hình
thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng
lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp
trong xã hội ta đã thay đổi nhiều, cùng với những biến đổi to lớn về
kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là
quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ và nhân dân, đoàn kết hợp
tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp cơng nhân thống nhất với lợi ích tồn
dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vấn đề đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay diễn
ra trong điều kiện mới, với những nội dung và hình thức mới. Nội
dung đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi
sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công
bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục
những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái. Đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ


17

độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa
phồn vinh, nhân dân ấm lo hạnh phúc.
Về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trên lĩnh vực kinh tế.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính

sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Trả lời cho câu hỏi nền kinh tế nước ta hiện nay và lâu dài, có gọi
là nền kinh tế thị trường khơng? Đại hội IX chỉ rõ: thị trường không
chỉ là “cơ chế vận hành” mà cịn là thuộc tính nội tại của kinh tế trong
thời kỳ quá độ, cả trong chủ nghĩa xã hội. Nhưng ở trình độ, tính chất
phát triển của nước ta hiện nay, khi thời kỳ quá độ mới chỉ đi qua chặng
đường đầu, nền kinh tế mới chuyển đổi, còn đang là một nền kinh tế
chuyển đổi thì một nền kinh tế thị trường phát triển, thành thục vẫn
chưa có ở nước ta. Đó mới chỉ là nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đây là khái niệm được hình thành chính thức ở Đại hội
IX, nó định hình và minh chứng cho đột phá lý luận kinh tế của Đảng
ta từ vấn đề mơ hình kinh tế. Đây là mơ hình kinh tế tổng quát trong
suốt thời kỳ quá độ ở nước ta.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đó, kinh
tế nhà nước đóng vai trị chủ đạo. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra, kinh tế
tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân được xác định là một bộ phận hợp


18

thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tất cả
các thành phần kinh tế được thừa nhận về mặt pháp lý, được bình đẳng
trước pháp luật và đang hoạt động trong thực tế đều cấu thành nền kinh
tế quốc dân.
Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thi trường ở
nước ta đòi hỏi hết sức bức xúc sự lớn mạnh, thực lực của kinh tế nhà
nước, để tính chủ đạo của nó là một sức mạnh kinh tế chứ khơng phải

là một quan niệm có tính chất ý chí, nó phải có năng lực đứng vững và
thắng thế trong cạnh tranh giữa các chủ kinh tế khác, cạnh tranh trong
thị trường nội địa và cạnh tranh trên thị trường quốc tế, trong khung
khổ pháp lý, trong luật chơi và sân chơi bình đẳng, nghĩa là chủ đạo
thực tế chứ khơng phải là danh nghĩa, hình thức. Tuy nhiên, đây là vấn
đề khơng đơn giản, nó địi hỏi một sự đổi mới và lớn mạnh đồng bộ
không chỉ tư duy kinh tế mà còn là xây dựng thể chế kinh tế (luật pháp
và chính sách), cơ chế quản lý luận kinh tế, tạo lập đồng bộ từ cơ cấu
sở hữu, cơ cấu kinh tế và các thành phần kinh tế, hợp thành mơ hình
kinh tế ở nước ta.
Về quan điểm phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững;
tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường ngay từ bước phát triển; gắn việc xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp
chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh. Tăng
trưởng kinh tế đi đơi với phát triển văn hố và giáo dục, xây dựng nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa


19

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống
tinh thần của nhân dân; nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con
người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đất nước.
Đại hội IX còn đưa ra quan điểm đồng bộ, hệ thống về những
động lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước:
một là, đại đoàn kết tồn dân trên cơ sở liên minh giữa cơng nhân với
nơng dân và trí thức do Đảng lãnh đạo; hai là, kết hợp hài hồ các lợi
ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của
các thành phần kinh tế, của toàn xã hội; ba là, phát huy dân chủ trên các

lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hố, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành,
các địa phương.
Như vậy, Đại hội IX đã thể hiện một bước quan trọng làm sáng tỏ
hơn nữa vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận
của Đảng ta qua tổng kết thực tiễn đổi mới, xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Phát triển hơn nữa quan niệm xem đoàn kết là một động lực quan
trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hội nghị Trung ương
7 (khoá IX) đã nhấn mạnh vấn đề đại đồn kết tồn dân tộc, khơng kể
họ là người Việt Nam đang cư trú và làm việc trong nước hay ở nước
ngoài, hãy tán thành mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh đều cần phải thu hút vào mặt trận đồn kết đó, phát


