I, Phần mở đầu
1, Sự cần thiết của đề tài
Xuất phát từ việc cần kíp phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, Đảng và
Nhà nước ta đã chủ trương xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp
chuyển sang nền KTTT và hội nhập quốc tế. Chủ trương đó nhanh chóng được các
nhà đầu tư trong, ngồi nước và đơng đảo người sản xuất, tiêu dùng hưởng ứng. Các
doanh nghiệp tư nhân trong nước và có vốn nước ngồi xuất hiện ngày càng nhiều,
hộ nơng dân chuyển sang kinh doanh hàng hóa, hộ tư thương phát triển mạnh, thị
trường hàng hóa và dịch vụ phát triển với quy mô ngày càng lớn, chủng loại phong
phú hơn. Thị trường tài chính, nhất là thị trường tín dụng và chứng khốn phát triển
khá nhanh. Thị trường bất động sản, thị trường lao động và khoa học - cơng nghệ, dù
cịn chưa phát triển một cách chuẩn tắc, nhưng cũng đã hình thành. Xuất khẩu, nhập
khẩu phát triển mạnh, đưa nước ta trở thành nước có nền kinh tế mở ở mức độ cao
trong khu vực.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay vẫn cịn những hạn chế và khó
khăn. Cụ thể là, thành phần kinh tế nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế
nhưng hiệu quả thấp. Thậm chí một số tập đồn kinh tế nhà nước lớn lâm vào tình
trạng mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước đến năm 2013 đạt
con số hơn 1 triệu tỷ đồng). Hợp tác xã còn yếu kém hơn, đặc biệt là không hấp dẫn
nông dân. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách ngắn hạn, hiệu lực
và hiệu quả thấp, các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng giả… diễn ra phổ
biến. Nhà nước làm mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh tế chưa thực sự
hiệu quả và cơng bằng, do “lợi ích nhóm” chi phối nên nhiều chính sách kinh tế chưa
thực sự xuất phát từ lợi ích chung của quảng đại nhân dân lao động. Sự phân hóa giàu
- nghèo ngày càng gia tăng, tệ quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được ngăn
ngừa hiệu quả. Số đông người dân làm nơng nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó
thốt nghèo. Vì vậy, nhà nước ta cần phải có những biện pháp, phương hướng tốt hơn
để phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Với lý do trên em chọn đề tài “Vai trò của nền sản xuất hàng hóa trong sự tăng trưởng
kinh tế và phát triển đồng bộ các loại thị trường” làm chủ đề tiểu luận của mình.
2, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nền kinh tế Việt Nam qua những giai đoạn
trước Đổi mới và sau Đổi mới.
3, Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các quy luật của nền sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường để
phân tích nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
4, Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Đầu tiên, chúng em phân tích khái quát lý luận về nền sản xuất hàng hóa và thị
trường. Từ đó, phân tích nền kinh tế Việt Nam qua từng giai đoạn phát triển cụ thể là
trước và sau Đổi mới. Cuối cùng, đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trị
của nền sản xuất hàng hóa.
AI.
