TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
BÁO CÁO HÓA DƯỢC 2
THUỐC TRỊ VIRUS
GVHD:Th.S Nguyễn Phú Quý
ĐH Dược 13B-N8
Thành Viên:
1. Phạm Huỳnh Đan Thùy
2. Trần Thị Tố Quyên
3. Lê Bá Vũ
4. Đặng Trường Duy
1.Đại cương:
Virus gồm có loại 1 hoặc 2 chuỗi ADN hoặc ARN được bọc trong một vỏ protein
gọi là capsid. Một số virus có cả vỏ lipoprotein, và giống như capsid, vỏ này có
thể chứa các protein kháng nguyên. Virus bắt buộc phải sống ký sinh trong tế bào
vật chủ, sự sao chép của chúng phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình tổng hợp của
tế bào vật chủ.
Loại ADN virus như poxvirus (gây bệnh đậu mùa), herpesvirus (gây thuỷ đậu,
herpes, zona), adenovirus (viêm kết mạc, viêm họng), hepa AND virus (viêm gan
B) và papillomavirus (hột cơm). Sau khi thâm nhập được vào nhân tế bào vật chủ,
ADN virus được sao mã sớm vào ARN m bởi ARNm polymerase của tế bào vật
chủ, ARNm được dịch mã theo cách thông thường của tế bào vật chủ để thành các
protein đặc hiệu của virus. Riêng virus đậu mùa, do có ARN polymerase riêng nên
có thể sao chép ngay trong bào tương của tế bào vật chủ.
Loại ARN virus gồm rubellavirus (gây bệnh sởi Đức [German measles], rubeon),
rhabdovirus (bệnh dại), picoARNvirus (bệnh bại liệt, viêm màng não, cảm lạnh),
arenavirus (viêm màng não, sốt Lassa), arbovirus (sốt vàng), orthomyxovirus
(cúm), paramyxovirus (sởi, quai bị).
Với ARN virus, việc sao chép trong tế bào vật chủ sẽ dựa vào hoặc là các enzym
trong virion (hạt virus) để tổng hợp ARNm cho nó, hoặc là ARN virus được dùng
như chính ARN m của nó. ARNm được dịch mã thành các protein virus, kể cả
ARN polymerase, enzym chi phối sự tổng hợp nhiều ARNm virus.
Một nhóm ARN virus trong loại này là retrovirus có chứa enzym re verse
transcriptase (enzym sao mã ngược), tạo ADN từ ARN virus. Sau đó, bản sao ADN
tích hợp vào genom (bộ gen) của vật chủ (lúc đó được coi như provirus) và được
sao mã thành cả ARN genom và ARN m để dịch mã thành các protein virus (HIV).
Trong nhiều bệnh nhiễm virus, đỉnh điểm của sự sao chép của virus là vào ngay
trước lúc triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Vì vậy, hiệu quả điều trị lâm sàng tối ưu
là phải bắt đầu điều trị sớm. Các thuốc kháng virus cần phải: ngăn cản sự xâm
nhập của virus vào tế bào và phải có hoạt tính với virus trong tế bào, nghĩa là phải
có tính đặc hiệu.
2
Dựa vào các bước trong quá trình sao chép, nhân đôi của virus mà nghiên cứu các
thuốc kháng virus.
Thuốc kháng virus sao chép ngược (Antiretroviral agents): thuốc chống HIV.
HIV (human immunodeficiency virus) là virus sao chép ngược. ARN tấn công vào
các tế bào lympho CD4, đại thực bào và tế bào thần kinh sợi nhánh (dendritic
cells). Nghiên cứu vòng đời của HIV trong tế bào chính là tìm mục tiêu tác động
của thuốc.
Về lý thuyết, có thể nghiên cứu các thuốc tác động vào các khâu sau:
− Ngăn cản virus gắn vào các receptor tế bào.
− Ngăn cản sự hòa màng và thốt vỏ của virus.
− Kìm hãm sự sao chép ngược từ ARN.
− Ngăn cản sự tích hợp của ADN virus vào ADN của tế bào vật chủ.
− Ngăn cản sự sao mã muộn hay sự tổng hợp protein của virus.
− Kìm hãm sự lắp ráp hay sự tổ hợp lại của virus và sự nẩy chồi.
