BÀI TẬP
Nhân Định Đúng Sai
1. Hoạt động định tội danh ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
được đặt ra với tất cả các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Sai. Căn k2 điều 14 hoặc điều 132.
2. Giai đoạn đầu tiên trong quá trình định tội danh là xác định nhóm quy phạm
pháp luật.
Sai vì là xác định các quan hệ pháp luật.
3. Mỗi một tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp.
Sai vì tội cướp tài sản có 2 khách thể trực tiếp: Quan hệ nhân thân và quan
hệ tài sản.
4. Mọi hành vi chuẩn bị phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự.
Sai. Căn k3 điều 14
5. Động cơ và mục đích phạm tội có ý nghĩa trong việc định tội danh với tất cả
các tội phạm.
Sai .
6. Hậu quả của tội phạm là yếu tố bắt buộc phải xác định khi tiến hành định tội
danh.
Sai.
Bài Tập
Bài 1.
S (22 tuổi) được công ty may X thuê vận chuyển quần áo may sẵn đã đóng kiện,
đến các đại lý bán hàng Phương thức giao nhận hàng giữa S và công ty X như
sau: S dùng xe tải Hyundai loại nhỏ để vận chuyển. Công nhân trong kho bốc
hàng lên xe cho 5 Mỗi chuyến chỉ được chở 20 kiện hàng (mỗi kiện trị giá 30
triệu đồng). Thủ kho viết phiếu Xuất cho các đại lý, giữ lại 1 liên và giao cho S
liên để chuyến cho các đại lý bán hàng. Khi Xài xe qua cổng bảo vệ phải xuất
trình liên này để bảo vệ kiếm tra. Bảo vệ sẽ đếm số kiện hàng trên xe của S nếu
thấy đúng như trong phiếu xuất thi kỳ vào phiếu đó và mở barle cho 5 di Sao
hàng cho đại lý xong thì chuyển cho họ phiếu xuất (liên 2) đó.
Ngày 23/10/2015, S chuyển hàng cho công ty X. Đến chuyến hàng thứ 7, công
nhân bốc vác đã bốc nhầm lên xe của S 21 kiện hàng S biết điều này nhưng im
lặng. S bèn tìm cách lấy được kiện hãng thừa đó. Khi đến cống bảo vệ, S dừng
xe xuất trình phiếu xuất và nói 1 câu để đánh lạc hướng bảo vệ "Đếm nhiều quá
thành quen miệng tối về ngủ, miệng vẫn lắm nhấm, bà xã tưởng đếm tiền cho
con nào thi khốn đấy”. Vì sự bóng đùa này và cũng do từ sáng đếm chuyến nào
cũng đúng nên bảo vệ không đếm nữa mà ký vào phiếu xuất giao cho S. Trên
đường về đại lý, S dừng xe mang kiện hàng thừa về nhà mình và giao lại 20
kiện hàng cho đại lý.
Xác định tội danh đối với S.
S Phạm tội Trộm cắp tài sản.
* Khách thể:
Hành vi của S đã xâm đến quyền sở hữu TS của công ty may X được pháp luật
bảo vệ.
- Đối tượng tác động: Kiện hàng, có giá trị 30 triệu.
* Mặt khách quan:
- Hành vi: Người phạm tội có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở của người bị
hại để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Cụ thể: Công nhân bốc vác đã bốc nhầm lên xe của S 21 kiện hàng, S biết điều
này nhưng im lặng. S bèn tìm cách lấy được kiện hãng thừa đó. Chủ sơ hữu và
cơng nhân cũng ko biết bị nhầm hàng. Do vậy đó đc coi là lén lút chiếm đoạt số
hàng đó.
- Hậu quả: Cơng ty may X bị mất 1 kiện hàng, tổng giá trị là 30 triệu.
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: S thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp.
- Mục đích: Nhằm chiếm đoạt tài sản.
* Chủ thể: S 22 tuổi là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ độ
tuổi chịu NTHS.
