GIÁM ĐỊNH PHÁP Y
Câu 1: hãy nêu các dấu hiệu sớm sau chết trong pháp y hình sự:
1. Nguội lạnh từ thi: khi chết toàn bộ các cơ quan tổ chức của cơ thể ngừng
hoạt động, cơ thể ko còn tạo ra năng lượng nữa, thân nhiệt qua trao đổi thân
nhiệt với môi trường xung quanh sẽ
giảm dần và quá trình nguội lạnh sẽ giảm dần và quả trình nguội lạnh tử thi tiến
triển.
2. Mất nước: khi chết, nước ở từ thị mất dần do bốc hơi ở bề mặt tử thi. Đo mất
nước nên giác mạc trở nên mờ đục, nhãn cầu xẹp, môi và da nhăn nheo.
3. Sự tan hóa phủ tạng: Acid lactic sản sinh ra trong q trình dị hóa, glucid ứ
đọng lại trong q trình tái tổng hợp glucogen bị đình chi. Dịch nghiền có tổ
chức PH<7.
4. Sự cứng tử thi:
- Hiện tượng: xuất hiện sau khi chết khoảng 4h, bắt đầu xuất hiện ở gáy. Sau đó
theo thử tự hàm dưới, vai, chi trên, ngực, bụng, chi dưới. tử thi cứng hoàn toàn
khoảng 6 - 8h.
- Tốc độ cứng tử thi phụ thuộc vào thời tiết: tử thi giữ nguyên trong tình trạng
cứng khoảng 36h trong mùa hè và 48 đến 72h trong mùa đơng, sau đó tử thi
mềm trở lại, quy trình mềm hoàn toàn kéo dài khoảng 8h.
- Cơ chế: sợi cơ vân đc cấu tạo bởi 2 protein là myosin và actin. Hai protein này
nếu ko kết hợp với nhau thì ko có khả năng đàn hồi. 2 protein này kết hợp thành
actomysin dưới tác dụng của ATP với sự có mặt của chất điện giải chủ yếu là sợi
cơ mềm, giữ nước và đàn hồi đc.
5. Vết hoen tử thi: sau khi chết máu ứ lại trong tĩnh mạch, sau đó thốt qua
thành mạch tập chung tại các vùng thấp của cơ thể so với tư thế của tử thi đối
với mặt bằng tạo thành các mảng có màu sắc tố khác với màu da ở nơi khác, các
mảng này gọi là vết hoen tử thi. Sau khi chết khoảng 20p vết hoen tử thi bắt đầu
xuất hiện. tại các vùng thấp nơi bề mặt da tiếp xúc bề mặt cứng ko xuất hiện vết
hoen tử thi. Chết ngạt hoen xuất hiện sớm hơn. Chết trong nước hoen từ thi có
màu hồng nhạt....
Câu 2: hãy nêu các dấu hiệu muộn sau chết trong pháp y hình sự.
Xuất hiện sau khi chết 48h
* Biến đổi lý hóa:
- tan huyết: hymoglobile từ hồng cầu phân hủy, qua thành mạch ngấm vào các
tổ chức đệm và kết hợp với h2s thành sulfmethemogobin màu lục.
- tan chất dinh thượng bì trung bình: thượng bi tách khỏi trung bì hình thành các
nốt phỏng da chứa thanh dịch đỏ tím hoặc xanh đen.
- thay đổi PH: trong gđ sau chết, acid lactic ứ đọng trong q trình dị hóa yếm
ko khí tái tạo glucogen làm cho tổ chức toan hóa, dần dần tái tạo các protein
phân hủy sản sinh NH3, trung hịa và kiềm hóa tổ chức.
- tự phân hủy tổ chức: diễn ra trong q trình yếm khi, vơ trùng dưới tác động
của các men làm phân hủy đạm và carbonhydrate.
* Sự hư thối: quá trình hư thối diễn ra dưới ảnh hưởng của vi trùng phân hủy.
- protid: sẽ phân hủy thành peptit và amin acid.
- các biogen amin demin: hóa thành các hơi nh3, co2, h2s..
- carbon hydrate: các chất glucid bị phân hủy thành acid lactid, co2 và h2o.