Nội dung
1. Khái quát lý luận về nền sản xuất hàng hóa và thị trường (02 - 03
trang) 1.1 Nền sản xuất hàng hóa
a, Khái niệm:
Là Mơ hình tổ chức sản xuất kinh tế mà Sản phẩm được sản xuất để trao đổi, bán ra
thị trường
Như vậy, sản xuất hàng hóa có tác dụng quan trọng là:
-Phá vỡ sự bảo thủ, trì trệ, khép kín của hoạt động kinh tế
-Tạo điều kiện xây dựng nền sản xuất lớn, vì mở ra sản lượng
lớn b, Điều kiện tồn tại và phát triển:
*Phân cơng lao động xã hội đạt trình độ nhất định (ĐK về kinh tế - kỹ thuật)
- Khái niệm: Là sự phân chia nguồn lực lao động sản xuất của xã hội vào các
ngành kinh tế, theo hướng chuyên mơn hóa, tn theo các quy luật khách quan
- Tác dụng khi phân cơng LĐXH đạt trình độ cao: làm cho tính chun mơn
hóa sản xuất ngày càng cao, dẫn tới 02 hệ quả:
Thứ nhất, năng suất lao động tăn dẫn đến sản phẩm dư thừa nhiều, người sản
xuất không dùng hết dẫn đến trao đổi
Thứ hai, mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một số sản phẩm, mà nhu cầu lại cần
nhiều sản phẩm dẫn đến trao đổi
*Tồn tại sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa các nhà sản xuất (ĐK về kinh tế-xã hội)
- Khái niệm: Là sự độc lập về sở hữu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người SXKD
- Tác dụng của sự tách biệt về kinh tế giữa những nhà sản xuất là:Tạo nên sự sòng
phẳng, minh bạch trong hoạt động kinh tế. Khi đó, thị trường mua bán, trao đổi mới
tồn tại và phát triển
c, Mâu thuẫn cơ bản:
Là vừa tồn tại TÍNH CHẤT XÃ HỘI, vừa tồn tại TÍNH CHẤT TƯ NHÂN hay Còn gọi là
mâu thuẫn giữa LAO ĐỘNG XÃ HỘI với LAO ĐỘNG CÁ BIỆT
* Nền sản xuất hàng hóa có TÍNH CHẤT XÃ HỘI vì:
- Thứ nhất, sản phẩm được sản xuất ra để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
- Thứ hai, quá trình sản xuất 01 sản phẩm luôn là sự liên kết nhiều nhà sản xuất
*Nền sản xuất hàng hóa có TÍNH CHẤT TƯ NHÂN, CÁ BIỆT vì:
Mỗi chủ thể sản xuất kinh doanh là độc lập, tự chủ nên ý chí chủ quan của các nhà
đầu tư, chủ doanh nghiệp … sẽ chi phối các quá trình kinh tế, chi phối thị trường
*Tác dụng của mâu thuẫn giữa LAO ĐỘNG XÃ HỘI với LAO ĐỘNG CÁ BIỆT
- Thứ nhất, tạo nên động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển, vì mỗi nhà
đầu tư, chủ doanh nghiệp đều phải cố gắng tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu
xã hội
- Thứ hai, tạo nên rủi ro khủng hoảng kinh tế, khi ý chí chủ quan của các nhà đầu
tư, chủ doanh nghiệp… áp đặt quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh không phù
hợp xu thế của thị trường trong xã hội
d, Ưu thế:
Thứ nhất, khai thác được những ưu thế về tự nhiên, xã hội, kĩ thuật của từng
người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương.
Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất,
thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ ba, buộc những người sản xuất hàng hóa phải luôn năng động nhạy bén.
Thứ tư, làm cho giao lưu kinh tế văn hóa giữa các địa phương, các ngành ngày
càng phát triển.
Thứ năm, xóa bỏ tính bảo thủ trì trệ của nền kinh tế tự nhiên.
1.2 Thị trường (khái niệm, phân loại, các chủ thể tham gia thị trường)
a, Khái niệm
Theo nghĩa hẹp (xét về hình thức): Thị trường là nơi diễn ra hành vi mua bán, trao đổi.
VD chợ, cửa hàng, website ... Thị trường mang ý nghĩa là sự kết nối bên mua và bên
bán
Theo nghĩa rộng (xét về nội dung):Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan
đến lĩnh vực mua bán, trao đổi được hình thành trong điều kiện lịch sử, kinh tế, chính
trị xã hội nhất định bao hàm các quan hệ cung - cầu, cạnh tranh, hàng hóa - tiền tệ, giá
cả - giá trị …
b, Phân loại thị trường
Theo đối tượng hàng hóa: Thị trường Tư liệu sản xuất & Tư liệu tiêu dùng
Theo phạm vi địa lý: Thị trường địa phương, Thị trường quốc gia, Thị trường quốc tế
Theo sản phẩm: Có nhiều thị trường chuyên biệt riêng từng loại sản phẩm
Theo cách thức giao dịch: Thị trường giao dịch trực tuyến, Thị trường giao dịch trực
tiếp
Theo cơ chế vận hành: Thị trường tự do, Thị trường có Nhà nước điều tiết,
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, Thị trường độc quyền …
c, Các chủ thể tham gia thị trường:
Bốn chủ thể tạo nên không gian kinh tế là: nhà sản xuất, người tiêu dùng, các chủ
thể trung gian và nhà nước.