Bài 2. (Quan trọng 1 thi).
Đầu năm 2018, do không có tiền chi tiêu và trả nợ, T (30 tuổi) nảy sinh ý định
phạm tội. T tìm hiểu được biết anh L (HKTT: TP. Hồ Chí Minh) là người từng
sinh sống tại quận D, thành phố Hải Phịng, có điều kiện kinh tế khá giả. Anh L
có mẹ đẻ là bà N đã chết, được gia đình xây lăng mộ an táng tại nghĩa trang
quận DK, thành phố Hải Phòng. T đã vài lần ra khu mộ của bà N khảo sát và
quyết định đào mộ lấy tro cốt rồi yêu cầu anh L chuộc lại.
Chiều tối ngày 07/11/2018, T đến cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng của
ông X, mua xẻng, xà beng, búa, găng tay mang về giấu sẵn ở sau mộ bà N.
Khoảng 21 giờ ngày 08/11/2018, T đi xe máy một mình từ nhà ra phần mộ của
bà N lấy các dụng cụ chuẩn bị sẵn ngày hôm trước sử dụng để đào phá, lấy tro
cốt trong mộ. T dùng xà beng chọc mạnh làm bung các mạch keo liên kết giữa
các khối đá tròn và khối đá vuông trên nắp mộ, dùng tay vần đặt các khối đá ở
xung quanh mặt mộ rồi dùng xẻng đào, xúc hết đất trong lỗ huyệt mộ đổ ra bên
ngoài. T dùng xà beng chọc mạnh làm vỡ nắp chiếc quách đá trong huyệt mộ
rồi nhặt 03 chiếc túi nilon ở khu vực xung quanh mộ cầm chui xuống lỗ huyệt,
dùng tay vét sạch xương, tro cốt trong chiếc quách cho vào các túi nilon rồi
chui lên cho các túi nilon này vào chiếc ba lô mang theo từ nhà. T đeo ba lô, đi
xe máy cầm theo các dụng cụ ra khỏi nghĩa trang đến khu vực giữa Cầu Rào thì
T vứt xẻng, xà beng, búa, găng tay xuống sơng. Sau đó, T đi về nhà cất giấu
chiếc ba lô đựng tro cốt bà N lên mặt bể lọc nước trên nóc nhà vệ sinh, rồi đặt 1
miếng tôn nhỏ đè lên trên. Ngày 09/11/2018, T dùng chiếc điện thoại Nokia vỏ
màu xanh, lắp sim điện thoại 093XXX gọi điện, nhắn tin vào số điện thoại của
anh L để thơng báo việc mình đã đào, lấy tro cốt trong mộ của bà N và yêu cầu
anh phải đưa cho 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng). Để chuộc
lại, nếu trong hạn 5 ngày, anh L không thực hiện yêu cầu trên thì T sẽ tiêu huỷ
tro cốt. Khoảng hơn 18 giờ ngày 09/11/2018, T đã tháo vứt chiếc sim điện thoại
số 093XXX tại địa bàn huyện AD, thành phố Hải Phịng, mục đích tránh để cơ
quan Công an phát hiện, bắt giữ. Sau khi anh L kiểm tra xác nhận đúng sự việc
khu mộ bà N bị đào phá và lấy mất tro cốt, anh L hoang mang, lo lắng buộc phải
huy động tiền của công ty và vay mượn của bạn bè để chuộc lại tro cốt của mẹ,
nhưng chưa chuyển được tiền do T đã tắt điện thoại, tháo vứt thẻ sim. Sau khi
xảy ra vụ việc, chị H (con gái bà N – em gái anh L) gửi đơn trình báo tới cơ
quan công an.
Ngày 09/11/2018, Cơ quan điều tra đã tổ chức khám nghiệm hiện trường tại khu
mộ của bà N xác định: Toàn bộ phần nắp mộ bằng các khối đá đã bị xê dịch
khỏi vị trí ban đầu, nằm ngổn ngang xung quanh mặt mộ, trong đó có khối đá bị
vỡ đôi. Phát hiện các mảnh vỡ của nắp chiếc quách đựng tro cốt tại mặt mộ.