20

huy sức mạnh của họ trong sự nghiệp đổi mới đất nước, sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Biện chứng của quá trình nhận thức là quá trình vừa nghiên cứu,
vừa tiếp thu sửa chữa và khắc phục những hạn chế và khuyết điểm,
tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển những nhận thức mới, những nội
dung mới. Đại hội lần thứ X của Đảng vừa qua (4/2006). Cùng với việc
kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và tổng kết qua 20
năm tiến hành công cuộc đổi mới và tiếp tục hoạch định đường lối
phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt, với tư duy độc lập
tự chủ, sáng tạo, có những bổ sung về xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng:
“Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện

đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất; có nền văn hố tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
con người được giải phóng khỏi áp bức, bất cơng, có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng, đồn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có
quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới” 5

5

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb, CTQG,
H. 2006, tr68.


21

Như vậy, so với 6 đặc trưng được thể hiện trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông
qua tại Đại hội VII đã có sự bổ sung, phát triển, ngồi sự bổ sung
đặc trưng thứ nhất và đặc trưng thứ bảy thì trong từng đặc trưng về
nội dung, câu từ trong từng đặc trưng cũng đã có bước phát triển thể
hiện tư duy mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời Đại hội X nói rõ về con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội chúng ta phải: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa; đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố; xây dựng
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần
của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại
đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong

sạch vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc
gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”6.
Như vậy, so với 7 phương hướng trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) cũng đã có sự bổ
sung và phát triển mới. Nhất là, Đại hội nhấn mạnh, phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời, chủ động và tích
cực hội nhập kinh tế, quốc tế.
Quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là sản phẩm sáng tạo vĩ đại, là thành tựu lý luận
6

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb, CTQG,
H. 2006, tr69.


22

to lớn của Đảng ta trên cơ sở tuyệt đối trung thành với lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí, phát huy truyền thống bản sắc
của dân tộc, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Quan điểm đúng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam đồng thời cũng là kết quả của quá trình tổng kết đúc rút và học
tập có chọn lọc kinh nghiệm của cách mạng xã hội chủ nghĩa thế
giới.
Quan niệm về mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam được hình thành và phát triển, gắn với quá
trình phát triển trưởng thành của Đảng, ngay từ ngày đầu thành lập.
Nó khơng chỉ là kết quả của q trình tìm tịi, khảo nghiệm, q
trình tổng kết lý luận, tổng kết thực tiễn; mà còn là sự tổng kết trí
tuệ, cơng sức của tồn Đảng, tồn qn, tồn dân ta để hình thành

lên tư duy mới về con đường chủ nghĩa xã hội.
Tóm lại, thành tựu đổi mới tư duy lý luận của Đảng về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tới
nay cho thấy những câu trả lời cho hiện tai - tương lai và triển vọng
của chủ nghĩa xã hội ở nước ta, của nhân dân và dân tộc ta là:
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật
phát triển của cách mạng nước ta trong thời đại ngày nay.
- Mục tiêu của đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đồng
thời là mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội, của sự nghiệp xây


