BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
HỌ TÊN: TRẦN THỊ MỸ HẠNH
MSHV: 211219004
LỚP: QUẢN LÝ KINH TẾ (KHĨA 31 - VĨNH LONG)
TIỂU LUẬN MƠN HỌC
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ
VIỆT NAM TRONG ĐỢT DỊCH COVID-19
LẦN THỨ TƯ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS NGUYỄN XUÂN LAM
VĨNH LONG - 2021
1
Mục lục
Mục lục..................................................................................................................2
1.Giới thiệu............................................................................................................3
1.1 Đặt vấn đề....................................................................................................3
1.2 Mục đích của bài viết..................................................................................3
2.Các động lực tăng trưởng kinh tế hiện nay của nền kinh tế Việt Nam...............4
3.Tác động của chính sách giãn cách và phong tỏa đến các hoạt động kinh tế của
Việt Nam................................................................................................................7
4.Một số khuyến nghị Chính phủ cần có chính sách mở cửa nền kinh tế nước ta
trong thời gian tới để cuối năm nay và sang năm sau sẽ dần dần đưa nền kinh tế
trở lại hoạt động bình thường..............................................................................14
5.Kết luận............................................................................................................16
Tài liệu tham khảo...............................................................................................16
2
TIỂU LUẬN MƠN HỌC
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ
VIỆT NAM TRONG ĐỢT DỊCH COVID-19 LẦN THỨ TƯ
1. Giới thiệu
1.1 Đặt vấn đề
Dịch Covid-19 bùng phát đầu tiên tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung
Quốc vào tháng 12/2019. Đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của
virus corona kéo dài cho tới nay trên 215 quốc gia, khiến hàng chục triệu người
mắc, và hàng triệu người tử vong trên thế giới và chưa có dấu hiệu “hạ nhiệt”.
Đợt dịch thứ 4, bắt đầu từ cuối tháng 4/2021 đang diễn biến theo chiều
hướng phức tạp, nhiều thách thức với đa ổ dịch, đa nguồn lây và đa biến chủng,
gây ra tới 98% tổng số ca nhiễm và tử vong, được cho là “nguy hiểm nhất” bắt
đầu từ ngày 27/4/2021 đang diễn ra “rất phức tạp” khi xuất hiện biến thể Delta
có khả năng lây lan nhanh, ít triệu chứng để nhận biết, thời gian ủ bệnh ngắn và
dễ gây tử vong.
Việc vừa áp dụng các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt, vừa phục hồi
và phát triển kinh tế - xã hội thì kinh tế Việt Nam bị tác động như thế nào bởi đại
dịch và Chính phủ Việt Nam nên làm gì để có thể phục hồi nền kinh tế sau đại
dịch.
Với sự nhận thức và hiểu biết của bản thân, tơi xin trình bày bài viết này
nhằm khái quát nhất về tình hình kinh tế của Việt nam trước sự tác động của đợt
đại dịch Covid-19 lần thứ 4 này.
1.2 Mục đích của bài viết
Bài viết này nhằm mục đích khái quát cho người đọc về tình hình kinh tế của
Việt Nam trong đại dịch Covid-19 lần thứ 4 này.
Bài viết phân tích về tình hình tăng trưởng của nền kinh tế trong 6 tháng đầu
năm 2021, về GDP, chi tiêu dùng cuối, cán cân xuất nhập khẩu, đầu tư khi Chính
phủ Việt Nam đang chủ trương thực hiện “mục tiêu kép”.
Bài viết cũng nêu ra các khó khăn mà nền kinh tế gặp phải (ảnh hưởng scác
ngành dịch vụ, việc xuất khẩu, việc thất nghiệp, khó khăn của người lao động,
của doanh nghiệp) khi thực hiện các chủ trương, chính sách phong tỏa, giãn cách
3
xã hội và Chính phủ đã thực hiện các chủ trương, chính sách gì để hỗ trợ người
lao động, doanh nghiệp trong tình hình này
Bài viết cũng đưa ra các đề xuất, kiến nghị để giúp nền kinh tế phục hồi sau
đại dịch.