- lipit: các chất béo bị phân hủy thành glycerin và acid béo tự do.
- Sự phân hủy làm toàn thân trương to, mặt biến đạng, dần lớp biểu bì bong ra,
tóc bong khỏi da đầu... q trình hư thối tiến triển nhanh trong điều kiện nóng, ít
thơng gió, ngấm nước.
câu 3: hãy cho biết phương pháp khám bộ phận sinh dục của nạn nhân:
Nạn nhân nằm ở tư thế sản khoa Tay trái vạch hai mép âm hộ, ngón trỏ phải đưa
vào hậu mơn nâng đây ra trước, màng trinh sẽ bộc lộ hồn tồn (mơ tả kích
thước, tổn thương, hình thái). Xem kĩ có dịch nhảy, tỉnh trùng. Có khi giao hợp
mà màng trình ko rách, găp ở các trường hợp màng trinh quá rộng, chun giãn
tốt.
câu 4: hãy phân biệt thương tích có trước hoặc sau khi chết: cần nắm vững
các nguyên tắc sau
a) Rửa vết thương: nếu: rửa ko sạch do máu bầm vào tổ chức dưới cơ -> tổn
thương khi còn sống rửa sạch ngay là vết thương sau khi chết.
b) Bờ của vết thương: nếu: bờ vết thương há rộng là vết thương trước khi chết.
bờ vết thương khép kín là vết thương sau khi chết, bởi các sợi cơ đã mất tính
đàn hồi nên vết thương vẫn khép kín.
c) Dùng phương pháp xem vi thể: nhuộm các sợi cơ của tổ chức dưới da của
vết thương bằng orceine. Nếu thương tích khi cịn sống thì thấy các sợ cơ co lại,
nếu dãn ra là hiện tượng vết thương sau chết.
d) Ghi chú: vết hoen rỉ tử thi và vết bầm máu pb nhờ vào: vết hoen rỉ tử thi tập
chung ở phần thấp của cơ thể. Rạch phần hoen rỉ tử thi và bầm máu rủa ngay
bằng nước: nếu cịn tím là bầm máu, nếu hết tím là hoen tử thi.
Câu 5: trình bày khái niệm treo cổ, và chỉ ra cơ chế chết treo cổ:
a) Khái niệm: treo cổ đc gọi là thắt cổ để chỉ hành động làm nghẹt thở = một
vòng dây, vòn tay xiết chặt vào cổ. về phương diện pháp y: ta cần định nghĩa rõ
ràng treo cổ và chẹt cổ vì những hành động đó khác nhau về ng nhân và các dấu
vết để lại. treo cổ là một bạo động cơ thể mắc vào một cái dây buộc vào 1 điểm
cố định, rồi bị buông thả, mà trọng lượng của nó bằng cái dây treo với một sức
mạnh đủ để làm cho chết.
b) Cơ chế chết treo cổ:
+ nghẹt đường thở, do vòng dây xiết chặt làm tắc nghẹt tuần hồn hơ hấp, tại
phía trên của sụn giáp ngăn chặn hồn tồn sự thơng khí phối, các phản xạ sinh
tồn làm gốc lưỡi liên tục chuyển động theo chiều dọc đập vào thành sau họng và
sụn thanh nhiệt nhằm mở thông đường thở.
+ phản xạ ức chế: dưới áp lực của dây thắt, xoay tĩnh mạch cảnh or thần kinh
phế vị bị chèn ép, hệ giao cảm tại vùng cổ hình thành các phản xạ ức chế làm
ngừng tim và ngững thở. + chèn ép động mạch: dưới áp lực của dây thắt, tĩnh
mạch cảnh gây thiếu máu, ứ máu, phù não. Do máu ko lên não và thiếu O2 nên
nạn nhân hôn mê rất nhanh.
Câu 6: hãy nêu sự khác nhau giữa tổn thương do vật tày và tổn thương do
vật sắc, nhọn gây ra.
Câu 7: Phân biệt vết tự gây án và án mạng.
Đây là vấn đề rất khó khăn, địi hỏi phải kết hợp nhiều yếu tố mới có thể phân
biệt được và có thể dựa vào những yếu tố sau:
- Những dấu hiệu ở hiện trường.