1.3 Cơ chế thị trường và Kinh tế thị trường
a, Cơ chế thị trường:
Khái niệm: Là hệ thống tự điều tiết các quan hệ kinh tế và cân đối kinh tế thông
qua các quy luật khách quan của thị trường
Đặc trưng của cơ chế thị trường:
- Thị trường tự điều tiết Giá cả hàng hóa
- Thị trường tự điều tiết sự phân bổ nguồn lực đầu tư
- Thị trường tự điều tiết sản lượng sản xuất và hệ thống phân phối sản
phẩm b, Nền kinh tế thị trường:
Khái niệm:
- Là nền KT hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, phát triển tới trình độ cao
- Trong đó, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều thông qua thị trường mua bán,
trao đổi và chịu sự điều tiết bởi các quy luật khách quan của thị trường
Đặc điểm của nền kinh tế thị trường:
- Nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu (cơng hữu, tư hữu, hỗn hợp)
- Nhiều loại thị trường khác nhau, và sự phân bổ nguồn lực giữa các thị trường là
do các quy luật của thị trường điều tiết
- Giá cả được hình thành do quy luật của thị trường (quy luật giá trị, cung-cầu, ..)
- Sự cạnh tranh lợi ích kinh tế là động lực quan trọng nhất
- Nhà nước là một chủ thể của nền kinh tế thị trường. Vai trò quan trọng nhất của Nhà
nước là kiến tạo môi trường vĩ mô, đảm bảo trật tự xã hội, an sinh xã hội
- Nền kinh tế mở, hội nhập
Hạn chế của nền kinh tế với cơ chế thị trường tự điều tiết:
- Xu thế thiếu hụt sản phẩm công cộng cho xã hội
- Xu thế khai thác tài ngun và phát thải gây ơ nhiễm ngồi tầm kiểm sốt
- Xu thế phân hóa XH sâu sắc do cạnh tranh, đào thải và phân phối chênh lệch
- Xu thế độc quyền hóa, lũng đoạn thị trường
- Xu thế đầu cơ và đầu tư nóng, phá vỡ cân đối vĩ mơ, gây khủng hoảng kinh tế
2. Vai trị và tác dụng của tiến trình đổi mới sang nền sản xuất hàng hóa
2.1 Giai đoạn trước đổi mới 1986
Trước Đổi Mới, cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam là cơ chế kế hoạch hoá tập trung
với những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa
trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp
hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ
tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn; định
giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương... đều do các cấp có thẩm quyền
quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp,
doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà
nước thu.
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp nhưng lại khơng chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp
lý đối với các quyết định của mình. Các doanh nghiệp khơng có quyền tự chủ sản xuất,
kinh doanh, cũng khơng bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh.
Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là
chủ yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thơng qua chế độ "cấp phát - giao nộp". Vì vậy, rất
nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất
quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động, vừa
sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại
được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động.
