ĐỊNH TỘI DANH
Câu 1. Nêu khái niệm Định Tội Danh và Phân tích các giai đoạn của q
trình Định Tội Danh.
1. Khái niệm Định Tội Danh.
Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phừ hợp chính
xác giữa các dấu hiệu của hình vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình
sự.
2. Các giai đoạn của quá trình Định Tội Danh.
Quá trình định tội danh là quá trình xác định sự đồng nhất của các tình tiết cơ
bản, điển hình nhất của một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện
với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nào đó được quy định trong pháp luật
hình sự.
a. Giai đoạn 1: Xác định quan hệ pháp luật.
- Phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của vi phạm PL đã được thực hiện để xác
định xem hành vi đó có dấu hiệu của tội phạm hay không.
- Việc xác định dấu hiệu tội phạm phải dựa trên cơ sở được quy định tại Điều
143 BLTTHS 2015 và Điều 100 BLTTHS 2003.
- Nếu vi phạm PL đó có dấu hiệu của tội phạm thì có nghĩa là đã phát sinh quan
hệ pháp luật hình sự và chuyển sang giai đoạn sau
b. Giai đoạn 2: Tìm kiếm nhóm quy phạm PLHS.
- Xác định xem tội phạm mà chủ thể thực hiện thuộc chương tương ứng nào
trong phần riêng.
+ Xác định khách thể loại được Luật HS bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
+ Kiểm tra chủ thể có phải là chủ thể đặc biệt không.
c. Giai đoạn 3: Tìm quy phạm PLHSự cự thể.
- So sánh, đối chiếu, kiểm tra xem các dấu hiệu của tội phạm được thực hiện
phù hợp với điều luật cụ thể nào trong chương đã tìm được và điểm, khoản nào
của điều luật đó.
Tiêu chí
Định Tội Danh chính thức
Khái niệm là sự đánh giá về mặt nhà nước,
tính chất pháp lý hình sự của
một hành vi phạm tội cụ thể do
các chủ thể được Nhà nước uỷ
quyền thực hiện.
Chủ thể Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân.
Tính chất
Mang tính quyền lực nhà nước
Định Tội Danh khơng chính thức
là sự đánh giá khơng phải về mặt
Nhà nước, tính chất pháp lý hình
sự của một hành vi phạm tội cụ
thể.
Bất kỳ người nào quan tâm đến
việc nghiên cứu vụ án hình sự cụ
thể và bình luận về vụ án đó trên
phương diện định tội danh.
Khơng có
Hình thức Chủ thể ban hành 1 VB áp Lời nói hoặc có thể bằng văn bản
biểu hiện dụng pháp luật.
(Các cơng trình NCKH, giáo
trình, sách giáo khoa, bài báo...).
Hậu quả Phát sinh các hậu quả pháp lý Không làm phát sinh các quyền
pháp lý trong các quan hệ PLHS và Tố và nghĩa vụ pháp lý trong các
tụng Hình Sự.
quan hệ PLHS và Tố tụng Hình
Sự.
Câu 2. Phân biệt giữa Định Tội Danh chính thức và ĐTD khơng chính
thức.
Câu 3. Phân tích căn cứ pháp lý của việc Định Tội Danh. ( Tại sao nói:
“BLHS là căn cứ pháp lý của việc Định Tội Danh” hoặc “ BLHS có ý nghĩa
như thế nào đối với việc Định Tội Danh” ).
1. Khái niệm căn cứ pháp lý.
Là hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy
nhất và trực tiếp cho tồn bộ q trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy
hiểm cho xã hội được coi là tội phạm.
2. Căn cứ pháp lý của việc Định Tội Danh.( ý nghĩa của BLHS đối với
ĐTD).
* BLHS – Cơ sở pháp lý trực tiếp của việc Định Tội Danh:
- BLHS được coi là nguồn trực tiếp và duy nhất của ngành luật hình sự. BLHS
liệt kê tất các hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm cũng như quá
trình ĐTD và quyết định hình phạt.