Ở mỗi giai đoạn trên đều có những cơ chế đặc hiệu và những enzym đặc hiệu riêng
cho HIV, và như vậy có thể tìm ra các thuốc ức chế thích hợp cho từng giai đoạn.
Tuy nhiên, do nhiều khó khăn, các nghiên cứu hiện nay phần lớn tập trung vào các
loại thuốc ức chế enzym sao chép ngược (reverse transcriptase- RT), protease và
integrase.
RT là enzym có tác dụng chuyển mạch đơn ARN của HIV thành mạch kép ADN
(giai đoạn 3 trên sơ đồ) trước khi xâm nhập vào nhiễm sắc thể của tế bào vật chủ.
Thuốc ức chế RT có 2 loại:
Thuốc ức chế nucleosid reverse transcriptase (NRTI): tác dụng rất sớm ở giai đoạn
sao chép của HIV, ngăn cản nhiễm khuẩn cấp tính của tế bào, rất ít tác dụng trên tế
bào đã nhiễm HIV. Các thuốc này đều là “tiền thuốc”, có cấu trúc tương tự như một
thành phần cấu tạo của ADN nhưng phải được enzym ở bào tương của tế bào vật
3
chủ phosphoryl hóa mới trở nên có hoạt tính là nhóm thuốc quan trọng nhất trong
cơng thức phối hợp thuốc để điều trị HIV.
Thuốc ức chế non- nucleosid reverse transcriptase (NNRTI): Thuốc ức chế enzym
sao chép ngược không phải nucleosid là thuốc tổng hợp có khả năng gắn vào cạnh
vị trí tác động của RT, làm thay đổi hình dáng của vị trí này nên enzym bị mất hoạt
tính. Thuốc khơng cần qua giai đoạn phosphoryl hóa như NRTI và chỉ có tác động
trên HIV - 1. Tất cả đều chuyển hóa ở gan qua Cyt. P450, gây cảm ứng enzym nên
làm tăng chuyển hóa của chính nó (phải tăng liều khi dùng kéo dài) và một số
thuốc dùng cùng.
Integrase là enzym có tác dụng găm ADN của provirus vào nhiễm sắc thể của tế
bào vật chủ. Nếu ức chế được enzym này sẽ làm HIV không nhân lên được trong tế
bào ký sinh và sẽ bị tiêu diệt. Hiện cịn là bước nghiên cứu ở phịng thí nghiệm.
Các protease là các enzym tham gia trong quá trình tổng hợp nhiều protein cấu trúc
của lõi virus và các enzym chủ yếu, trong đó có cả RT và chính bản thân protease.
Ức chế protease thì HIV chỉ là các virion (hạt virus) khơng trưởng thành và khơng
gây bệnh được. Vì vậy, hướng nghiên cứu này rất hấp dẫn.
2. Các thuốc kháng virus:
Herpes simlpex virút (HSV) thường có 2 nhóm:
HSV1 thường gây bệnh ở da, niêm mạc phần trên của cơ thể như
mắt mũi miệng mơi. Nhóm HSV2 gây bệnh ở da niêm mạc đường
sinh dục. Cách phân chia theo lâm sàng này chỉ có tính tương đối
vì trong các bệnh về đường sinh dục người ta cũng có thấy sự có
mặt HSV1 và trong những bệnh ở ngoài đường sinh dục người ta
cũng thấy có HSV2. Muốn phân biệt rạch rịi hai nhóm này phải
dùng xét nghiệm dựa trên glycoprotein đặc chủng của từng nhóm.
Các thuốc kháng virus như acyclovir, famciclovir và valacyclovir
cho thấy hiệu quả tương đương trong điều trị sơ nhiễm HSV cũng
như làm giảm khả năng lây truyền của bệnh . Famciclovir và
4
valacyclovir có sinh khả dụng đường uống tốt hơn acyclovir. Thuốc
bơi tại chỗ có hiệu quả đối với các thương tổn ở vùng rìa niêm
mạc và khơng nên sử dụng . Độ an toàn và khả năng dung nạp
của cả 3 thuốc đều tốt.