2. Các động lực tăng trưởng kinh tế hiện nay của nền kinh tế Việt Nam
Dịch Covid-19 bùng phát tại một số địa phương trên cả nước từ cuối tháng
Tư với những diễn biến phức tạp, khó lường đã đặt ra nhiều thách thức, rủi ro
cho nước ta trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa
phát triển kinh tế”. Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm cho thấy sự chỉ đạo,
điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự chung sức, đồng
lịng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước và lực
lượng tuyến đầu chống dịch để kiểm soát dịch bệnh, thực hiện các nhiệm vụ và
giải pháp phát triển kinh tế – xã hội năm 2021.
GDP 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của 6
tháng đầu năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 7,05% và 6,77% của cùng kỳ
năm 2018 và 2019.
Hình 1: Tốc độ tăng GDP 6 tháng giai đoạn 2017 – 2021 (%)
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 3,82%, đóng góp 8,17%; khu vực cơng nghiệp và xây dựng tăng
8,36%, đóng góp 59,05%; khu vực dịch vụ tăng 3,96%, đóng góp 32,78%.
4
Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản chiếm tỷ trọng 12,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm
37,61%; khu vực dịch vụ chiếm 41,13%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
chiếm 9,11%.
Hình 2: Cơ cấu GDP 6 tháng đầu năm 2021 (%)
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,56% so
với cùng kỳ năm 2020; tích lũy tài sản tăng 5,67%; xuất khẩu hàng hóa và dịch
vụ tăng 24,05%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 22,76%.
Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2021 diễn ra
trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc
biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 68,3 tạ/ha;
chăn nuôi lợn phục hồi và chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, tổng đàn lợn và gia
cầm thời điểm cuối tháng Sáu ước tăng lần lượt 11,6% và 5,4% so với cùng thời
điểm năm trước. Xuất khẩu thủy sản có dấu hiệu hồi phục, nhu cầu nhập khẩu cá
tra tại các thị trường nước ngoài tăng trở lại, sản lượng tôm thẻ chân trắng 6
tháng đầu năm tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước.
Về sản xuất công nghiệp trong quý II/2021 tăng trưởng khá do hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì và đang dần phục hồi, tốc độ
tăng giá trị tăng thêm đạt 11,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng
đầu năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 8,91%, trong đó cơng
nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42%, cao hơn tốc độ tăng 5,06% của cùng kỳ
năm 2020. Giá trị tăng thêm tồn ngành cơng nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 ước
5
tính tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 6,29%; q II tăng
11,45%). Trong đó, ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42% (quý I
tăng 8,9%; quý II tăng 13,84%), đóng góp 2,9 điểm phần trăm vào mức tăng
tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện
tăng 8,16%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác
thải, nước thải tăng 6,75%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành khai khoáng
giảm 6,61% (do sản lượng khai thác dầu thơ giảm 7,3% và khí đốt tự nhiên dạng
khí giảm 12,5%) làm giảm 0,25 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Về bán lẻ và dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng q II/2021 ước tính đạt 1.177,6 nghìn tỷ đồng, giảm 8,4% so với quý
trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm
2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2.463,8
nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng
3,55% (cùng kỳ năm 2020 giảm 5,77%).
Hình 3: Bán lẻ và dịch vụ 6 tháng giai đoạn 2017 – 2021
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 5/2021 đạt 26,19 tỷ USD.
Ước tính tháng 6/2021 ước tính đạt 26,5 tỷ USD, tăng 1,2% so với tháng trước
và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu quý II/2021 ước
tính đạt 79,23 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,1% so
với quý I năm nay. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa ước tính đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước,
trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 40,89 tỷ USD, tăng 16,8%, chiếm
25,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngồi (kể cả dầu
thơ) đạt 116,74 tỷ USD, tăng 33%, chiếm 74,1%. Trong 6 tháng đầu năm 2021
6
có 25 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 88,9% tổng kim
ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 58%).