- Mọi mơ hình tội phạm đều được xác định thơng qua các dấu hiệu được quy
định trong BLHS.
- Bản chất của hoạt động ĐTD là viện dẫn điều vào trong BLHS – Xác định
xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội trên thực tế phù hợp với
cấu thành TP nào được quy định trong phần các tội phạm.
- Khi tiến hành ĐTD, Người có thẩm quyền ĐTD phải căn cứ vào cấu thành tội
phạm các tội cụ thể được quy định trong quy phạm PLHS ở phần riêng và quy
phạm PLHS ở phần chung để lựa chọn sao cho phù hợp với hành vi xảy ra trên
thực tế.
* BLTTHS – Cơ sở pháp lý gián tiếp của việc Định Tội Danh.
- Ở 1 chừng mực nhất định quy phạm pháp luật TTHS có ý nghĩa bổ trợ cho
việc ĐTD.
+ Quy định về thầm quyền của Tòa Án các cấp: Sơ thẩm, Phúc thẩm, Giám đốc
thẩm và Tái thẩm.
+ Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng...
+ Quy định về các Trình tự thủ tục tiến hành tố tụng
+ Quy định về chứng minh và chứng cứ, các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế,
thời hạn tạm giam,...
Câu 4. Phân tích hoạt động Định Tội Danh theo Khách Thể của tội phạm.
1. Khái niệm:
* Khách thể của TP: Là hệ thống các quan hệ xã hội được PLHS bảo vệ và bị
hành vi phạm tội xâm hại tới. Như: “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ...được quy định tại khoản 1 điều 8 BLHS”.
* ĐTD theo Khách Thể của tội phạm: Được hiểu là phải căn cứ vào các yếu
tố khách thể của tội phạm để xác định chính xác tội danh cho hành vi đã thực
hiện trên thực tế. Để xác định đúng tội danh trên cở sơ xác định đúng khách thể
trực tiếp của tội phạm.
2. Các loại khách thể của tội phạm:
* Khách thể chung: Là tổng hợp các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
khỏi sự xâm hại của tội phạm.
- Theo LHS Việt Nam, khách thể chung của tội phạm là những quan hệ xã hội
được quy định tại K1 Điều BLHS 8 2015.
- Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại đến khách thể chung.
- Căn cứ vào khách thể chung, người ĐTD xác định người thực hiện hành vi có
phạm tội hay khơng.
* Khách thể loại: Là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất, được nhóm các
quy phạm PLHS bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạm.
- Có 14 nhóm trong phần các tội phạm của BLHS. Như: Nhóm an ninh, con
người, trật tự XH…
- Căn cứ vào khách thể loại, người ĐTD xác định được hành vi phạm tội được
quy định ở chương nào của BLHS để làm cơ sở xác định CTTP cụ thể cụ thể.
* Khách thể trực tiếp: Là một hoặc một số quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi
phạm tội cụ thể xâm hại.
- Căn cứ vào khách thể trực tiếp, người ĐTD xác định được CTTP cụ thể tương
ứng với hành vi phạm tội của người phạm tội.
Ví dụ: “A trộm cắp tài sản của B. A đã xâm hại đến khách thể trực tiếp là
quyền sở hữu tài sản của B và gây hại đến khách thể chung và khách thể loại là
quyền sở hữu của công dân. Vậy nên 1 tội phạm phải có it nhất 1 khách thể trực
tiếp”.
- Cách xác định Khách thể trực tiếp:
+ Một hành vi phạm tội có thể xâm hại trực tiếp đến nhiều QHXH nhưng khơng
phải tất cả các QHXH đó đều được coi là khách thể trực tiếp của tội phạm. Nếu
quan hệ xã hội nào bị xâm hại mà thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm cho XH
của hành vi thì QHXH đó là khách thể trực tiếp của tội phạm.
+ Bất cứ tội phạm nào cũng đều có khách thể trực tiếp. Có tội phạm chỉ có một
khách thể trực tiếp, nhưng cũng có tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp.