Phần đất chôn trong lỗ huyệt bị đào xới, xúc đổ thành 1 đống bên cạnh. Qua lỗ
huyệt không phát hiện thấy xương, tro cốt của bà Ngô Thị Khánh N.
Ngày 14/11/2018, T đến cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú, giao nộp 02 điện
thoại di động, 01 thẻ đựng sim (đã bị tháo mất sim) trên mặt thẻ đựng sim có
ghi dòng số "093XXX" bằng mực bút dạ. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét
khẩn cấp chỗ ở của T phát hiện thu giữ tại mặt bể nước trên nóc nhà vệ sinh 01
ba lô vải màu đen, đáy màu xanh bên trong có 03 túi nilon đựng các mảnh
xương và tro cốt; 01 mảnh tơn kích thước 18 cm x 15,5 cm đặt trên chiếc ba lô.
Cơ quan điều tra lấy 01 mảnh xương kích thước 9. cm x 9,5 cm từ số xương, tro
cốt trong chiếc ba lô thu tại nhà T gửi giám định AND. Tại bản Kết luận giám
định số 5758A/C54 (TT3) ngày 28/11/2018, Viện khoa học hình sự - Bộ Cơng
an kết luận: người có mảnh xương Cơ quan điều tra thu giữ gửi giám định là mẹ
đẻ của anh Trần N với xác xuất 99,999%. Ngày 15/11/2018, Cơ quan điều tra tổ
chức thực nghiệm điều tra, cho Đỗ Minh T tự thực hiện lại các động tác cạy
phá, đào bới, lấy tro cốt trong mộ của bà Ngô Thị Khánh N. Kết quả, T thực
hiện các động tác phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu
điều tra khác.
Anh/chị hãy định tội danh đối với T.
T phạm tội: Mồ mả, hài cốt ( điều 319) và tội Cưỡng đoạt tài sản (K4 điều
170).
1. Tội Xâm phạm Mồ mả, hài cốt:
T phạm vào tội xâm phạm mồ mả, hài cốt bởi vì hành vi của anh T đã thỏa
mãn tất cả các yếu tố CTTP của tội xâm phạm mồ mả, hài cốt theo quy định
tại Điều 319 BLHS. Cụ thể:
* Khách thể:
- Xâm phạm đến trật tự, an toàn đối với thi thể, phần mộ và hài cốt của người
chết và thơng qua đó đã xâm phạm đến phong tục, tập quán, truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Ở đây T đã xâm phạm đến trật tự, an toàn đối với phần mộ và
hài cốt của bà N.
- Đối tượng tác động: Mồ mả và hài cốt của bà N.
* Mặt khách quan:
- Hành vi khách quan: Hvi KQ của tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt có 3
dạng hvi. Trong trường hợp này hành vi của T thỏa mãn hành vi Đào, phá mồ
mả, Các hành vi khác xâm phạm mồ mả, hài cốt. Cụ thể:
+ Đào, phá mồ mả: T dùng ...lỗ huyệt mộ đổ ra bên ngoài.
+ Các hành vi khác xâm phạm mồ mả, hài cốt: T dùng xà beng...lô mang
theo từ nhà.
- Hậu quả: Mồ mả của bà N bị đào phá và bị lấy mất hài cốt.
- Các dấu hiệu khách quan khác: Cần chú ý đến phong tục, tập quán, truyền
thống của từng địa phương vì trong lĩnh vực này là vấn đề nhạy cảm.
- Thời gian, địa điểm:
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: T thực hiện hành vi với lỗi cố trực tiếp.
- Động cơ và mục đích: Chiếm đoạt hài cốt.
* Chủ thể: T 30 tuổi đã đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS.