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 5/2021 đạt 28,27 tỷ USD.
Ước tính tháng 6/2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 27,5 tỷ USD, giảm
2,7% so với tháng trước và tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch
nhập khẩu quý II/2021 ước tính đạt 83,5 tỷ USD, tăng 45,7% so với cùng kỳ
năm trước và tăng 10,4% so với quý I năm nay. Tính chung 6 tháng đầu năm
2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 159,1 tỷ USD, tăng 36,1% so
với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 55,9 tỷ USD,
tăng 30,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 103,2 tỷ USD, tăng 39,5%.
Trong 6 tháng đầu năm 2021 có 31 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ
USD, chiếm tỷ trọng 87,4% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng
1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2020. CPI bình
quân quý II tăng 0,45% so với quý trước và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm
2020. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,47% so với bình quân cùng
kỳ năm 2020.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 694,4
nghìn tỷ đồng, bằng 41,2% dự tốn năm, trong đó chi thường xuyên đạt 501
nghìn tỷ đồng, bằng 48,3%; chi đầu tư phát triển 133,9 nghìn tỷ đồng, bằng
28,1%; chi trả nợ lãi 56,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,6%.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành
ước đạt 1.169,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn
nhiều mức tăng 3% của năm 2020. Mức tăng này phản ánh kết quả của các giải
pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư cơng và hiệu quả các chính sách hỗ trợ của
Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp, cũng như xu thế đón đầu dịng vốn
FDI đang chuyển dịch vào Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 được
kiểm sốt.
3. Tác động của chính sách giãn cách và phong tỏa đến các hoạt động kinh
tế của Việt Nam
Dịch COVID-19 bùng phát lần thứ 4 ở Việt Nam, đây là đợt dịch lây nhiễm
nhanh và nguy hiểm gấp nhiều lần so với các đợt trước, nhiều tỉnh/thành phố đã
tiến hành phong tỏa đối với một số địa bàn và phải áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg
của Thủ tướng Chính phủ, “ai ở đâu thì ở đó”, “3 tại chỗ”, “1 cung đường 2
điểm đến” đã ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của Việt Nam.
Trong 6 tháng đầu năm 2021, có 70,2 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh
doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục
7
giải thể, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2020, bao gồm: 35,6 nghìn doanh
nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm
trước; 24,7 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng
25,7%; 9,9 nghìn doanh nghiệp hồn tất thủ tục giải thể, tăng 33,8%. Trung bình
mỗi tháng có 11,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Dịch bùng phát, việc vận chuyển hàng hố gặp khó khăn, trong khi nông sản
vẫn thu mua hàng ngày theo đúng hợp đồng. Sản phẩm thu mua về chưa kịp
xuất khẩu vì ảnh hưởng bởi dịch bệnh, khiến doanh nghiệp phải tìm kiếm kho
lạnh để gửi và bảo quản chất lượng. Điều này khiến chi phí sản xuất tăng thêm.
doanh nghiệp cũng đang tính tốn và thiết kế để chuyển đổi quy trình sản xuất
theo hướng xuất khẩu hàng sơ chế nhằm thích ứng với điều kiện kéo dài và tình
hình mới của dịch bệnh. Điều đó có thể khiến nhu cầu vốn tăng thêm và nhất là
khi hàng tồn kho tăng mà doanh nghiệp vẫn phải chi trả nhiều khoản tiền khác
trong tháng.