ACYLOVIR
C8H11N5O3
P.t.l:
225,21 g/mol
Acyclovir (ACV) được Schaeffer và cộng sự tìm ra năm 1978)
Acyclovir (9- [2-hydroxymethyl] guanine) là một chất tương tự
nucleoside có tác dụng ức chế có chọn lọc sự nhân lên của vi rút
herpes simplex loại 1 và 2 (HSV-1, HSV-2).
Tên khoa học: 6-H-purin-6-on hay 2-amino-1,9-dihydro-9[(2hydroxyethoxy) methyl]-9[(2-hydroxyethoxy) methyl] guanin
Tên biệt dược: Zovirax; Acirax Cream; Acyclovir Denk 200
Cơ chế tác động:
Sau khi hấp thu nội bào, nó được chuyển đổi thành acyclovir
monophosphat bằng thymidine kinase được mã hóa bằng virus.
5
Dẫn xuất monophosphat sau đó được chuyển thành acyclovir
triphosphat bởi các enzym tế bào.
Acyclovir triphosphate ức chế cạnh tranh DNA polymerase của
virus bằng cách hoạt động như một chất tương tự với
deoxyguanosine triphosphate (dGTP). Việc kết hợp acyclovir
triphosphat vào DNA dẫn đến kết thúc chuỗi vì sự vắng mặt của
nhóm hydroxyl 3 'ngăn cản sự gắn thêm nucleoside. Acyclovir
triphosphat có ái lực với polymerase DNA của virus cao hơn nhiều
so với tương đồng của tế bào, mang lại tỷ lệ điều trị cao
6
Sự đề kháng của HSV với acyclovir có thể liên quan đến những
thay đổi trong DNA polymerase của virus hoặc thiếu thymidine
kinase, enzyme liên quan đến q trình phosphoryl hóa acyclovir
đặc hiệu với virus ban đầu. Các chủng này đề kháng chéo với
famciclovir, ganciclovir và valacyclovir. Các tác nhân như
foscarnet, cidofovir và trifluridine khơng u cầu kích hoạt bởi
thymidine kinase của virus và do đó có hoạt tính bảo tồn chống lại
các chủng kháng acyclovir phổ biến nhất
Điều chế
7
Điều chế Acylovir từ Guanin
Tính chất:
8
Bột kết tinh trắng hay gần như trắng, khó tan trong nước và ancol,
tan tự do trong DMSO, tan trong acid vơ cơ và hydroxyl kiềm
lỗng
Kiểm nghiệm:
Định tính:
Quang phổ hấp thụ hồng ngoại, so sánh với mẫu chuẩn.
Sắc ký lỏng hiệu năng cao trong thử giới hạn tạp chất.
Thử tinh khiết:
Giới hạn hàm lượng nước, tạp chất hữu cơ bay hơi, tạp chất thông
thường, giới hạn guanin
Định lượng:
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao
Dược động học:
Acyclovir có thể được dùng theo đường bôi, đường uống và đường
tiêm tĩnh mạch
Sinh khả dụng của acyclovir đường uống thấp (15–20%) và không
bị ảnh hưởng bởi thức ăn.Acyclovir được thải trừ chủ yếu qua quá
trình lọc ở cầu thận và bài tiết ở ống thận. Thời gian bán thải là
2,5–3 giờ ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường và 20 giờ ở
bệnh nhân vô niệu.Do thời gian bán hủy ngắn, nên dùng đường
uống cần nhiều liều acyclovir hàng ngày-và nên giảm liều ở bệnh
nhân suy thận.
Acyclovir dễ dàng khuếch tán vào hầu hết các mô và dịch cơ thể.
Nồng độ dịch não tủy là 20–50% giá trị huyết thanh.
Chỉ định:
9
Nhiễm virus herpes simplex da và niêm mạc, bao gồm herpes
sinh dục khởi phát và tái phát. Ngăn chặn việc tái nhiễm
herpes simplex trên người có miễn dịch bình thường.
Dự phòng herpes simplex ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
Bệnh zona (herpes zoster).
Dạng kem: Nhiễm virus herpes simplex da bao gồm herpes
môivà herpes sinh dục, khởi phát và tái phát.
Thuốc mỡ tra mắt: viêm giác mạc do herpes simplex.
Chống chỉ định:
Bệnh nhân được biết là có quá mẫn với acyclovir. Dạng kem:
Quá mẫn với propylenglycol.