Và kết quả là sản xuất trong 5 năm 1976 -1980 chưa tương xứng với sức lao động và
vốn đầu tư bỏ ra; những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng; thu nhập
quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ
khơng ổn định; đời sống của nhân dân lao động cịn khó khăn. Lịng tin của quần chúng
đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút. Cụ thể, tình hình
kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, khủng hoảng
kinh tế -xã hội vẫn trầm trọng mà biểu hiện là: kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất
khơng có phát triển. Nếu tính chung từ năm 1976 đến 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng
50,5%, bình quân hàng năm chỉ tăng ở mức 4,6%; thu nhập quốc dân tăng 38,8%
bình quân hàng năm chỉ tăng 3,7%, trong khi tỷ lệ dân số tăng trung bình hàng năm
2,3%; khơng có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân
sản xuất chỉ bằng 80 - 90% thu nhập quốc dân sử dụng; siêu lạm phát hoành hành.
Suốt trong thời kỳ 1976-1985 chỉ số giá bán lẻ hàng hóa năm sau so năm trước luôn
tăng ở mức hai con số và giao động ở mức 19-92%. Năm 1986 lạm phát đạt đỉnh điểm
với tốc độ tăng giá 774,7% và đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu thốn.
2.2 Giai đoạn đổi mới sang nền sản xuất hàng hóa, từ 1986 về sau (03 – 04 trang)
Đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 đã quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn
diện đất nước, nhất là đổi mới về mặt tư duy kinh tế. Đường lối đổi mới của Đảng đã
tác động tích cực đến sự phát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ.
Trong công nghiệp, Quyết định 217 HĐBT tháng 11/1987 trao quyền tự chủ sản xuất
kinh doanh cho các doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế, lấy thu bù
chi, xóa dần bao cấp, giảm bớt các chỉ tiêu pháp lệnh, khuyến khích các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh mở rộng sản xuất để thu hút vốn đầu tư phát triển công
nghiệp. Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngồi với nhiều khoản ưu đãi được cơng bố;
đồng thời khuyến khích xuất khẩu đã làm cho mơi trường đầu tư thơng thống hơn,
góp phần tăng năng lực sản xuất ngành công nghiệp. Sản xuất của các ngành công
nghiệp then chốt đã phục hồi và tăng trưởng khá ổn định, hơn hẳn các thời kỳ trước
đó. Bình qn mỗi năm của kế hoạch 5 năm 1986-1990, sản lượng điện tăng 11,1%, xi
măng tăng 11,0%, thép cán tăng 8,0%, thiếc tăng 10%. Đáng chú ý là xuất hiện ngành
sản xuất mới: khai thác dầu thơ của cơng nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Sản lượng dầu thơ tăng từ 40 nghìn tấn năm 1986 lên 280 nghìn tấn năm 1987;
680 nghìn tấn năm 1988; 1,5 triệu tấn năm 1989 và 2,7 triệu tấn năm 1990.
Tuy nhiên, những thành tựu và khởi sắc của công nghiệp thực sự bắt đầu trong những
năm 90 (thế kỷ XX). Bình quân 5 năm 1991-1995 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cơng
nghiệp tồn ngành đạt 13,7%, vượt xa kế hoạch đề ra (7,5%-8,5%); trong đó khu vực kinh
tế Nhà nước tăng 15%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 10,6%. Trong 5 năm 1996-2000,
sản xuất công nghiệp nước ta tiếp tục phát triển ổn định và tăng trưởng với nhịp độ cao.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1996 tăng 14,2%, năm 1997 tăng 13,8%, 1998 tăng
12,1%, 1999 tăng 10,4% và năm 2000 tăng 17,5%. Nếu so với năm 1990,
giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 tăng gấp 6,5 lần, nhịp độ tăng trưởng bình quân
hàng năm đạt 14,3%. 6 tháng đầu năm 2005, giá trị sản xuất cơng nghiệp ước đạt
205,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó khu vực doanh
nghiệp Nhà nước tăng 9,7%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn tiếp tục duy trì
mức tăng cao 24,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tăng 13,9%.
Khơng chỉ tăng trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối của thập kỷ
90 đã xuất hiện xu hướng đa ngành, đa sản phẩm với sự tham gia của các thành
phần kinh tế quốc doanh, ngồi quốc doanh và cơng nghiệp có vốn FDI, trong đó
cơng nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trị chủ đạo.