23

dựng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một thời
kỳ lịch sử lâu dài được đặc trưng bởi định hướng xã hội chủ nghĩa
trong xây dựng nền kinh tế thị trường; tính chất, mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội được thể hiện trong xây dựng nền dân chủ, nhà nước
pháp quyền, đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị để
khơng ngừng bảo đảm dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân.
- Cơng nghiệp hố, hiện đại hố là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện
đại của chủ nghĩa xã hội với chiến lược cơng nghiệp hố rút ngắn, bảo
đảm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất , trên cơ sở đó, từng
bước xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến của xã hội chủ nghĩa, đó
khơng chỉ là q trình phát triển kỹ thuật - cơng nghệ mà cịn là q
trình phát triển kinh tế - xã hội, q trình phát triển văn hố, xã hội, con
người - đạo đức - lối sống theo hệ giá trị của chủ nghĩa xã hội.

- Đổi mới và sự hình thành nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, về
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là làm sao cho công cuộc đổi
mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng quy luật, thuận lòng dân và hợp
thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp của khoa học, dân chủ và văn hoá,
thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - văn hoá


24

- xã hội, của hệ thống chính trị, thể hiện sức mạnh của chủ thể nhân dân
và quyền lực nhân dân do Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý.
Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, do đó cần được bảo đảm bởi:
- Đảng Cộng sản thực sự trong sạch, vững mạnh, thực hiện được
vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của mình với bản chất giai cấp
cơng nhân, đại biểu chân chính cho lợi ích của nhân dân lao động và
của dân tộc, kết tinh được tinh hoa, trí tuệ - đạo đức - văn hoá của dân
tộc, của nhân loại, thể hiện được tinh thần thời đại, đi tiên phong trong
đổi mới, sáng tạo và phát triển.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân,
thực sự là người thể hiện, người bảo vệ quyền lực nhân dân.
- Hệ thống chính trị đổi mới theo yêu cầu dân chủ hoá, khoa học
hoá, hiện đại hố, đủ sức đóng vai trị là động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế, tăng cường đại đoàn kết dân tộc gây dựng sự đồng thuận xã
hội, đủ sức là cơ chế tổng thể thực hiện dân chủ và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, tạo thành cơ sở xã hội bền vững của chế độ xã
hội chủ nghĩa.
- Mở rộng quan hệ hợp tác, thực hiện đường lối và chính sách đối
ngoại hồ bình, hữu nghị với các nước trong khu vực và trên thế giới,
phục vụ có hiệu quả sự phát triển, chấn hưng dân tộc và hiện đại hoá

xã hội Việt Nam trong thế kỷ XXI, bảo vệ được chủ quyền an ninh
quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.


25

Tư duy mới của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thành tựu lý luận có giá trị hết sức to
lớn, góp phần quyết định đảm bảo cho sự tồn tại, đứng vững và phát
triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ sóng gió, biến
động khó khăn vượt qua. Nghiên cứu nắm vững, bảo vệ và không
ngừng bổ sung phát triển lý luận về con đường lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta.
3. Đôi điều suy nghĩ, băn khoăn về định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội đã ngày càng sáng tỏ hơn, song vẫn còn ở những định hướng
cơ bản. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu càng xuất hiện
nhiều vấn đề cụ thể không dễ trả lời chỉ với định hướng chung hoặc
chỉ dựa vào kinh nghiệm. Chúng ta nói phải giữ vững chủ nghĩa xã
hội, chống nguy cơ chệch hướng. Song định hướng xã hội chủ nghĩa
là gì? cụ thể trên từng lĩnh vực là thế nào? ở nước ta đã có định
hướng chưa? Thế nào là đúng hướng, thế nào là chệch hướng?
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, nhưng có quan điểm vẫn cho rằng kinh tế thị trường
với chủ nghĩa xã hội là khơng thể dung hợp. Ngược lại, cũng có ý kiến
lại cho rằng hiện nay chúng ta ngả sang co đường tư bản rồi, “miệng nói
chủ nghĩa xã hội nhưng thực ra là đang phát triển tư bản chủ nghĩa”, bởi
vì áp dụng cơ chế thị trường, cho phát triển cả tư bản tư nhân; xã hội có



×