Liều-dùng
Viên nén:
- Ðiều trị herpes simplex ở người lớn:
Để điều trị nhiễm herpes simplex, nên dùng 200mg Acyclovir 5
lần mỗi ngày cách khoảng 4 giờ để khỏi phải uống vào ban đêm.
Có thể điều trị trong vịng 5 ngày, nhưng có thể phải kéo dài hơn
cho
những
nhiễn
virus
khởi
phát
trầm
trọng.
Trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch trầm trọng (như sau
khi ghép tủy) hay những bệnh nhân bị giảm hấp thu ở ruột, liều
lượng có thể tăng gấp đơi thành 400mg hay có thể thay đổi
bằng cách xem xét dùng đường tĩnh mạch.
10
Nên bắt đầu trị liệu càng sớm càng tốt ngay khi nhiễm bệnh; cho
những giai đoạn tái phát, trị liệu nên áp dụng trong giai đoạn
tiền triệu hay ngay lúc bắt đầu xuất hiện sang thương.
Ngăn chặn herpes simplex ở người lớn: để ngăn chặn nhiễm
herpes simplex ở bệnh nhân có khả năng miễn dịch bình thường,
nên dùng 200mg Acyclovir 4 lần mỗi ngày, cách khoảng 6 giờ.
Nhiều bệnh nhân thấy tiện lợi khi dùng liều 400mg 2 lần mỗi
ngày
cách
khoảng
12
giờ.
Giảm liều xuống còn 200mg 3 lần mỗi ngày cách khoảng 8 giờ
hay thậm chí 2 lần mỗi ngày cách khoảng 12 giờ cũng có thể
cho
kết
quả
hữu
hiệu.
Một vài bệnh nhân có thể bị nhiễm đột phát với liều tổng cộng
hàng ngày là 800mg.
Ðiều trị nên dừng lại sau mỗi 6-12 tháng để quan sát những thay
đổi có thể xảy ra trong tiến trình tự nhiên của bệnh.
Phịng ngừa herpes simplex ở người lớn: để phòng ngừa herpes
simplex ở những bệnh nhân bị tổn hại về miễn dịch, nên dùng
200mg Acyclovir 4 lần mỗi ngày cách khoảng 6 giờ.
Ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng (như
sau khi ghép tủy) hay bị giảm hấp thu thuốc ở ruột, có thể gấp
đơi liều lên 400 mg hay có thể xem xét thay đổi bằng phương
pháp
tiêm
tĩnh
mạch.
Thời gian dùng thuốc phòng ngừa tùy thuộc vào thời kỳ có nguy
cơ dài hay ngắn.
Ðiều trị bệnh zona (herpes zoster) ở người lớn:
11
Để điều trị bệnh zona (herpes zoster), nên dùng 800mg
Acyclovir 5 lần mỗi ngày cách khoảng 4 giờ, khỏi phải uống vào
ban đêm. Nên điều trị trong vòng 7 ngày.
Ðối với những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nghiêm trọng (như
sau khi ghép tủy) hay bị giảm hấp thu ở ruột, nên xem xét
phương
pháp
dùng
tiêm
tĩnh
mạch.
Nên bắt đầu càng sớm càng tốt ngay sau khi nhiễm bệnh; điều
trị có kết quả càng tốt nếu bắt đầu ngay khi khởi phát nổi ban.
- Liều lượng dành cho trẻ em:
Đối với việc điều trị herpes simplex ở trường hợp bị suy giảm
miễn dịch, trẻ em trên 2 tuổi nên dùng với liều dùng cho người
lớn và trẻ dưới 2 tuổi nên dùng liều bằng một nửa liều cho người
lớn.
- Người già: ở người già, độ thanh thải toàn phần acyclovir của
cơ thể sút giảm song song với thanh thải créatinine. Nên duy trì
bổ sung nước cho bệnh nhân dùng Acyclovir với liều cao.
- Bệnh nhân suy thận.
Suy thận: trong việc kiểm soát nhiễm herpes simplex ở bệnh
nhân suy thận, liều khuyến cáo đường uống khơng đưa đến sự
tích tụ acyclovir trên mức được xác định là an toàn khi tiêm tĩnh
mạch.
Tuy nhiên, ở những người suy thận trầm trọng (độ thanh thải
créatinine dưới 10ml/phút) nên điều chỉnh liều thành 200mg 2 lần
mỗi ngày, cách khoảng 12 giờ.
Trong điều trị bệnh zona (herpes zoster), nên dùng 800mg 2 lần
mỗi ngày, cách khoảng 12 giờ đối với bệnh nhân suy thận trầm
12
trọng (thanh thải créatinine dưới 10ml/phút) và 800mg 3 lần mỗi
ngày, cách khoảng 8 giờ cho bệnh nhân suy thận trung bình
(thanh thải créatinine trong khoảng 10-25ml/phút).
Acyclovir kem:
Cho người lớn và trẻ em, nên bôi 5 lần mỗi ngày cách khoảng 4
giờ, khỏi dùng vào ban đêm. Kem Acyclovir nên bôi vào sang
thương hay nơi sang thương sắp xảy ra càng sớm càng tốt ngay
sau khi nhiễm.
Việc điều trị các giai đoạn tái phát đặc biệt quan trọng cần bắt
đầu ngay trong giai đoạn tiền triệu hay ngay khi sang thương
bắt
đầu
xuất
hiện.
Nên liên tục điều trị trong vòng 5 ngày. Nếu chưa lành, có thể
kéo dài trị liệu thêm đến 10 ngày.
Thuốc mỡ tra mắt Acyclovir:
Cho người lớn và trẻ em, tra vào túi cùng kết mạc một lượng
thuốc bóp ra khoảng 10mm, 5 lần mỗi ngày cách khoảng 4 giờ.
Nên tiếp tục điều trị ít nhất 3 ngày sau khi lành.
13
Tác dụng phụ:
14
Có thể xảy ra buồn nơn, tiêu chảy và nhức đầu. Truyền tĩnh
mạch có thể liên quan đến ngộ độc thận có thể hồi phục (ví dụ,
bệnh thận thể kết tinh hoặc viêm thận kẽ) hoặc tác dụng lên
thần kinh (ví dụ, run, mê sảng, co giật).
Liều cao của acyclovir gây tổn thương nhiễm sắc thể và teo
tinh hoàn ở chuột, nhưng không gây quái thai, giảm sản xuất
tinh, hoặc thay đổi di truyền tế bào ở các tế bào lympho máu
ngoại vi
Dạng bào chế:
Viên nén
Kem
Thuốc mỡ tra mắt:
Kem Acyclovir chứa một chất kiềm được bào chế đặc biệt và
không nên hịa lỗng.
Bảo quản:
Viên nén: Bảo quản dưới 250C và giữ khô.
Kem: Bảo quản dưới 250C.
Thuốc mỡ tra mắt: Bảo quản dưới 25 0C. Ống thuốc mỡ tra mắt
đã bị mở quá 1 tháng nên bỏ đi.
Kem Acyclovir chứa một chất kiềm được bào chế đặc biệt và
khơng nên hịa loãng.
15
INDOXURIDIN
C9H11IN2O5
M.W: 354,1
Idoxuridine là một chất tương tự của deoxyuridine được i-ốt hóa,
có hoạt tính kháng virus chống lại virus herpes simplex (HSV). Khi
dùng thuốc nhỏ mắt, idoxuridine (IUdR) được chuyển đổi thành
các dạng mono-, di- và triphosphat, được kết hợp vào DNA và phá
vỡ sự nhân lên của virus. Khi uống tiền chất idoxuridine
ropidoxuridine được chuyển hóa ở gan bởi aldehyde oxidase thành
idoxuridine, tác nhân này kết hợp vào DNA và làm tế bào nhạy
cảm với bức xạ ion hóa bằng cách tăng đứt gãy sợi DNA
Tên khoa học: 5-Iodo-1-(2-deoxy-b-D-erytho-pentofuranosyl)
pyrimidin-2,4 (1H, 3H)- dion
Tên biệt dược: Herplex,Dendrid
Cơ chế tác động:
16
Idoxuridine hoạt động như một chất chống virus bằng cách ức
chế sự nhân lên của virus bằng cách tự thay thế cho thymidine
trong DNA của virus . Điều này lại ức chế thymidylate
phosphorylase và các polymerase DNA của virus hoạt động bình
thường. Tác dụng của Idoxuridine dẫn đến virus khơng có khả
năng sinh sản hoặc lây nhiễm / phá hủy mô.
Điều chế:
Hoặc bằng phản ứng:
17
Tính chất:
Bột tinh thể trắng hay gần như trắng, khó tan trong nước và
ancol, tan trong hydroxyl kiềm loãng, độ chảy 180 0 C kèm theo
phân huỷ.
Kiểm nghiệm:
Định tính
Quang phở hấp thu hồng ngoại, so sánh với mẫu chuẩn.
Sắc ký lỏng hiệu năng cao trong thử giới hạn tạp chất.
Nung nóng trong ống nghiêm sẻ xuất hiên màu hơi tím.
Cho 2mg chất thử vào ống nghiệm, thêm 1ml nước cất, thêm tiếp
2 ml dung dịch diphenylamin, đun trên hơi nước, màu xanh dương
sáng bền sẽ xuất hiện.
Thử tinh khiết
Độ trong và àu sắc của dung dịch, pH, năng suất quay cực(+28+320 ), iod, tạp chất liên quan, mất khối lương do sấy khô, tro
sulfat.
Định lượng
18
Phương pháp môi trường khan trong dung môi dimethylformamid
với tertrabutyl-amonium.
Dược động học:
Dùng dưới dạng thuốc nhỏ mắt, không hấp thu toàn thân
Chỉ định
Dùng tại chỗ để điều trị cho những bênh5 nhân viêm giác mạc
do virus Herpes simplex.
Dung dịch Indoxuridin trong dimethyl sulfoxid thường được
dùng trong điều trị herpes sinh dục, herpes môi và bệnh zona
Chống chỉ định
Những người quá mẫn cảm với hoạt chất Idoxuridine hoặc bất
cứ thành phần nào của thuốc
Phụ nữ trong thời kỳ mang thai
Không sử dụng Idoxuridine cùng với những loại thuốc nhỏ mắt
có thành phần là acid boric.
Liều dùng:
Liều dùng thông thường cho người lớn mắc bệnh viêm giác mạc
do Herpes simplex
Thuốc nhỏ mắt
Người lớn: dung dịch 0,1%: Nhỏ 1 giọt vào mắt bị bệnh mỗi
giờ.Giảm lượng dùng lại mỗi 2 giờ hoặc nhỏ 4 lần mỗi ngày.
Tiếp tục điều trị trong ít nhất 7 ngày.
19
Thuốc thoa ngồi da
Liều dùng thơng thường cho người lớn mắc bệnh nhiễm virút
herpes simplex và herpes zoster ở da
Người lớn: hỗn hợp 5%: bôi lên vùng tổn thương 4 lần mỗi ngày
trong 4 ngày.
Tương tác thuốc
Acid Boric
Tác dụng phụ
Thuốc thường khơng có các tác dụng phụ nghiêm trọng.
Tác dụng phụ thơng thường có thể xảy ra:
Rát, đau nhức, ngứa, mẩn đỏ, mờ mắt, ngứa mắt, sưng mí mắt
hoặc nhạy cảm với ánh sáng.
Dạng bào chế
Dung dịch, thuốc nhỏ mắt: 1 mg/mL.
Dung dịch, thuốc thoa ngoài da: 0.1%.
Bảo quản
Nên bảo quản ở nhiệt độ phòng, tránh ẩm và tránh ánh sáng.
Không bảo quản trong phòng tắm hoặc trong ngăn đá. .
Giữ thuốc tránh xa tầm tay trẻ em và thú nuôi.
Không nên vứt thuốc vào toilet hoặc đường ống dẫn nước .
20
TRIFLURIDIN
C10H11F3N2O5
M.W 296,2 g/mol
Trifluridine, lần đầu tiên được tổng hợp vào năm 1964 bởi
Heidelberger.
Trifluridin là một nucleosid pyrimidin có cấu trúc tương tự
thymidin.
Trifluridine (còn được gọi là trifluorothymidine hoặc TFT) là một
loại thuốc kháng virus chống herpesvirus, được sử dụng chủ yếu
trên mắt.Trifluridine được chấp thuận sử dụng trong y tế vào năm
1980. Nó cũng là một thành phần của thuốc chống ung thư
trifluridine / tipiracil, được dùng bằng đường uống.