+ Trong lý luận PLHS, người ta còn phân chia khách thể trực tiếp ra thành:
khách thể trực tiếp cơ bản và khách thể phụ.
3. ĐTD theo Đối tượng tác động của TP:
– Là bộ phận của Khách Thể tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những QHXH được luật HS bảo vệ.
- Tội phạm thông thường tác động đến các đối tượng sau: Chủ thể của quan hệ
xã hội (con người); Nội dung của các quan hệ xã hội (quyền và nghĩa vụ của
chủ thể); Đối tượng tác động của các quan hệ xã hội ( vật thể)
– Khi định tội danh cần phải xem xét đối tượng tác động của tội phạm. Vì:
+ Đối tượng tác động của tội phạm là yếu tố có ý nghĩa định tội.
Ví dụ: Hàng cấm, hàng giả…
+ Trong một số trường hợp, đối tượng phạm tội là tình tiết định khung của tội
phạm.
Ví dụ: Người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trong tội hiếp dâm theo Điều 141
BLHS…
+ Trong các trường hợp, nếu không phải là yếu tố định tội, định khung hình
phạt, việc xác định đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa trong việc quyết
định hình phạt.
Ví dụ: Các tình tiết tăng nặng TNHS ở Điều 52 BLHS.
Câu 5. Phân tích hoạt động Định Tội Danh theo Mặt Chủ Quan của tội
phạm.
1. Khái niệm:
* Mặt chủ quan của TP: Là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm
bao gồm: lỗi, mục đích, và động cơ phạm tội.
* ĐTD theo Mặt Chủ Quan của tội phạm: Là căn cứ vào các dấu hiệu bên
trong của tội phạm để qua đó xác định đúng tội danh cho hành vi đã được thực
hiện trên thực tế.
2. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của Tội Phạm.
a. Yếu tố Lỗi:
- Lỗi: Là trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu
hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý .
- Một hành vi bị xem là có lỗi khi hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của
họ trong khi có đủ điều kiện khách quan để lựa chọn và thực hiện những xử sự
khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Phân loại lỗi:
- Lỗi cố ý phạm tội:
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Quy định tại K1, Điều 10 BLHS: “Là lỗi của một người khi
thực hiện hành vi phạm tội nhân thức...muốn hậu quả xảy ra”.
+ Lỗi cố ý gián tiếp: Quy định tại Khoản 2, Điều 10 BLHS.
- Lỗi vô ý phạm tội:
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin: K1 Điều 11 BLHS: “Là lỗi trong trường hợp người
phạm tội tuy.. có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả
nguy hiểm cho xã hội”.
+ Lỗi vô ý do cẩu thả: K2 Điều 11 BLHS.
- Ngồi ra cịn có các trường hợp đặc biệt về lỗi như:
+ Trường hợp hỗn hợp lỗi: Là Trường hợp một người cố ý thực hiện hành vi
tội phạm nhưng vô ý gây ra hậu quả của tội phạm.
Ví dụ: A và B có xích mít với nhau, A đã đấm vào mặt B dẫn đến B tủ vong.
Hành vi của A là lỗi cố ý gây thương tích, cịn hậu quả chết người nằm ngồi ý
chí của A, do đó hậu quả này thuộc về lỗi “vô ý”.
+ Sự kiện bất ngờ: Điều 21 BLHS.
Ví dụ: A lái xe máy trên đường về nhà với tốc độ bình thường đến đoạn đường
vào ngõ thì cháu B chạy từ ngõ ra tơng vào xe A đẫn đến B tủ vong ngay tại
chỗ. Trong trường hợp này, A được loại trừ TNHS bởi lẽ A hiển nhiên không thể
biết được chấu B chạy ra do đó là một sự kiện bất ngờ.
b. Động cơ phạm tội:
- Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội
thực hiện hành vi phạm tội.
Ví dụ: Tội phạm trộm cắp tài sản có thể vì nghèo, thù ghét người bị hại...
- Trong Luật hình sự, động cơ phạm tội rất ít được phản ánh trong CTTP với ý
nghĩa định tội. Tuy nhiên Động cơ có thể được phản ánh trong cấu thành tăng
nặng hoặc giảm nhẹ là dấu hiệu định khung.