Đã có tới trên 50% nhà máy chế biến cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long và
nhà máy chế biến thủy sản ở miền Đơng Nam Bộ đóng cửa. Tất cả doanh nghiệp
khảo sát đều cho rằng, tổ chức sản xuất “3 tại chỗ” chỉ là phương án cầm cự,
tạm thời để doanh nghiệp duy trì sản xuất trong thời gian ngắn, không thể kéo
dài hơn 1 tháng. Trong khi đó, tỷ lệ tiêm mũi 1 vaccine phịng COVID-19 của
các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản trung bình từ 40-50%. Ngồi Cà
Mau có tỷ lệ tiêm nhanh và cao nhất, các địa phương khác có tỷ lệ tiêm khá thấp
và chậm
Theo phản ánh của các doanh nghiệp chế biến tơm tại Cà Mau, Sóc Trăng và
Bạc Liêu (3 địa phương dẫn đầu về sản lượng và sản xuất tôm của cả nước),
hiện nay diễn biến dịch bệnh COVID-19 ở các địa phương vẫn phức tạp. Các
tỉnh đều thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ nên khơng chỉ khó khăn trong lưu thơng hàng hóa, mua bán con
giống, thu hoạch tơm, mà các nhà máy cũng đã phải giảm công suất chế biến từ
60-70% do thiếu hụt cơng nhân, chi phí tăng cao
Nhiều doanh nghiệp cho rằng, hiện tại, ngành tôm Việt Nam đã trễ nhịp so
với cơ hội thị trường, nhưng nếu Chính phủ và địa phương nhanh chóng có giải
pháp kiểm sốt dịch bệnh ngay thì doanh nghiệp vẫn cịn cơ hội để phục hồi sản
xuất, giá tơm sẽ tăng trở lại. Từ tháng 9 trở đi là thời điểm các nhà máy bước
vào cao điểm thu mua nguyên liệu, chế biến và xuất khẩu nhưng với tình hình
hiện tại thì chắc chắn nguồn cung tơm sẽ bị đảo lộn, thiếu hụt cho tới cuối năm,
thậm chí kéo dài sang năm 2022.
8
Tương tự, từ cuối tháng 7/2021, khi dịch COVID-19 lây lan nhanh đến các
tỉnh đồng bằng sơng Cửu Long thì các doanh nghiệp chế biến cá tra hứng chịu
đầu tiên, có tới 50% doanh nghiệp tại một số địa phương ở vùng trọng điểm phải
đóng cửa. Cá tra ni tại ao của công ty vượt size do các nhà máy ngừng hoạt
động hoặc giảm tối đa công suất. Một số doanh nghiệp ni cá tra có thời gian
ni bị kéo dài, mật độ lớn khiến cá chết hàng chục tấn mỗi ngày. Hiện nay, ước
tính, cơng suất hoạt động của tồn ngành cá tra chỉ cịn từ 10-20% so với trước
thời điểm có dịch.
Tại Hậu Giang, hầu hết nhà máy thủy sản đã đóng cửa vì khơng đáp ứng
được điều kiện “3 tại chỗ” do thiếu công nhân, việc đi lại gặp nhiều khó khăn.
Hơn thế nữa, nhiều nhà máy chế biến nằm trong “vùng đỏ” nên toàn bộ lao động
từ “vùng xanh” không tới làm việc được. Một số nhà máy thời gian đầu cố gắng
thực hiện “3 tại chỗ” để duy trì cơng ăn việc làm cho người lao động, trả hợp
đồng các đơn hàng đã ký, tuy nhiên cũng buộc phải ngưng hoạt động sau 1
tháng do phát sinh chi phí như: tiền thuê khách sạn, ký túc xá, nhà ở, lương, tiền
ăn, chăm sóc y tế, thuê cán bộ y tế xét nghiệm cho công nhân quá lớn.
Những doanh nghiệp khác ngưng hoạt động thì chuyển hàng từ kho trữ để
trả dần đơn hàng cho khách. Cho tới nay, hầu hết các doanh nghiệp chế biến đều
đã cạn cả về nguyên liệu lẫn thành phẩm trong kho nên phải dừng hoạt động
hoàn toàn.
Nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra tại Bến Tre đã ngừng chế biến cá tra từ
đầu tháng 8/2021 do việc đi lại, vận chuyển, ni trồng gặp khó khăn, cơng nhân
lo ngại bị nhiễm bệnh nên cũng xin nghỉ. Tỷ lệ doanh nghiệp chế biến được
chích vaccine hiện vẫn dưới 15%. Để cầm cự sản xuất, một số doanh nghiệp cố
gắng chế biến nghêu nhưng giá thấp nên cũng đang xem xét ngưng hoạt động.
Thêm nữa, khơng ít khách hàng nhập khẩu địi hủy hợp đồng và tìm khách hàng
thay thế với lý do chậm tiến độ giao hàng.
Còn tại Đà Nẵng, sau khi thành phố thơng báo giãn cách xã hội thì tồn bộ
doanh nghiệp chế biến thủy sản cũng đã đóng cửa. Một số doanh nghiệp dự kiến
thực hiện “3 tại chỗ” để sản xuất cầm cự nhưng thiếu công nhân chế biến sâu
trầm trọng. Doanh nghiệp xuất khẩu tôm đã xác định hoạt động cầm chừng bằng
cách thu mua tôm nguyên liệu để làm hàng tôm PD đơn giản (tôm lột vỏ, lấy
chỉ). Tuy nhiên, giá tôm loại này của Việt Nam không thể cạnh tranh được với
tôm Ấn Độ và Ecuador trên nhiều thị trường.
Ngoài ra, tại các địa phương ven biển như: Bình Định, Phú n, Khánh Hịa,
Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, doanh nghiệp đã giảm tối đa công suất chế
biến, hoạt động cầm chừng. Cả người dân và doanh nghiệp đều gặp rất nhiều
9
khó khăn do một số cảng cá bị phong tỏa do có ca nhiễm COVID-19, tỷ lệ cơng
nhân và người lao động được tiêm vaccine rất thấp, chi phí cho hoạt động “3 tại
chỗ” quá cao. Nhiều doanh nghiệp đang cân nhắc tới phương án sẽ ngưng hoạt
động hoàn toàn nếu trước 15/9, tình hình dịch bệnh ở các địa phương chưa được
ngăn chặn và các biện pháp giãn cách xã hội còn tiếp tục kéo dài.
Về dịch vụ, hoạt động vận tải hành khách tiếp tục gặp khó khăn; vận tải
hàng hóa được duy trì khi các hoạt động sản xuất, kinh doanh nỗ lực thực hiện
để đạt “mục tiêu kép” của Chính phủ. Trong 6 tháng đầu năm 2021, khách quốc
tế đến nước ta đạt 88,2 nghìn lượt người, giảm 97,6% so với cùng kỳ năm trước
do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa
mở cửa.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, vận tải hành khách đạt 1.813,5 triệu lượt
khách vận chuyển, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020
giảm 26,8%) và luân chuyển 78,8 tỷ lượt khách.km, giảm 5,7% (cùng kỳ năm
trước giảm 31,7%).du lịch quốc tế.
Khách quốc tế đến nước ta trong 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 88,2
nghìn lượt người, giảm 97,6% so với cùng kỳ năm trước.
10
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Về đầu tư, tổng vốn đầu tư nước ngồi vào Việt Nam tính đến ngày
20/6/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp
vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 15,27 tỷ USD, giảm 2,6%
so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 804 dự án được cấp phép mới với số vốn
đăng ký đạt gần 9,55 tỷ USD, giảm 43,3% về số dự án và tăng 13,2% về số vốn
đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 460 lượt dự án đã cấp phép từ các năm
trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4,12 tỷ USD, tăng
10,6%; có 1.855 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng
giá trị góp vốn 1,60 tỷ USD, giảm 54,3%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ
phần của nhà đầu tư nước ngồi có 624 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn
điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 772,7 triệu USD và 1.231 lượt
nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều
lệ với giá trị 832,9 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng
đầu năm 2021 ước tính đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.