2. Tội Cưỡng đoạt tài sản điều 170.
T phạm vào Tội Cưỡng đoạt tài sản bởi vì hành vi của anh T đã thỏa mãn tất
cả các yếu tố CTTP của Tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170
BLHS. Cụ thể:
* Khách thể:
- Xâm hại đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Trong tình huống này
thông qua hành vi đào phá và chiếm chiếm đoạt hài cốt của bà N, T cưỡng đoạt
TS của L.
- ĐTTĐ: Anh L.
* Mặt khách quan:
- Hình vi : Hvi KQ của tội Cưỡng đoạt TS có 2 dạng hvi. Hành vi của T thỏa
mãn hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt
tài sản. Cụ thể: T thông báo đã lấy tro cốt trong mộ của bà N và yêu cầu anh
phải đưa cho 2.500.000.000 đồng. Để chuộc lại, nếu trong hạn 5 ngày, anh L
khơng thực hiện u cầu trên thì T sẽ tiêu huỷ tro cốt.
- Phương tiện:
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: T thực hiện hành vi với lỗi cố trực tiếp.
- Mực đích: Nhằm chiếm đoạt tài sản.
* Chủ thể: T 30 tuổi đã đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS.
Bài 3.
Nhân ngày sinh nhật, Lê Thị L (15 tuổi) được mẹ tặng dây chuyền bằng vàng 2
chi. Biết được việc đó, Hồng Văn V (20 tuổi) nảy sinh ý định chiếm đoạt.
Chiều 20/11/2020, biết L đi làm ở ngoài đồng, V đã phục sẵn ở chỗ vắng chờ L
đi làm về để hành động. Khoảng 18 giờ cùng ngày, thấy L đi qua, V từ chỗ nấp
xông ra bóp cổ L đến chết rồi gỡ lấy dây chuyền vàng. Sau đó V về nhà Lưu
Thị P (19 tuổi – là người yêu của V) nói cho P biết sự việc và yêu cầu giúp
mang xác L ra sông vứt để phi tang. Trong khi 2 tên đang chuyển xác L ra bờ
sơng thì bị dân quân xã đi tuần qua phát hiện và bắt giữ.
Anh/chị hãy định tội danh của Hoàng Văn V và Lưu Thị P.
Anh V phạm tội Giết người và Cướp tài sản:
1. Phân tích cấu thành của Tội Giết người:
V phạm vào tội giết người bởi vì hành vi của anh V đã thỏa mãn tất cả các yếu
tố CTTP của tội giết người theo quy định tại Điều 123 BLHS. Cụ thể:
* Khách thể:
- Khách thể của tội giết người là QHXH được PL bảo vệ về quyền sống, tính
mạng, mà ở đây hành vi của V đã xâm phạm đến quyền sống của L.
- Đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là nạn nhân L.
* Mặt khách quan:
- Hành vi khách quan: HVKQ của tội giết người là Hvi cố ý tước đoạt tính
mạng của người khác 1 cách trái PL. Mà ở đây V đã có hvi cố ý tước đoạt trái
phép tính mạng của L, điều này được chứng minh thơng qua những tình tiết sau:
+ V đã dùng tay bóp cổ nạn nhân L, hành vi này khiếm nạn nhân gặt thở và suy
hô hấp dẫn đến nạn nhân chết ngay tại chỗ. Điều này chứng tỏ V có ý định tước
đoạt hồn tồn tính mạng của nạn nhân(L), ko cho NN có khả năng sống sót.
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: NN L đã tủ vong túc là đã có hậu quả chết
người xảy ra .
- Mối quan hệ nhân quả: Hậu quả việc L chết chỉ từ hành vi bóp cổ của V gây
ra mà khơng phải là từ hành vi khác.
- Thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện: Khoảng 18 giờ, 20/11/2020.
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: Hành vi của V được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
- Động cơ: Nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Mục đích: Mong muốn tước đoạt tính mạng của nạn nhân L.