Ví dụ: “động cơ đê hèn” là dấu hiệu định khung tăng nặng của tội giết người
điều 123.
c. Mục đích phạm tội:
- Là kết quả cuối cùng mà người phạm tội muốn đạt được khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội.
- Trong Luật hình sự, mục đích phạm tội khơng ko bắt buộc với tất cả các TP.
Tuy nhiên, ở một số tội phạm, là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP.
Ví dụ: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia bắt buộc phải có mục đích “chống
chính quyền nhân dân”.
Tội phạm là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan. Vì vậy, Hoạt
động định tội phải là sự kết hợp giữa mặt khách quan và chủ quan, giữa hành vi
biểu hiện và thái độ bên trong của người thực hiện hành vi.
Câu 6. Phân tích hoạt động Định Tội Danh theo Chủ Thể của tội phạm.
1. Khái niệm:
* Chủ thể của TP là Cá nhân: Là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội được LHS quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình
sự và đạt độ tuổi theo quy định của BLHS.
* Chủ thể của TP là pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại là pháp
nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các
thành viên.
* ĐTD theo Chủ Thể của tội phạm: Là căn cứ vào các quy định về điều kiện
của chủ thể, của tội phạm qua đó xác định chính xác tội danh cho hành vi đã
được thực hiện trên thực tế.
2. Các dấu hiệu pháp lý của chủ thể.
* Năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi và việc ĐTD:
- Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của
người phạm tội. Chỉ người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ
thể của tội phạm.
- Người có năng lực TNHS trước hết phải đạt tới một độ tuổi nhất định để đảm
bảo rằng cá nhân đó có khả năng nhận thức đầy đủ về tính chất pháp lý của
hành vi mà mình gây ra và khả năng điều khiển hành vi đó.
- Khi đạt độ tuổi chịu TNHS, cá nhân được coi là có năng lực TNHS khi không
mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi.
- Năng lực TNHS trong các trường hợp đặc biệt:
+ Tình trạng khơng có năng lực TNHS: Theo quy định tại Điều 21, Dựa vào kết
luận giám định tâm thần của cơ quan pháp y.
+ Năng lực TNHS bị hạn chế vì bệnh tật: Là trường hợp người phạm tội mắc
một bệnh, mà bệnh đó làm cho họ nhận thức khơng đầy đủ được tính chất nguy
hiểm, cũng như hậu quả của hành vi do mình gây ra. Thì vẫn phải chịu TNHS,
PL chỉ thừa nhận là tình tiết giảm nhẹ hình phạt.
Ví dụ: Anh A có hội chứng bệnh lý suy nhược thần kinh dẫn đến bị hạn chế khả
năng nhận thức nhưng vẫn lái xe máy phóng nhanh gây tai nạn giao thông
khiến một người khác tử vong. A vẫn bị truy cứu TNHS nhưng được hưởng tình
tiết giảm tại điểm q K1 Điều 51 BLHS 2015.
+ Trường hợp trách nhiệm hình sự do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh
khác dẫn đến mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Quy định tại Điều 13.
* Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và việc ĐTD:
- Chủ thể của tội phạm phải là người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
- Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS 2015.
- Xác định tuổi chịu TNHS:
+ Phương pháp xác định: Căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, thẩm tra tại cơ
quan quản lý hộ tịch hoặc nơi cấp giấy khai sinh.
Xác định tuổi của bị cáo: Lấy ngày cuối, tháng cuối của năm làm năm
sinh cho bị cáo theo hướng có lợi cho bị cáo.
Xác định tuổi của bị hại: Lấy ngày đầu, tháng đầu của năm làm năm sinh
cho bị hại theo hướng có lợi cho bị cáo.
+ Độ tuổi theo quy định của BLHS là tuổi trịn tính từ ngày tháng năm sinh đến
ngày tháng năm sinh.