Về xuất khẩu, cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Năm nhập siêu
2,07 tỷ USD; 5 tháng nhập siêu 0,47 tỷ USD; tháng Sáu ước tính nhập siêu 1 tỷ
USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập
siêu 1,47 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,86 tỷ USD), trong đó khu vực
kinh tế trong nước nhập siêu 15,01 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngồi
(kể cả dầu thơ) xuất siêu 13,54 tỷ USD. Trong quý II/2021, kim ngạch xuất khẩu
dịch vụ đạt 891 triệu USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I giảm
80,6%);
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt
1,77 tỷ USD, giảm 68,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch
đạt 82 triệu USD (chiếm 4,6% tổng kim ngạch), giảm 97,4%; dịch vụ vận tải đạt
147 triệu USD (chiếm 8,3%), giảm 80,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6
tháng đầu năm nay ước tính đạt 9,47 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm
trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,8 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch),
tăng 32,7%; dịch vụ du lịch đạt 1,8 tỷ USD (chiếm 19%), giảm 25,9%. Nhập
siêu dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2021 là 7,7 tỷ USD.
11
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Về lạm phát, lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và
tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu
năm 2021 tăng 0,87% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.
Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước 6 tháng đầu năm ước tính là 2,30% (quý I là
2,19%; quý II là 2,40%), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,07%;
khu vực nông thôn là 1,86%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6
tháng ước tính là 2,52% (quý I là 2,42%; quý II là 2,62%), trong đó tỷ lệ thất
nghiệp khu vực thành thị là 3,28%; khu vực nông thôn là 2,07%. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 6 tháng ước tính là 7,45%, trong đó khu
vực thành thị là 9,97%; khu vực nông thôn là 6,22%. Tỷ lệ thiếu việc làm của
lao động trong độ tuổi quý I/2021 là 2,20%; quý II là 2,60%. Tính chung 6 tháng
đầu năm 2021, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,58%,
trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 2,64%; tỷ lệ thiếu việc làm khu
vực nông thôn là 2,54%.
12
Tỷ lệ thất nghiệp của người trong độ tuổi lao động 6 tháng đầu năm 20172021
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Không chỉ những người mất việc làm, mà ngay cả người lao động đang có
việc cũng chịu tác động không nhỏ của đại dịch COVID-19. Khảo sát của Ban
Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách
thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra rằng, gần 19% bị giảm
lương tới 50%.
Trong số 26.378 người tham gia khảo sát trả lời đang có việc, 42% người trả
lời cho biết hình thức làm việc của họ hồn tồn là online, gần 29% trả lời đang
làm việc với hình thức 50% thời gian online và 50% thời gian tại công sở. Gần
15% cho biết họ làm việc 100% thời gian tại nơi làm việc. Trong số người lao
động đang có việc làm, chỉ 7% làm việc theo mơ hình "3 tại chỗ".
Tham gia khảo sát về vấn đề tiền lương, 45% cho biết tiền lương của họ giữ
nguyên. Số lao động trả lời được tăng lương chiếm tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 0,4%.
Gần 19% cho biết họ có việc làm nhưng tiền lương giảm 50%. Bên cạnh đó,
13,6% lao động đang có việc trả lời tiền lương của họ bị giảm 20% và lý do này
tập trung vào nhóm lao động đang duy trì làm việc online. Số lao động có việc
làm nhưng lương giảm tới 80% hoặc nhận lương tùy thuộc vào sản phẩm làm ra
trong tháng chiếm tỷ lệ tương ứng lần lượt là 4,5% và 11,7%.
Để khắc phục tình trạng ngưng trệ của nền kinh tế, tránh xảy ra sự đứt gãy
chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và phân phối hàng hóa, đảm bảo cân đối nhu cầu
phát triển của cộng đồng xã hội, Chính phủ và các cơ quan ban, ngành đã và
đang triển khai nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp khơi
phục sản xuất kinh doanh, duy trì sự ổn định trước mắt và lâu dài.