Cơng nghiệp FDI do có lợi thế về máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại, có thị trường
xuất khẩu khá ổn định, lại được Nhà nước khuyến khích bằng các cơ chế chính sách
ngày càng thơng thống, nên trong những năm qua phát triển khá nhanh và ổn định
hơn hẳn khu vực công nghiệp trong nước. Tính đến nay đã có hơn 5.000 dự án đầu
tư nước ngồi cịn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 45 tỷ USD. Các doanh
nghiệp này đóng góp gần 15% GDP, chiếm hơn 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, đóng
góp 4,9% tổng thu ngân sách Nhà nước và tạo ra hàng vạn công ăn việc làm.
Thành tựu nổi bật và to lớn nhất của nông nghiệp trong 15 năm đổi mới là đã giải quyết
vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ
nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới liên tục từ
năm 1989 đến nay. Nếu sản lượng lương thực có hạt năm 1990 chỉ đạt 19,90 triệu tấn
thì đến năm 2004 đã tăng lên 39,32 triệu tấn. Như vậy, sau 15 năm, sản lượng lương
thực có hạt đã tăng thêm 19,4 triệu tấn, bình quân mỗi năm tăng thêm 1,29 triệu tấn.
Do sản xuất lương thực tăng nhanh, nước ta không những đã bảo đảm được nhu cầu
tiêu dùng trong nước mà còn dành khối lượng khá lớn cho xuất khẩu. Nếu năm 1989,
xuất khẩu được 1,42 triệu tấn gạo thì đến năm 2004 đạt 4,06 triệu tấn, đưa nước ta
vào hàng các nước đứng đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới. Ngành chăn nuôi cũng có
bước phát triển nhanh. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2004 so với năm 1990
tăng gấp 2,28 lần; nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 6,06%.
Với phương châm Việt Nam muốn làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước. Tính
tới tháng 7/2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, đưa
tổng số nước có quan hệ ngoại thương với nước ta từ 50 nước năm 1990 lên 170
nước năm 2000. Năm 2004, tổng mức lưu chuyển ngoại thương nước ta đạt 54,46 tỷ
USD (tăng gấp 11,34 lần so với mức 5,10 tỷ USD năm 1990); trong đó xuất khẩu 26,50
tỷ USD tăng 11,02 lần; nhập khẩu 31,95 tỷ USD, tăng gấp 11,61 lần. Nhịp độ tăng bình
quân hàng năm tổng mức lưu chuyển ngoại thương thời kỳ 1991-2004 đạt 18,94%
trong đó xuất khẩu 18,70%; nhập khẩu 19,14%.
Do kinh tế đạt mức tăng trưởng cao và liên tục nhiều năm liền nên đời sống vật
chất, văn hóa và tinh thần của dân cư được cải thiện rõ rệt.
3. Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của nền sản xuất hàng
hóa 3.1 Mục tiêu (01 - 02 trang)
Mặc dù từ Đại hội XI đã nhấn mạnh, vấn đề đổi mới mơ hình tăng trưởng, cơ cấu lại
nền kinh tế, coi hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là một trong ba đột phá
chiến lược…, nhưng nhiều năm đã trôi qua mà chủ trương ấy vẫn chưa đem lại thành
quả như mong muốn: Kinh tế vĩ mô tuy cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc, cịn
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế phục hồi còn chậm, việc thực hiện
tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, chuyển đổi mơ hình tăng trưởng gặp nhiều khó khăn và
chưa đáp ứng được yêu cầu. Những kết quả bước đầu của việc thực hiện ba đột phá
chiến lược chưa đủ để tạo ra sự chuyển biến về chất trong đổi mới mơ hình tăng
trưởng. Chất lượng tăng trưởng chưa thật sự được nâng cao và duy trì một cách bền
vững. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội cịn nhiều hạn chế, yếu kém. Cơng tác quản lý tài
ngun, mơi trường cịn nhiều bất cập. Cơng tác phịng, chống tham nhũng, lãng phí
chưa đạt u cầu, mục tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi. An ninh chính trị
vẫn cịn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định; bảo vệ chủ quyền quốc gia còn
nhiều thách thức; trật tự, an tồn xã hội vẫn cịn nhiều bức xúc
Do đó, mục tiêu tiên quyết của chúng ta hiện nay là xây dựng một nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa vững mạnh. Một nền kinh tế mà thị trường đóng
vai trị chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là động lực chủ
yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường, bảo đảm tự do kinh doanh
và thúc đẩy cạnh tranh; thiết lập và hoàn thiện cơ chế thị trường lành mạnh, minh bạch;
phát triển đầy đủ, đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường; các chủ thể thị
trường cạnh tranh bình đẳng; đặc biệt cần có sự bình đẳng trong cơ hội đầu tư, sản
xuất và kinh doanh đối với mọi chủ thể kinh tế, không phân biệt đối xử với cá nhân hay
tập thể, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước. Đi đơi với đó, ta cần phải
xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân
chủ, văn minh” gắn liền với đảm bảo an ninh quốc phòng.
3.2 Một số khuyến nghị (02 – 03 trang)
Để thực hiện mục tiêu trên em xin đưa ra một số khuyến
nghị a, Đối với nhà nước
Thứ nhất,không ngừng nâng cao nhận thức về KTTT định hướng XHCN. Phải thấy rõ,
KTTT là thành quả phát triển hàng nghìn năm của nhân loại và đạt được tốc độ phát
triển đột biến khi chuyển sang nền kinh tế dựa trên nền tảng công nghiệp cơ khí sản
xuất hàng loạt. Chỉ có phát triển KTTT ở trình độ cao, mới có thể hồn thành quá trình
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa với một cơ cấu kinh tế chun mơn hóa sâu dựa trên
lợi thế cạnh tranh. Sự nỗ lực đó chính là nhằm tăng năng suất lao động và chun
mơn hóa sản xuất là con đường tất yếu khách quan. Vấn đề là phải tìm được các
ngành có lợi thế cạnh tranh.
Thứ hai, khơng ngừng tạo ra các quy chế đảm bảo tính tổ chức và văn minh của các
giao dịch trên thị trường, nhất là về phương diện giảm thiểu chi phí và rủi ro cho các
chủ thể kinh tế, trong đó chú ý tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, cung cấp thông tin về
sản phẩm, kỷ luật hợp đồng và thanh tốn khơng dùng tiền mặt… Từng bước phát triển
các phương thức giao dịch phái sinh và hỗ trợ (giao dịch tương tác, bảo hiểm…).
Thứ ba,giảm thiểu can thiệp của Nhà nước vào giá cả để tăng cường điều tiết thông
qua các công cụ thị trường như doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh bình đẳng với các
loại hình doanh nghiệp khác; Nhà nước sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ, thương
mại quốc tế để điều tiết phân bổ nguồn lực và phân phối của cải xã hội...
Thứ tư,kiên quyết cải cách hành chính để có các cơ quan quản lý nhà nước trong
sạch, thủ tục quản lý đơn giản, dễ tiếp cận, cơng khai, đề cao trách nhiệm phục vụ và
giải trình của công chức. Trọng trách của Đảng là phải lãnh đạo thành công công cuộc
cải cách này và phải thu hút, đào tạo được các công chức trong sạch, tài năng, thích
hợp với chức trách được giao. Tạo cơ chế để nhân dân tăng cường giám sát đảng
viên, công chức (tổ chức các kênh thông tin cung cấp bằng chứng sai trái của cơng
chức, tổ chức bảo vệ có hiệu quả nhân chứng, tăng cường trách nhiệm phản biện của
công luận, nhất là báo chí, truyền thơng,…).