Ví dụ: Sinh ngày 8-9-1999 thì ngày 8-9-2013 mới đủ 14 tuổi và ngày 8-9-2015
mới đủ 16 tuổi.
+ Trường hợp khơng xác định được độ tuổi thì phải tiến hành giám định độ tuổi.
* Dấu hiệu của chủ thể đặc biệt:
- Có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt mới thực hiện được.
- Dấu hiệu chủ thể đặc biệt bao gồm có: Chức vụ, quyền hạn; Dấu hiệu nghề
nghiệp, tính chất cơng việc; Dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đinh, họ
hàng...
- Khi khơng có dấu hiệu đặc biệt thì chủ thể khơng phải chịu TNHS về Tội
Phạm hoặc tội danh của chủ thể được thay đổi.
- Ngoài ra cần phải cân nhắc các đặc điểm về nhân thân của người phạm tội tuy
không phải là dấu hiêu của chủ thể.
3. Chủ thể là pháp nhân thương mại:
- Đây là chủ thể đặc biệt, theo quy định của BLHS, pháp nhân thương mại chỉ
phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 75 như
sau:
- Mặt khác, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội
nhất định được quy định cụ thể tại Điều 76 Bộ luật hình sự.
Câu 7. Trình bày hoạt động Định Tội Danh đối với Tội phạm chưa hoàn
thành.
1. Khái niệm:
* Tội phạm chưa hoàn thành: Là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
đạt, tức là tội phạm chưa hoàn thành bao gồm hai giai đoạn đầu của hoạt động
phạm tội với lỗi cố ý.
* ĐTD đối với Tội phạm chưa hoàn thành: Là sự đánh giá về hành vi nguy
hiểm cho xã hội, đã được thực hiện trong hoạt động phạm tội trên cơ sở đối
chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự phù hợp ở một mức độ nhất định nào
đo, giữa các dấu hiệu của hành vi ấy trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm
tội chưa đạt với các dấu hiệu của CTTP cụ thể, do điều tương ứng tại Phần các
tội phạm của BLHS quy định.
2. Định tội danh trong trường hợp Tội phạm chưa hoàn thành.
a. Chuẩn bị phạm tội:
* Khái niệm: Quy định tại K1 Điều 14 BLHS 2015.
Ví vụ: Rủ rê người khác cùng tham gia thực hiện tội phạm. (tìm kiếm đồng
bọn).
* Đặc điểm:
- Giai đoạn chuẩn bị phạm tội không được đặt ra đối với tội phạm cấu thành
hình thức.
- Khơng phải mọi hành vi chuẩn bị phạm tội đều phải chịu TNHS mà có sự
phân biệt trong đường lối xử lý. Nếu 1 người chuẩn bị phạm 1 tội rất nghiêm
trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong 25 tội danh tại K2 điều 14 thì phải
chịu TNHS về tội định thực hiện.
- Lưu ý: Nếu bản thân hành vi chuẩn bị phạm tội lại cấu thành 1 tội độc lập thì
người chuẩn bị phạm tội cịn phải chịu TNHS thêm về tội độc lập ấy.
* Mức độ chịu TNHS: Quy định tại K2 Điều 57.
b. Phạm tội chưa đạt:
* Khái niệm: Quy đinh tại Điều 15 BLHS.
* Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt:
Căn cứ vào thái độ, tâm lý của người phạm tội đối với việc chưa đạt có 2
loại phạm tội chưa đạt:
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Là trường hợp người phạm tội vì
những nguyên nhân khách quan, mà không thực hiện được hết các hành vi mà
họ cho là cần thiết để hậu quả xảy ra nên hậu quả đó khơng xảy ra.
Ví dụ: A xơ xát với B, B đánh A. A chạy ra lấy 1 con dao nhỏ đâm B một nhát,
sau đó mọi người hơ hoán nên A bỏ chạy, B được đưa đi cấp cứu nên thốt
chết.
- Phạm tội chưa đạt đã hồn thành: Là trường hợp người phạm tội đã thực
hiện đầy đủ những hành vi cần thiết để hậu quả xảy ra, nhưng vì ngun nhân
khách quan ngồi ý muốn mà hậu quả đó khơng xảy ra.