13
Thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 23/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan, đơn vị đã ban hành các văn bản
hướng dẫn cụ thể, chi tiết về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng
lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc,
nhắc nhở các địa phương trong việc triển khai thực hiện; đồng thời, thiết lập
đường dây nóng tiếp nhận, giải đáp các thông tin liên quan.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 296/NQUBTVQH15 về việc bổ sung kinh phí mua bù gạo dự trữ quốc gia đã xuất cấp
để viện trợ, cứu trợ và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch COVID-19, sử
dụng 2.199 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2021 để mua
bù 172.889,47 tấn gạo dự trữ quốc gia đưa vào dự trữ quốc gia theo đề xuất của
Chính phủ.
Các ngân hàng áp dụng giải pháp tín dụng, giảm lãi suất cho vay để vừa đáp
ứng nhu cầu vốn và các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, vừa từng bước
tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa các bên có liên quan. tùy theo đối
tượng bị ảnh hưởng và tùy chính sách áp dụng của mỗi ngân hàng, lãi suất cho
vay sẽ có mức giảm phù hợp từ 0,8-1,2%/năm.
Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, trong 6 tháng đầu năm 2021,
tổng trị giá tiền và quà hỗ trợ cho các đối tượng là 6.906 tỷ đồng, trong đó, hỗ
trợ cho các đối tượng người có cơng, thân nhân người có công là 2.540,9 tỷ
đồng, hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo là 1.354,7 tỷ đồng; hỗ trợ cứu đói và
các đối tượng bảo trợ xã hội là 1.958,4 tỷ đồng; hỗ trợ các đối tượng khác là
1.052 tỷ đồng. Có hơn 30 triệu thẻ bảo hiểm xã hội/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn
phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.
Bộ Tài chính đã chủ động tham mưu với Chính phủ thực hiện gia hạn, miễn,
giảm thuế, phí và thu ngân sách cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân bị ảnh
hưởng bởi dịch COVID -19, ước tính tổng số tiền khoảng 129 nghìn tỷ đồng
năm 2020 và từ đầu năm 2021 đến nay là khoảng 118 nghìn tỷ đồng.
4. Một số khuyến nghị Chính phủ cần có chính sách mở cửa nền kinh tế
nước ta trong thời gian tới để cuối năm nay và sang năm sau sẽ dần dần
đưa nền kinh tế trở lại hoạt động bình thường
Cần tăng tốc tiêm vaccine để đạt miễn dịch cộng đồng tại các vùng dịch
nóng, tiến đến miễn dịch cộng đồng đối với nhân lực logistics, nhân lực sản
xuất, dân cư toàn xã hội, Nhà nước chấp nhận giao vaccine cho các đơn vị tư
nhân đáp ứng tiêu chuẩn để tăng tốc độ tiêm phịng; ứng dụng cơng nghệ thơng
tin để hỗ trợ quá trình tiêm vaccine nhanh hơn. Ưu tiên tiêm vaccine cho người
lao động hoạt động sản xuất, kinh doanh trước, để họ có thể đi làm bình thường,
14
vì chi phí xét nghiệm q tốn kém và mất nhiều thời gian. Đẩy nhanh việc tiêm
vaccine cho các công ty hạ tầng khu công nghiệp, các doanh nghiệp đang hoạt
động theo mơ hình "3 tại chỗ" để đảm bảo an toàn và tạo sự yên tâm cho người
lao động.
Hỗ trợ tiền mặt cho các cá nhân mất việc làm hoặc khơng có việc làm được
đóng bảo hiểm xã hội trong và sau dịch. Mức hỗ trợ bằng mức lương tối thiểu
của vùng/tháng, liên tục trong 3 tháng tính từ thời điểm cơng bố dừng giãn cách
xã hội. Gói hỗ trợ thay vì phát trực tiếp cho người lao động, có thể tạo gói trả
qua doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch để giữ chân người lao động. Hỗ trợ cho
mỗi lao động chính của gia đình từ 1-3 triệu đồng để trang trải chi phí sinh hoạt.
Rà sốt, đơn giản hóa thủ tục nhận tiền chính sách; có chính sách linh hoạt
và dễ tiếp cận hơn đối với các đối tượng dễ bị tổn thương; quản lý tốt việc phân
bổ quỹ hỗ trợ, đảm bảo công bằng, tránh bị tham nhũng, thất thốt.
Có chính sách mới về lao động, quy định rõ ràng các công việc được phép
làm online và quy định mức lương; có chính sách khuyến khích làm việc online,
khơng cắt giảm lương nếu làm online… Có ngân sách để hỗ trợ người lao động
thất nghiệp các chi phí xét nghiệm, đi lại, huấn luyện đào tạo… trước khi có
được việc làm thời vụ.
Có chính sách ưu đãi cho người đang vay nợ ngân hàng là cá nhân mua nhà
trả góp hoặc cá nhân vay vốn kinh doanh, vay vốn sinh viên trong giai đoạn giãn
cách và sau giãn cách 2-4 tháng.
Hỗ trợ giảm giá điện cũng như giá nước, viễn thông…
Triển khai hỗ trợ tư vấn tâm lý cho lao động đang thực hiện “ba tại chỗ” tại
các doanh nghiệp qua hệ thống công tác xã hội ở địa phương và trong hệ thống y
tế; đẩy mạnh hoạt động tư vấn, chăm sóc tại nhà cho người dân có nguy cơ hoặc
bị mắc COVID-19; triển khai rộng hơn, hiệu quả hơn mạng lưới bác sỹ gia đình.
Giảm, miễn thuế đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú, cho thuê căn hộ…
tham gia vào việc bố trí chỗ ăn ở cho người lao động, người bị lưu lại trên địa
bàn mà khơng có nơi ở ổn định (như lao động tự do, sinh viên…) thông qua
giảm tiền thuê nhà, căn hộ.
Cần tiếp tục cải cách thể chế, tạo dựng mơi trường kinh doanh bình đẳng,
cơng khai, minh bạch cho khu vực doanh nghiệp, tạo niềm tin cho cộng đồng
doanh nghiệp yên tâm sản xuất, hướng tới cạnh tranh lành mạnh để phát triển.
Tập trung tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng đóng góp
của khu vực nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP, chuyển dần lao động khu
vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; đồng thời,
15
nâng cao năng suất lao động, đặc biệt năng suất lao động của khu vực doanh
nghiệp.
Cần tận dụng cơ hội thu hút nguồn lực từ bên ngoài để nền kinh tế có thể
hịa nhập, khơng bị bỏ lại phía sau trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư.
Tiết kiệm chi thường xuyên để bổ sung nguồn lực quan trọng cho hoạt
động chi tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là những mục tiêu phòng
chống dịch COVID-19 và phục hồi nền kinh tế sau dịch.
5. Kết luận
Đại dịch đang ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế Việt Na, để ổn định và phát
triển đòi hỏi nền kinh tế phải sử dụng hiệu quả nội lực; đồng thời, cần tranh thủ
và tận dụng một cách khôn khéo, linh hoạt và hiệu quả ngoại lực. Từ đó, thúc
đẩy mạnh mẽ động lực của nền kinh tế nhằm thực hiện thành công các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.
Với sự hoạch định và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội phù hợp và khả thi; khả năng quản lý và sử dụng hiệu quả
các nguồn vốn của Chính Phủ, tôi tin rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ sớm được
khôi phục và phát triển đạt mục tiêu năm 2021.
Tài liệu tham khảo
[1] Nghị quyết 86/NQ-CP Chính phủ để cụ thể hóa và thực hiện Nghị
quyết 30/2021/QH15 của Quốc hội.
[2] Nghị quyết số 68/NQ-CP Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ
người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) gặp khó khăn do bị
ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (gói 26.000 tỷ đồng).
[3] Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp
bách phòng, chống dịch COVID-19.
[4] Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ quy định về
việc thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP Chính phủ.
[5] Website: />[6] Website: />
16