Thứ năm,tăng cường vị thế của đất nước trên thị trường thế giới bằng chính sách
đối ngoại mềm dẻo, bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia, dân tộc.
b, Đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, đẩy mạnh nghiên cứu thị trường nói riêng và nghiên cứu phát triển nói
chung.
Thứ hai , thực hiện chuyển đổi số trong doanh nghiệp một cách triệt để. Thông qua
chuyển đổi số doanh nghiệp có thể nắm được hành vi, kỳ vọng của khách hàng, của
người tiêu dùng để hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, cải tiến phương thức phân phối,
bảo hành, bảo trì sản phẩm, dịch vụ. Cũng qua dữ liệu, thơng tin được số hóa, doanh
nghiệp có thể nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản, nguồn nhân lực, tăng năng suất,
giám sát hiệu quả hơn quá trình sản xuất và bảo trì sản phẩm. Tăng hiệu suất sử dụng
tài sản và năng suất về lâu dài vẫn là yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Thứ ba, nghiên cứu và áp dụng các mơ hình kinh doanh mới để gia tăng sức
cạnh tranh.
c, Đối với người lao động
Thứ nhất, cần nâng cao trình độ cá nhân để nâng cao năng suất lao động.
Thứ hai, chấp hành tốt các quy định, kỷ luật của doanh nghiệp đưa ra để tạo nên 1
tập thể vững mạnh.
III, Kết luận
Trên cơ sở những nội dung đã phân tích ở trên có thể thấy rõ rằng nền sản xuất hàng
hóa đã có nhiều tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Nền sản xuất hàng hóa cùng
những hệ quả và ưu thế của nó đã đưa Việt Nam ra khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp trì
trệ trước đổi mới 1986. Đơng thời, nó thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam có những bước
phát triển vượt bậc về mọi mặt: GDP, quy mô nền kinh tế, cơ cấu kinh tế... Sản xuất
hàng hóa cũng góp phần không nhỏ giúp Việt Nam phát riển các loại thị trường ở mức
tương đối. Tuy nhiên, nước ta vẫn chưa tận dụng và phát huy được triệt để vai trò của
nền sản xuất hàng hoá để phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ
nghĩa, độc lập tự chủ, đồng bộ các loại thị trường nhằm đạt đến mục tiêu xã hội “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”. Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi nhà nước cần
có những phương hướng và biện pháp cụ thể, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà
nước với doanh nghiệp và người lao động. Chỉ như vậy mới có thể phát huy tối đa vai
trị của nền sản xuất hàng hóa , tăng sức cạnh tranh và khẳng định được vị thế của
Việt nam trên thị trường khu vực và thế giới.
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu
3. Phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Giới thiệu nội dung nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
1. Khái quát lý luận về nền sản xuất hàng hóa và thị trường
1.1 Nền sản xuất hàng hóa
1.2 Thị trường
1.3 Cơ chế thị trường và Kinh tế thị trường
2. Vai trị và tác dụng của tiến trình đổi mới sang nền sản xuất hàng hóa
2.1 Giai đoạn trước đổi mới 1986
2.2 Giai đoạn đổi mới sang nền sản xuất hàng hóa (từ 1986 về sau)
3. Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trị của nền sản xuất hàng hóa
3.1 Mục tiêu
3.2 Một số khuyến nghị
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lenin, nxb Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
2, Slide học phần kinh tế chính trị Mác-Lenin, thầy Ngô Quế Lân
3, Kinh tế-Xã hội, Cổng thông tin điện tử Nước CHXHCN Việt Nam
4, Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, Tạp chí Tun
giáo
5, Kinh tế Việt Nam chuyển mình ra sao? – Zingnews.vn
Phân công nhiệm vụ từng thành viên
Nguyễn Bá Duy: tìm hiểu và tổng hợp mục 2, 3 phần nội dung và phần kết luận
Đặng Thị Quỳnh : tìm hiểu và tổng hợp phần mở đầu và mục 1 phần nội dung + chép
tiểu luận.