* Chủ thể: V 20 tuổi đã đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS.
2. Tội cướp Tài Sản:
V phạm vào Cướp tài sản bởi vì hành vi của anh V đã thỏa mãn tất cả các yếu tố
CTTP của tội Cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS. Cụ thể:
* Khách thể: Xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu tài sản.
Trong tình huống này thơng qua hành vi tước đoạt tính mạng của L, V đã chiếm
chiếm đoạt TS của nạn nhân.
* Mặt khách quan:
- Hành vi khách quan: Hvi KQ của tội Cướp TS có 3 dạng hvi. Trong trường
hợp này hành vi của V thỏa mãn hành vi dùng vũ lực để nhằm chiếm đoạt TS.
V đã dùng tay bóp cổ L dẫn đến L chết khơng có khả năng chống cự để lấy TS.
- Hậu quả: Tài sản của L bị lấy mất.
- Mối quan hệ nhân quả: Việc L bị chiếm đoạt TS là chỉ từ hành vi của V mà
không phải là từ hành vi khác.
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: Hành vi của V được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
- Mục đích: Nhằm chiếm đoạt tài sản.
* Chủ thể: V 20 tuổi đã đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS.
Chị P phạm tội che giấu tội phạm Điều 389.
* Khách thể:
- Xâm phạm đến hoạt động bình thường và đúng đắn của các cơ quan tiến hành
tố tụng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm.
* Mặt khách quan:
- Hành vi: Có hình vi che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội
phạm.
Cụ thể: P đã hình vi giúp V mang xác ra sơng vứt để phi tang xác để xóa dấu
vết, cất giấu, tiêu hủy tang vật của tội phạm, ngăn cản hoặc gây khó khăn cho
việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội.
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: P thực hiện hình vi với lỗi cố ý.
* Chủ thể: P là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi TNHS.
Bài 4.
Ngày 06/01/2020, Phạm Văn L (30 tuổi) điều khiển xe máy từ thành phố X đến
xã B, huyện R đến từng nhà chào bán hàng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, L đi qua
nhà bà Đặng Thị Y, thấy cháu Phạm D (con của bà Y) đang ở nhà nên L dừng xe
trước cổng và gọi D ra nói chuyện. L nói “Chú là người bên môi trường, đi bán
sản phẩm thông bồn cầu, có cha mẹ ở nhà khơng” thì D trả lời “ba mẹ đi làm
khơng có ở nhà”. Lúc này, L này sinh ý định chiếm đoạt tài sản của nhà bà Y
nên xin D số điện thoại và giả vờ gọi điện cho bà Y để D tin bà Y đã đồng ý
mua sản phẩm thông bồn cầu của L. Sau đó, L nói cháu D: “Mẹ đồng ý mua sản
phẩm của chú, vào nhà lấy tiền đóng cho mẹ”. Cháu D mở cổng cho L dắt xe
vào trong sân, D vào nhà tìm tiền trả cho L nhưng khơng thấy, D ra ngồi nói
“tiền mẹ cháu mang đi rồi". Do thấy cháu D cịn nhỏ, L đốn sẽ thường bỏ tiền
tiết kiệm trong heo đất nên L bảo cháu D "mang tiền trong heo đất ra đưa cho
chứ”. D vào nhà lấy 01 con heo đất đưa cho L L cầm heo đất và đập bể xuống
thảm lót chân để trước hiền nhà thì thấy có rất nhiều tờ tiền gồm các loại mệnh
giá 500.000 mệnh giá 200.000 đồng và 100.000 đồng (tổng giá trị 45 triệu
đồng), L lấy toàn bộ số tiền trong heo đất bỏ vào túi quần và lấy xe mô tô đi ra
hướng cổng. Lúc này, chị Y đi làm về thấy cháu D nói “Chú kia lấy hết tiền
trong heo đất" nên đã tri hơ thì L vứt toàn bộ số tiền xuống gốc cây trong sân.