- Xem xét yếu tố thuận tay của nạn nhân.
- Những vết thương đó mà diện tay nạn nhân có với tới không.
- Những điểm bất hợp lý trên tử thi.
Nếu vết thương bất hợp lí: Nơi xuất hiện vết thương không phù hợp với tay
thuận của nạn nhân, vết thương gây ra bởi hung khi nhưng không phát hiện
hung khí, vết thương gây ra bởi lực tác động mà nạn nhân không thể gây ra
nhưng không phát hiện công cụ hỗ trợ, cách thức hỗ trợ... Hiện trường vụ án
cho thấy khơng chỉ có một mình nạn nhân ở đó khi nạn nhân chết. Nạn nhân
khơng có những dấu hiệu phải có khi sử dụng hung khí...
Tiến hành phân biệt thương tích có trước khi chết hay sau khi chết. Nếu vết
thương gây ra cái chết xuất hiện hiện trước các vết thương do nạn nhân có thể
gây ra thì có nghĩa là vết thương nạn nhân tự gây ra là ngụy tạo.
Nguyên tắc chung: Tất cả các thương tích, dù nặng hay nhẹ, xảy ra ở một cơ
thể sống đều có bầm máu và có sự co kéo tổ chức.
2.1. Phải rửa sạch vết thương: Nếu bầm máu, tổ chức rửa khơng mất màu, đó
là tổn thương trước chết và ngược lại là tổn thương sau chết. Mảnh tổ chức học
của tổn thương bầm máu sẽ có hồng cầu trong tổ chức đệm. Đây là dấu hiệu
quan trọng nhất để phân biệt vết thương xảy ra khi còn sống hay khi đã chết.
2.2. Quan sát kỹ miệng vết thương, thường rõ nhất là vết thương do vật
sắc. Vết thương do vật sắc ở người sống bao giờ cũng hở miệng do các sợi chun
dưới da sau khi bị đứt co lại tạo nên hình ảnh này, cịn đối với những miệng vết
thương gây ra sau khi chết, bao giờ cũng gần như khép kín, bởi các sợi chun đã
mất tính đàn hồi. Tổ chức học: Nhuộm các sợi chun của tổ chức dưới da ở vết
thương bằng orcéine, nếu các sợi chun co lại thì thương tích xảy ra trước chết
nếu sợi chun giãn thẳng là thương tích xảy ra sau khi chết.
Câu 8:Hãy nêu các dấu hiệu sau khi chết trên tử thi để ước lượng thời gian
chết.
Ước lượng thời gian chết có tầm quan trọng giúp cho cơ quan pháp luật dễ dàng
và nhanh chóng truy tìm thủ phạm trong các vụ án mạng hoặc tìm tung tích nạn
nhân trong các trường hợp khơng rõ căn cước. Sự ước lượng này chỉ có tính
chất tương đối và căn cứ vào dấu hiệu trên tử thi cũng như dấu hiệu ở hiện
trường nơi mà tử thi được phát hiện.
1.Sự nguội lạnh tử thi:
Nách, bụng, tầng sinh môn là những vùng nguội lạnh sau cùng. Xác còn ấm
chưa cứng hoặc cứng chưa hoàn toàn chết dưới 12 giờ. Sờ bụng còn ấm khoảng
chết chưa quá 24 giờ. Tử 16 thi lạnh cứng, hoen tử thi thành mảng tím, khoảng
chết từ 24-36 giờ. Hoặc có thể vận dụng cơng thức tính thời gian của cơ quan an
ninh Scothland.
2. Hoen tử thi: Trước 2 giờ chưa xuất hiện hoen. Từ 2 đến 10 giờ hoen không
cố định (bán cố định). Trên 10 giờ sau chết hoen cố định.
3. Cứng tử thi: Nạn nhân chết dưới 1 giờ chưa cứng xác. Từ 1 đến 2 giờ, tử thi
cứng ở phần
đầu. Từ 12 đến 24 giờ, cứng hoàn toàn. Mất cứng xảy ra khoảng 36 giờ là dấu
hiệu của sự hư
thối.