Ví dụ: A và B có xích mích với nhau từ trước, do ấm ức nên A tìm B với ý định
đâm chết B. A đã đâm B 2 nhát và tin B đã chết nên bỏ đi, nhưng B được mọi
người phát hiện và đưa đi cấp cứu nên khơng chết.
Căn cứ vào tính chất đặc biệt của nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt có 2
loại phạm tội chưa đạt:
- Phạm tội chưa đạt vô hiệu: Nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt đc
gắn với công cụ, phương tiện hoặc đối tượng tác động. Ví dụ: Trộm vàng mở
hộp khơng cịn vàng ở trong hộp, cướp bằng súng thì súng hết đạn.
- Các trường hợp chưa đạt khác: Các trường hợp ngoài phạm tội chưa đạt vô
hiệu.
* Đặc điểm:
- Người phạm tội thực hiện hành vi liền trước hành vi được mô tả trong mặt
khách quan của CTTP.
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Hậu quả của hành vi phạm tội chưa xảy
ra.
- Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: Người thực hiện hành vi phạm tội tin rằng
hậu quả sẽ xảy ra nhưng vì lý do khách quan mà hậu quả không xảy ra.
* Mức độ chịu TNHS: Quy định tại khoản 3 Điều 57.
Trong trường hợp không xác định được tội phạm mà họ thực hiện ko thuộc
khoản tăng nặng cụ thể nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó,
thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điều luật tương ứng đó.
c. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Quy định tại Điều 16 BLHS.
Câu 8. Phân tích cơ sở khoa học của việc Định Tội Danh.
1. Khái niệm cấu thành tội phạm.
- Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng,
điển hình cho 1 loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS.
- CTTP bao gồm những dấu hiệu cần và đủ. Đó là những dấu hiệu điển hình
nhất, lặp đi lặp lại trong các hành vi phạm tội cùng loại đó, nói lên bản chất của
loại tội phạm đó.
- CTTP là mơ hình pháp lý của tội phạm và là căn cứ khoa học của việc định tội
danh.
2. Phân loại các dấu hiệu trong CTTP và việc định tội danh.
- Được chia làm 2 nhóm:
+ Dấu hiệu bắt buộc của CTTP: Chỉ khi nào có đầy đủ các dấu hiệu bắt buột
này thì hành vi vi phạm pháp luật mới được coi là hành vi phạm tội. Gồm có:
Khách thể; Mặt khách quan; Mặt chủ quan; Chủ thể của tội phạm.
+ Dấu hiệu không bắt buộc của CTTP: Chỉ có ở những tội phạm cụ thể được
quy định trong BLHS chứ khơng bắt buộc có ở mọi tội phạm. Bao gồm: Hậu
quả của tội phạm; Động cơ, mục đích; Dấu hiệu đặc biệt của chủ thể đặc biệt.
Ý nghĩa: Để xác định ĐTD đúng, người ĐTD phải xác định được các dấu
hiệu đó.
3. Phân loại CTTP và việc Định Tội Danh.
* Dựa vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được CTTP phản ánh,
có thể chia CTTP thành:
- Cấu thành tội phạm cơ bản.
- Cấu thành tội phạm tăng nặng.
- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ.
Ý nghĩa của việc phân biệt này trong việc ĐTD: Muốn xử khung tăng nặng,
giảm nhẹ thì phải đảm bảo CTTP cơ bản.
* Dựa vào cấu trúc của mặt khách quan được mơ tả trong CTTP, có thể
chia CTTP thành:
- Cấu thành tội phạm cắt xén.
- Cấu thành tội phạm hình thức.
- Cấu thành tội phạm vật chất.
Ý nghĩa của việc phân biệt này trong việc ĐTD: Đối với tội phạm có CTTP
hình thức chỉ cần xác định được hành vi phạm tội, đối với CTTP vật chất thì cần
phải chứng minh thêm dấu hiệu hậu quả của tội phạm.