Bà Y cùng một số người dân xung quanh bắt giữ L và giao cho Công an xã B.
Xác định Tội danh đối với L
L phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
L phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi vì hành vi của anh L đã thỏa
mãn tất cả các yếu tố CTTP của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định
tại Điều 174 BLHS. Cụ thể:
* Khách thể: Xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật
hình sự bảo vệ. Cụ thể, L đã chiếm đoạt 45 triệu của gia đình cháu D.
Đối tượng tác động: 45 triệu đồng của gia đình cháu D.
* Mặt khách quan:
- Hình vi: L đã có hành vi lừa dối cháu D để nhằm chiếm đoạt tài sản.
Cụ thể, L đã xin cháu D số điện thoại và giả vờ gọi điện cho bà Y để D tin bà Y
đã đồng ý mua sản phẩm thơng bồn cầu của L. Sau đó, L nói cháu D: “Mẹ
đồng ý mua sản phẩm của chú, vào nhà lấy tiền đóng cho mẹ”.
- Hậu quả: TS của GĐ cháu D bị chiếm đoạt là 45 triệu đồng.
- Mối quan hệ nhân quả: Hành vi lừa dối của L là nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến việc cháu D tin tưởng nên đã đưa 45 triệu đồng.
- Địa điểm, Thời gian:
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: L thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
- Đông cơ và mục đích: Nhằm chiếm đoạt tài sản.
* Chủ thể: L đã 30 tuổi là người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự.
Bài 5. (Quan trọng 2 thi).
Bà L là người bn bán hàng hóa, M, N trở hàng hóa cho bà L qua cầu. M và N
đi qua bên cầu đã đạp đổ cầu do nước dâng cao nên bà L ko biết lam sao chỉ biết
nhìn M, N lấy số hàng đố, Tông giá trị là 30tr.
M, N phạm tội: Cướp tài sản điều 168.
M, N phạm vào Cướp tài sản bởi vì hành vi của M và N đã thỏa mãn tất cả các
yếu tố CTTP của tội Cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 BLHS. Cụ thể:
* Khách thể:
- Xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu tài sản đã được pháp luật
HS bảo vệ. Trong tình huống này, hình vi của M, N đã xâm phạm đến quan hệ
sở hữu tài sản của Bà L đc PLHS bảo vệ, là số hàng hóa bị chiếm đoạt.
- Đối tượng tác động: Hàng hóa, Tổng giá trị là 30 triệu.
* Mặt khách quan:
- Hành vi khách quan: Hvi KQ của tội Cướp TS có 3 dạng hvi. Trong trường
hợp này hành vi của M và N thỏa mãn hành vi ở dạng thứ 3, Người phạm tội có
Hành vi khác làm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng không thể chống cự
được để chiếm đoạt tài sản.
Cụ thể: M và N đã dùng thủ đoạn là đạp đổ cầu do nước dâng cao nên Bà L ko
biết lam sao chỉ biết đứng nhìn M và N chiếm đoạt tài sản (hang hóa).
- Hậu quả: Tài sản của L bị lấy mất.
- Mối quan hệ nhân quả: Việc L bị chiếm đoạt TS là chỉ từ hành vi của M và
N mà không phải là từ hành vi khác.
- Thời gian, điểm điển, công cụ:
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: M, N thực hiện hình vi với lỗi cố ý trực tiếp.
- Mực đích: Nhằm chiếm đoạt tài sản.
* Chủ thể: M, N là người có năng lực trách nhiệm hình sự (túc là M, N nhận
thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện theo
chí ý của mình) và đủ độ tuổi TNHS.
Bài 6. Tương tự như câu 5.
Anh A là thương binh bị cụt chân, nhà anh A bán hàng có hộp đựng tiền.
C, D đi qua giả vờ để lấy tài sản. A mời C, D vào nhà nới chuyện và anh A tháo
chân giả ra.
C, D lấy chân giả của anh A vứt ra ngoài xa rồi lấy hộp tiền của anh A chạy đi.