Tên khoa học: 5-trifluoromethyl- 2’-deoxyuridin
Tên khác: 1-[4-Hydroxy-5-(hydroxymethyl)oxolan-2-yl]-5(trifluoromethyl)-(1H,3H)-pyrimidine-2,4-dione
Cơ chế tác động
21
Nó là một chất tương tự nucleoside pyrimidine được fluor hóa có
tác dụng ức chế tổng hợp DNA của virus ở HSV-1, HSV-2, một
dạng biến đổi của deoxyuridine, đủ tương tự để được kết hợp vào
quá trình sao chép DNA của virus, nhưng nhóm CF 3 được thêm
vào thành phần uracil ngăn chặn sự bắt cặp base, do đó cản trở
quá trình sao chép DNA của virus.
Điều chế:
22
Idoxuridin và trifluridin
Tính chất
Bơt tinh thể màu trắng. Tan tự do trong methanol và acetone; hòa
tan trong nước, ethanol, 0,01 M axit clohydric và 0,01 Natri
hydroxit ; ít tan trong rượu isopropyl và acetonitril; ít tan
trong dietyl ete; và hịa tan rất ít trong isopropyl ether.
Dược động học
23
Dược động học của trifluridine đường uống chỉ được đánh giá khi
kết hợp với tipiracil, điều này ảnh hưởng đáng kể đến sự chuyển
đổi sinh học của thuốc . Ít nhất 57% trifluridine được hấp thu từ
ruột và nồng độ cao nhất trong huyết tương đạt được sau hai giờ .
Chất này khơng có xu hướng tích tụ trong cơ thể. Liên kết với
protein huyết tương trên 96%. Trifluridine được chuyển hóa bởi
enzyme thymidine phosphorylase thành 5-trifluoromethyl-2,4 (1H,
3H) -pyrimidinedione (FTY), và cũng bằng cách glucuronid hóa.
Nửa đời thải trừ là 1,4 giờ vào ngày đầu tiên và tăng lên 2,1 giờ
vào ngày thứ mười hai. Nó được thải trừ chủ yếu qua thận.
Tipiracil làm cho Cmax (nồng độ cao nhất trong huyết tương) của
trifluridine tăng gấp 22 lần và diện tích của nó dưới đường cong
gấp 37 lần, bằng cách ức chế thymidine phosphorylase.
Chỉ định
Dùng tại chỗ điều trị các tổn thương mắt do virus Herpes
simplex:
Viêm giác mạc nông, viêm loét giác mạc hình cành cây, viêm
giác mạc hình bản đồ.
Điều trị nhiễm Vaccinia virus ở mắt do biến chứng chủng đậu
mùa hoặc trong phòng nghiên cứu.
Dùng đơn thuần hoặc phối hợp với corticoid tại chỗ điều trị
viêm giác mạc hình đĩa và viêm giác mạc - viêm mống mắt,
thể mi.
24
Chống chỉ định
Mẫn cảm với trifluridin hoặc với bất kỳ một thành phần nào của
thuốc
Có tiền sử mắc phải một số vấn đề về mắt như bệnh tăng nhãn
áp
Trẻ em dưới 6 tuổi
Liều dùng
-Liều dùng cho người lớn Bạn nhỏ 1 giọt/1 lần/2 giờ vào mắt trong
khi đang tỉnh táo. Sau khi lành, bạn có thể giảm liều trong bảy
ngày và 1 giọt/1 lần/4 giờ (ít nhất là 5 liều một ngày).
-Liều dùng thông thường cho trẻ em Trẻ em từ 6 tuổi trở lên dùng
tương tự liều của người lớn. Tuy nhiên, liều dùng cho trẻ em dưới 6
tuổi vẫn chưa được nghiên cứu và xác định.
Tương tác thuốc
Thức ăn, rượu và thuốc lá có thể tương tác với thuốc
Tác dụng phụ
Dị ứng
Sưng nghiêm trọng xung quanh mắt
Tầm nhìn hẹp
Đau mắt nhẹ, rát, châm chích, ngứa hoặc đỏ
Mờ mắt
Cảm giác áp lực bên trong mắt
Dạng bào chế
25