4. Hư thối tử thi: Vết lục ở hố chậu phải là biểu hiện của sự hư thối, nó xuất
hiện sau 24 giờ đối với mùa hè và 36-48 giờ đối với mùa đơng. Vết lục lan ra
tồn bụng khoảng 48-72 giờ. Toàn thân trương căng, da bong và thối đầy mång
lục và mọng nước nạn nhân chết khoảng 1 tuần đối với mùa hè và 1-2 tuần đối
với mùa đông.
5. Chất chứa trong dạ dày: Chất chứa trong dạ dày phản ánh tình trạng tiêu
hóa của cơ thể khi còn sống, người ta dựa vào loại thức ăn và độ nhuyễn của
thức ăn để xác định thời gian từ bữa ăn cuối cùng đến khi chết:
- Nước lưu lại trong dạ dày khoảng 1 giờ. - Cháo lưu lại trong dạ dày khoảng 1
đến 3 giờ.
Cơm hoặc các loại thức ăn đặc lưu lại trong dạ dày 4 đến 6 giờ.
- Cơm chưa nhuyễn chứng tỏ ở dạ dày dưới 3 giờ.
- Cơm nhuyễn hoàn toàn biểu thị nó ở dạ dày đã hơn 3 giờ.
6. Các phản xạ siêu sinh
6.1. Phản xạ con chuột Phản xạ nổi con chuột còn tồn tại 6-8 giờ sau chết. Dùng
sống dao chặt vào cơ nhị đầu cánh tay hoặc cơ tử đầu đùi sẽ xuất hiện một khối
u chắc dọc theo đường chặt. Đối với những người mập cần bộc lộ cơ sau đó mới
tiến hành.
6.2. Phản xạ tiết mồ hôi Tiêm dưới da acetylcholin hoặc pilocarpin, sau 40 đến
60 phút sẽ thấy bề mặt da ở vùng tiêm xuất hiện mồ hơi. Phản xạ này cịn tồn tại
6 giờ sau khi chết. 6.3. Phản xạ co, giãn đồng tử - Có hình khe: Với vật nhọn 1
lưỡi thì có một đầu tù và một đầu nhọn, đầu tù nhieu hay ít là do sống dao dày
hay mỏng. Với vật nhọn 2 lưỡi thì hai đầu vết thương đều nhọn.
Mép vết thương bằng phẳng, không bầm máu hoặc rất ít bầm máu. Rãnh xun
có thể có cả lỗ ra. Thơng thường, rãnh xun có chiều dài ngắn hơn chiều dài của vật gây thương tích, nhưng cũng có trường hợp chiều dài của rãnh xuyên
dài hơn vật gây thương tích, gặp khi hung thủ đâm mạnh và dao có chắn, trường
hợp này thường có ấn của chấn dao.
Miệng lỗ vào chính có thể có vết rách phụ do tác động rút dao gây nên.
- Chiều dài của miệng lỗ vào phụ thuộc vào góc đâm của hung khi so với bề mặt
da. Nếu đâm thẳng góc, kích thước của vết đâm bằng kích thước của hung khí.
Nếu đâm chéo góc thì chiều dài của miệng vết thương lớn hơn chiều rộng của
bản dao.
Câu 9: Nếu những đấu hiệu chết ngạt ở tử thi.
Tổn thương tổ chức, tế bào trong chết ngạt khơng có hình ảnh đặc thù mà chi có
những dấu hiệu chung cho mọi tác nhân gây ngạt.
1. Dấu hiệu bên ngoài: Xung huyết giác mạc, da mặt, cổ, môi. Hoen từ thi xuất
hiện sớm lan rộng sau 30 phút, sự cứng xác nhanh và ngắn, sự hư thối xảy ra
sớm.
2. Dấu hiệu bên trong
- Các phủ tạng có các chấm chảy máu rải rác ở thanh mạc, thượng tâm mạc,
trong não, đôi khi cả tuyến thượng thận.
- Phổi phồng lớn màu tím thẫm bị ứ máu, ở mặt ngồi có những đám khí và
chấm xuất huyết (Tardieu) có khi tạo thành mảng, có bọt khí lẫn máu trong khí
quản, phế quản.
Các phủ tạng xung huyết nhưng màu sắc còn phụ thuộc vào nguyên nhân gây
ngạt. Nếu ngạt do thiếu oxygen và thừa carbonic thì có màu đỏ sẫm.
- Nếu ngạt do tế bào không tiếp nhận được oxygen nhưng oxygen trong máu
vẫn đầy đủ thì màu phủ tạng đỏ cánh sen gặp trong các trường hợp ngộ độc
chlorate, oxide carbon, acid xyanhydric..
- Bên cạnh những dấu hiệu chung cần tìm các tổn thương đặc thù của từng loại
nguyên nhân gây ngạt: Chết treo, bóp cổ, chết trong chất lỏng...
Câu 10: Phân biệt giai đoạn chết lâm sàng và giai đoạn chết sinh vật
*Chết lâm sàng:
Hoạt động của tim và phổi ngừng hẳn, lúc nầy thần kinh trung ương hồn tồn
bị ức chế do khơng cịn q trình oxy hóa vì rối loạn enzyme hơ hấp. Thời gian
chết lâm sàng tùy thuộc:
- Tuổi: Tuổi trẻ kéo dài hơn tuổi già do cơ thể trẻ có nhiều dự trữ và khả năng
chịu đựng cao hơn.
- Nhiệt độ bên ngoài: Nhiệt độ càng thấp, thời gian này cảng dài.
- Tính chất quả trình tử vong: Chết đột ngột có thời gian chết lâm sàng dài
hơn khi chết kéo dài.
- Thời gian hấp hối: Thời gian hấp hối ngắn thì thời gian chết lâm sàng dài vì
trong khi hấp hối, não phung phí nhiều năng lượng.
- Thời gian chết lâm sàng trong điều kiện bình thường kéo dài khoảng 5-6 phút,
bắt đầu từ lúc tim phổi ngừng hoạt động cho đến khi não có những tổn thương
khơng hồi phục
*Chết sinh vật:
Là giai đoạn cuối cùng của quá trình tử vong khi mọi khả năng hồi phục khơng
cịn nữa. Tổn thương chủ yếu vẫn là rối loạn hoạt động thần kinh trung ương.
Trong chết sinh vật, không phải mọi cơ quan trong cơ thể cùng chết một lúc mà
trước tiên là thần kinh cao cấp, sau đến các chức phận quan trọng như tuần
hồn, hơ hấp,...
Vậy, phương pháp cấp cứu-hồi sinh muốn có kết quả phải can thiệp vào giai
đoạn hấp hối hoặc giai đoạn chết lâm sàng. Trường họp chết đột ngột diễn ra
trên một cơ thể khoẻ mạnh, có thể cấp cứu hồi sinh được cả trong giai đoạn chết
lâm sàng. Nhìn chung thời gian an tồn của não trung bình là 6 phút, trường hợp
đặc biệt (mất máu cấp, lạnh) có thể kéo dài hơn. Nếu người chết lâm sàng tinh
lại sau 6 phút thì có thể có di chứng não nhẹ hoặc nặng, tạm thời hay vĩnh viễn
tuỳ trường hợp cụ thể và bệnh lý kèm theo.
Câu 11: Phân loại các vết thương trong pháp y thương tích
Vết thương là sự cắt đứt hay dập rách da và tổ chức dưới da hoặc các tổ chức
khác của cơ thể. Phân loại vết thương có thể chia làm hai loại: phân loại vết
thương dựa trên tình trạng nguyên vẹn của da và phân loại vết thương theo mức
độ nhiễm trùng. Có nhiều nguyên nhân gây ra vết thương, trong đó nguyên nhân
chính là do phẫu thuật, bị cắt, đâm, do hóa chất, nhiệt, ma sát và cũng có thể là
do một số bệnh gây nên. Khi bị thương nếu không điều trị đúng đắn sẽ làm cho
vết thương lâu lành, thậm chí để lại biến chứng xấu. Vì vậy, kiến thức về phân
loại vết thương để sơ cứu và chăm sóc vết thương đúng cách là rất cần thiết với
tất cả mọi người.
Phân loại vết thương dựa trên tình trạng nguyên vẹn của da:
- Vết thương hở: Vết thương hở cũng có thể phân loại dựa trên đối tượng gây
nên vết thương. Các loại vết thương hở là: Vết mổ, rạch gây ra bởi vật sắc nhọn
như dao, thủy tinh vỡ. Vết bỏng (bỏng do nước sôi, acid, lửa...). Các vết cắt, vết
thương có thể xuất hiện thường xun hoặc khơng thường xuyên, tuy nhiên
trong cuộc sống không thể tránh khỏi bị những vết thương thông thường ấy. Các
vết trầy da, vết thương trên bề mặt trong đó lớp da bề mặt bị mất đi, vết trầy xảy
ra do có sự cọ xát của da với bề mặt gồ ghề. Chấn thương khi mất một phần mô
cơ thể, vết thương này có thể xảy ra do tai nạn, phẫu thuật cắt một phần cơ thể.
Ngồi ra cịn có vết thương do bị đâm, đạn bắn...
- Vết thương kín: Vết máu tụ hay còn goi là tụ máu dưới da, vết thương này có
nguyên nhân da bị va đập hoặc có nguyên nhân bệnh lý như sốt xuất huyết, bầm
máu... Thông thường các vết thương dưới da (vết thương kín) có thể tự khỏi mà
khơng cần có biện pháp điều trị. Đối với các vết thương hở nên có phương pháp
điều trị đúng đắn để vết thương nhanh lành và không gây biến chứng vết
thương.
Phân loại vết thương dựa trên mức độ nhiễm trùng vết thương:
- Vết thương sạch: một số vết thương xảy ra khơng bị vi khuẩn xâm nhập,
khơng có sự hiện
diện của vi khuẩn lên vết thương, vết thương dạng này khơng cần dùng thuốc,
vết thương có thể tự khỏi và thơng thường khơng có biển chứng sau khi vết
thương lành.
- Vết thương bị nhiễm bẩn: thường xảy ra do tai nạn, có vi sinh vật gây bệnh
và các vật thể lạ bám vào vết thương. Với vết thương dạng này nên làm sạch
vùng da bị tổn thương, loại bỏ dị vật bám
vào vết thương.
- Vết thương nhiễm trùng: Một số dấu hiệu của vết thương bị nhiễm trùng như
vết thương có màu vàng, chảy mủ, đau và đỏ. Vết thương dạng này nên dùng
thuốc kháng sinh và có phương pháp điều trị bằng thuốc cho vết thương nhanh
lành.
Ngồi ra có một số vết thương có hiện tượng nhiễm khuẩn mãn tính, rất khó
điều trị. Khi bị vết thương nhiễm khuẩn mãn tính nên có sự chăm sóc của nhân
viên y tế,
Câu 12: Khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
a) Giai đoạn chết lâm sàng gọi là phản xạ siêu sinh đối với những kích thích đặc
biệt.
Đúng vì các phản xạ siêu sinh bao gồm
b) Vết rãnh hằn ở cổ là dấu hiệu chính để giám định sự chết do treo cổ.
Sai vì rãnh hẳn ở cổ hay cịn gọi là rãnh treo chi là dấu hiệu đặc thù để xác
định việc chết treo còn việc giám định sự chết do treo cổ hay không phụ
thuộc vào dấu hiệu cơ bản là: Các tồn thương đều bầm, ngẩm mâu kể cả bờ
rãnh treo cũng như các chấm chảy máu ở các vùng phù tạng và giảm định
các dấu hiệu bên trong của tử thi.
c) Giám định viên phải chịu trách nhiệm cá nhân trước văn bản kết luận giám
định của mình.
Đúng, việc chịu trách nhiệm trước văn bản kết luận giám định được quy định
cụ thể tại Điều 28 Luật Giám định tư pháp
d) Theo nguyên tắc chung, tất cả các thương tích dù nặng hay nhẹ xảy ra ở một
cơ thể sống đều có bẩm máu và có sự co kéo tổ chức.
e) Chết ngạt là hiện tượng thiếu một cách nhanh chóng dưỡng khí CO2 trong
máu.
Sai vì chết ngạt là hiện tượng ngừng được cung cấp khi Oxi và thừa khí CO2
trong cơ thể.