C, D phạm tội : Cướp tài sản điều 168.( ở dạng hành vi thứ 3)
Bài 7. Tập trung vào án lệ 28. (Quan trọng 3 thi):
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03-11-2016, Trần Văn C đang chơi game ở quán
Internet “Su Su” thuộc thôn 1A, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì bạn là anh
Nguyễn Hồng Q gọi điện thoại hỏi C đang ở đâu. Khi biết C đang chơi game ở
quán Internet, anh Q cũng đến và vào chơi ở máy số 6. Trong lúc chơi game,
anh Q nhiều lần đến chỗ C ngồi hỏi mượn tiền, nhưng C nói khơng có tiền. Một
lúc sau, anh Q đến chỗ C đưa 02 chiếc điện thoại di động của mình nói C cầm
cố để mượn tiền, C vẫn không đồng ý nên anh Q bỏ về chỗ của mình tiếp tục
ngồi chơi game.
Khoảng 15 phút sau, anh Q đi đến chỗ C nói “Anh khơng tin em sao, giúp em
đi”. C trả lời “Anh không có tiền thật mà, mày làm ơn đi chỗ khác để anh
chơi”. Anh Q chửi “Đ.M mày, nhớ mặt tao”. C nghe vậy khơng nói gì, anh Q
bỏ về chỗ máy của mình. Ít phút sau, anh Q đi đến chỗ C đang chơi game, tay
phải đấm mạnh 01 cái vào má trái của C làm chảy máu. Bị đánh, C tức giận lấy
dao Thái Lan có sẵn trên bàn giữa 02 máy vi tính, rồi cầm dao bằng tay phải
đứng lên ghế mình ngồi. Thấy vậy, anh Q lao đến, C dùng dao quơ ngang qua
lại trúng vào mặt anh Q làm chảy máu. Anh Q xông đến dùng hai tay kéo C
xuống ghế, sau đó anh Q dùng hai tay kẹp cổ C theo tư thế phần đầu của C ở
phía sau lưng anh Q, cịn phần hai tay, thân người và hai chân của C ở phía
trước người anh Q. Bị anh Q kẹp cổ, C dùng tay trái nắm vào phần hơng bên
phải anh Q, cịn tay phải C cầm dao Thái Lan đâm 01 nhát trúng ngực anh Q.
Anh Nguyễn Hải Q1 đang chơi game thấy vậy chạy đến giật con dao trên tay C
vút vào góc quán. Lúc này anh Q bị ngã xuống nền nhà, sau đó C và một số
người có mặt trong quán đưa anh Q đến bệnh viện cấp cứu. Đến ngày 04-112016, anh Q tử vong. Ngay sau đó, C đến Cơng an huyện K đầu thú.
Xác định tội danh đối với C.
C phạm vào Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bởi
vì hành vi của C đã thỏa mãn tất cả các yếu tố CTTP của Tội giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo quy định tại Điều 125 BLHS.
Cụ thể:
* Khách thể:
- Xâm phạm đến tính mạng và quyền được sống của người khác được pháp luật
hình sự bảo vệ. Mà ở đây hành vi của C đã xâm phạm đến quyền sống của Q.
- Đối tượng tác động: Nạn nhân Q.
* Mặt khách quan:
- Hành vi khách quan: Là hành vi của một người giết người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh. Xuất từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của bị
hại. Cụ thể: Anh Q xông đến…ngực anh Q.
- Hậu quả: NN đã tủ vong túc là đã có hậu quả chết người xảy ra .
- Mối quan hệ nhân quả: Liệc Q chết chỉ từ hành đâm của C gây ra mà không
phải là từ hành vi khác.
- Thời gian, địa điểm:
* Mặt chủ quan:
- Lỗi: Hành vi của C được thực hiện với lỗi cố ý.
- Mục đích: Nhằm tước đoạt mạng sống của nạn nhân.
* Chủ thể: C đã đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS.