Tải bản đầy đủ (.pdf) (34 trang)

PHÁP LUẬT đại CƯƠNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (677.86 KB, 34 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HĨA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ VĂN HĨA, NGHỆ THUẬT

TIỂU LUẬN MƠN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

ĐỀ TÀI

TUỔI KẾT HÔN VÀ CÁC
ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN
Tên Sinh Viên: Nguyễn Thị Quỳnh Mai
Lớp: 20DQLNT (15.3)
Khoa: Quản lý Văn hóa Nghệ thuật
Ngành: Tổ chức dàn dựng chương trình văn hóa nghệ thuật
Mơn: Pháp Luật Đại Cương
Giảng viên giảng dạy: Th.S Dương Thị Diệu Hiền
Thời gian tiến hành: Từ ngày 27 tháng 5 năm 2021
đến ngày 4 tháng 6 năm 2021

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021


2

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 3
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................................... 4
2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................................................. 5
3. Yêu cầu và nhiệm vụ của đề tài.............................................................................................. 5
4. Kết cấu của đề tài .................................................................................................................... 5
PHẦN NỘI DUNG ...................................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TUỔI KẾT HÔN VÀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN .... 6


1.1.Khái niệm tuổi kết hôn và điều kiện của kết hôn ........................................................... 6
1.1.1 Khái niệm tuổi kết hôn .............................................................................................. 6
1.1.2 Khái niệm điều kiện của kết hôn............................................................................... 6
1.2. Tuổi kết hôn ...................................................................................................................... 7
1.2.1. Cơ sở quy định về độ tuổi ......................................................................................... 7
1.2.2. Độ tuổi kết hôn theo Luật năm 2000 ....................................................................... 8
1.2.3. Độ tuổi kết hôn theo Luật năm 2014 ....................................................................... 9
1.3. Điều kiện kết hôn.............................................................................................................. 9
1.3.1. Điều kiện về độ tuổi kết hôn ..................................................................................... 9
1.3.2. Điều kiện về sự tự nguyện kết hôn ......................................................................... 11
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ ĐỘ TUỔI KẾT HÔN VÀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN .......... 20
2.1. Thực tiễn thực hiện về độ tuổi kết hôn và điều kiện kết hôn ..................................... 20
2.1.1. Về độ tuổi kết hôn ................................................................................................... 20
2.1.2. Về năng lực hành vi dân sự .................................................................................... 25
2.1.3. Về phạm vi cấm kết hôn ......................................................................................... 26
2.1.4. Về thủ tục đăng ký kết hôn..................................................................................... 27
2.2. Những bất cập của độ tuổi kết hơn ............................................................................... 29
2.2.1. Về xử phạt hành chính ............................................................................................ 29
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GĨP PHẦN HỒN THIỆN LUẬT KẾT HÔN ....................... 30
3.1. Kiến nghị pháp luật về tuổi kết hôn và điều kiện kết hôn .......................................... 30
3.1.1. Kiến nghị về độ tuổi kết hôn................................................................................... 30
3.2. Kiến nghị quy định của pháp luật về các trường hợp không đủ điều kiện kết hôn . 31
3.2.1. Về kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ ........................................ 31
3.2.2. Về năng lực hành vi dân sự trong kết hôn ............................................................ 32
3.2.3. Về vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới tính ......................................... 32
KẾT LUẬN ................................................................................................................................ 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................ 33


3


PHẦN MỞ ĐẦU
Mỗi con người trên thế giới này ai sinh ra và lớn lên cũng phải trải qua
sinh, lão, bệnh, tử thì mới có thể trải nghiệm được trọn vẹn một cuộc đời.
Nếu thiếu đi một thứ thì cuộc sống chưa được trọn vẹn và cũng chưa nếm
được hương vị đầy đủ của cuộc sống. Trong cuộc sống đó, khơng bao giờ
chúng ta có thể tồn tại một cách độc lập và khơng có sự gắn kết với một ai
cả hay nói cách khác là chúng ta khơng sống một mình. Lúc nhỏ chúng ta
sống với cha mẹ, ơng bà, chúng ta có bạn bè chơi chung chúng ta gắn kết với
bạn bè. Những mối quan hệ mà chúng ta thiết lập luôn tỉ lệ thuận với thời
gian, thời gian trơi qua càng ngày càng nhiều thì các mối quan hệ đó được
xác lập ngày càng nhiều. Và sự gắn kết giữa chúng ta và các chủ thể khác
trong mối quan hệ đó tùy theo những mối quan hệ có tính chất đặc biệt được
gọi là hơn nhân.
Khi quan hệ hôn nhân được xác lập sẽ làm nảy sinh rất nhiều điều ý
nghĩa, bởi vì hơn nhân chính là nền tảng của việc hình thành nên gia đình.
Mà bản chất cấu tạo của xã hội chính là gia đình, gia đình là một xã hội thu
nhỏ và gia đình chính là tế bào để hình thành nên xã hội. Gia đình được hình
thành nên từ nền tảng hơn nhân và hơn nhân phát sinh sau khi có một sự kiện
được gọi là “kết hôn”. Kết hôn là việc thường tình của nam nữ khi đến độ
tuổi nhất định từ thời xa xưa đến giờ. Minh chứng là ngay từ xưa ơng bà ta
đã có câu tục ngữ: “trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”. Và ngày nay, kết
hôn được xem là quyền thiêng liêng của mỗi cá nhân. Nhưng quan niệm kết
hôn mỗi thời kỳ lại mỗi khác. Trước khi có sự xuất hiện của Luật hơn nhân
và gia đình năm 2000, nam nữ chỉ cần chung sống như vợ chồng thì đã được
cơng nhận là vợ chồng và mối quan hệ giữa họ được gọi là “hôn nhân thực
tế”. Trong thời kỳ này nam nữ chỉ cần tổ chức lễ cưới theo phong tục hoặc


4


theo nghi thức tơn giáo thì họ được xem như là đã kết hơn. Nhưng từ khi có
sự xuất hiện của Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 và sau đó là Luật hơn
nhân và gia đình năm 2014 thì việc kết hơn của nam nữ phải được đăng ký
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được nhà nước công nhận và
bảo vệ. Nhưng để được đăng ký kết hơn thì người đăng ký đó phải đảm bảo
được những điều kiện nhất định mà pháp luật đã quy định. Để việc đăng ký
kết hôn là hợp pháp thì người đăng ký kết hơn phải đảm bảo những điều kiện
nhất định đã được luật định. Nhưng không phải ai cũng nắm rõ và hiểu rõ về
những điều kiện này. Chính vì lý do đó mà tơi đã chọn đề tài “Tuổi kết hôn
và điều kiện kết hôn” để làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận kết thúc mơn
học của mình, để giúp mọi người hiểu rõ hơn và nắm bắt được những quy
định của pháp luật về điều kiện kết hơn. Trong q trình nghiên cứu khó
tránh mắc phải những sai sót, kính mong cơ góp ý để em có thể sữa chữa và
hồn chỉnh đề tài một cách tốt hơn. Em xin chân thành cám ơn Cơ!
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân là cơ sở của
gia đình - tế bào của xã hội, quan hệ HN&GĐ thể hiện tính chất và kết
cấu của xã hội. Gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới
tốt. Việc ổn định và bảo vệ các quan hệ HN&GĐ là vô cùng quan trọng
và cần thiết. Do đó, hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh trong
lĩnh vực HN&GĐ không những phải đáp ứng được định hướng pháp luật
mà còn phải phù hợp với thực tiễn xã hội. Qua bao nhiêu năm Luật
HN&GĐ năm 2000 đi vào cuộc sống đã góp phần xây dựng và hoàn thiện
chế độ HN&GĐ Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc, phát huy được những giá
trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngày nay, đất nước có nhiều sự thay
đổi, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân không ngừng
được phát triển, các quan hệ HN&GĐ cũng có những thay đổi đáng kể,
luật HN&GĐ năm 2000 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế gây khó khăn
cho người dân cũng như cơ quan thực thi pháp luật.



5

Tình trạng kết hơn ở độ tuổi chưa đủ tuổi kết hôn và chưa đủ điều kiện
kết hôn là một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội nước ta và ngày nay
có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước
đang trong quá trình đẩy mạnh nền cơng nghiệp hóa hiện đại hóa, thực
hiện chính sách mở cửa giao lưu văn hóa với tất cả các quốc gia trên thế
giới, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi không nhỏ tới
quan điểm về tình u và hơn nhân, lối sống tự do, phóng túng, thiếu suy
nghĩ của những bạn trẻ khi chưa đủ tuổi kết hơn và những tình trạng chưa
đủ điều kiện kết hôn. Việc chưa đủ tuổi kết hôn và chưa đủ điều kiện kết
hôn thể hiện dưới các dạng hình thức khác nhau đã tạo ra nhiều hậu quả
không tốt đối với đời sống xã hội hiện nay.
2. Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tuổi kết hôn và điều kiện kết hơn,
nghiên cứu phân tích nội dung.
- Thực tiễn về pháp luật độ tuổi kết hôn và điều kiện kết hơn.
- Kiến nghị góp phần hồn thiện về điều kiện kết hôn và độ tuổi kết hôn.
3. Yêu cầu và nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kết hơn, từ đó làm rõ điều kiện
kết hôn.
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất .
- Nghiên cứu về pháp luật hiện hành .
- Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng vấn đề luận văn đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề
này dưới góc độ pháp luật.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và

phần mục lục, tiểu luận kết cấu gồm 3 chương:


6

Chương 1: Lý luận cơ bản của tuổi kết hôn và điều kiện kết hôn.
Chương 2: Thực tiễn về độ tuổi và điều kiện kết hôn.
Chương 3: Kiến nghị pháp luật về tuổi kết hôn và điều kiện kết hôn.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TUỔI KẾT HƠN VÀ ĐIỀU
KIỆN KẾT HƠN
1.1.Khái niệm tuổi kết hơn và điều kiện của kết hôn
1.1.1 Khái niệm tuổi kết hôn
Theo định nghĩa của Từ điển luật học thì tuổi kết hôn là “độ tuổi pháp
luật quy định cho phép nam nữ được quyền kết hơn”. Tuổi kết hơn cũng có
nghĩa là tuổi mà một người được phép lấy chồng, lấy vợ cũng như quyền làm
cha, mẹ. Độ tuổi kết hôn ở mỗi nước được quy định khác nhau, nhìn chung
thì độ tuổi kết hôn ở nhiều quốc gia là 18 tuổi, tuy nhiên nhiều nước quy định
độ tuổi được phép kết hôn sớm hơn. Ở Việt Nam theo quy định tại Điều 8
Luật Hơn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hơn thì nữ từ đủ 18 tuổi trở
lên và nam từ đủ 20 tuổi trở lên thì được kết hôn.
1.1.2 Khái niệm điều kiện của kết hôn
Chức năng tái sản xuất ra con người là chức năng quan trọng nhất của
gia đình để duy trì xã hội lồi người. Khởi nguồn của gia đình là sự xác lập
quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới, được nhà nước tôn trọng và bảo
vệ. Xét về mặt lý luận, nếu xem gia đình là nền tảng của xã hội thì điều kiện
kết hơn chính là yếu tố pháp lý cơ sở để xây dựng nền tảng này. Điều kiện
kết hôn được quy định trong luật và cũng bị tác động bởi nền kinh tế, khi xã
hội có những biến đổi mà quy định về điều kiện kết hôn khơng cịn phù hợp

nữa thì phải có sự thay đổi hợp lý. Các quy định về điều kiện kết hôn về tổng
thể cũng góp phần hạn chế các tệ nạn như tảo hôn, kết hôn không dựa trên


7

tinh thần tự nguyện hay kết hôn với những người khơng đủ điều kiện kết
hơn; góp phần xây dựng xã hội vững mạnh, nguồn nhân lực dồi dào và chất
lượng.
Tóm lại, việc quy định điều kiện kết hơn là hồn toàn cần thiết, phù
hợp với xu hướng phát triển, nhu cầu cần thiết của xã hội; phù hợp với chủ
trương, chính sách và đường lối của Đảng.
1.2. Tuổi kết hơn
1.2.1. Cơ sở quy định về độ tuổi
Cơ sở khoa học
Xét trên phương diện phát triển về sinh lý: Như chúng ta đã biết một
trong những chức năng quan trọng của gia đình là duy trì nịi giống, theo
nghiên cứu khoa học cho thấy thì nam từ 16 tuổi nữ từ 13 tuổi trở lên đã có
khả năng sinh sản, dân gian ta cũng có câu “ nữ thập tam, nam thập lục” để
chỉ đến vấn đề độ tuổi của nam và nữ có khả năng sinh đẻ. Tuy nhiên đây
chỉ là tuổi chứng minh được nam nữ đã có khả năng sinh đẻ, còn để đảm bảo
cho sức khỏe của đứa trẻ khi sinh ra cũng như sức khỏe của cả người mẹ và
người bố thì độ tuổi sinh đẻ của nam là từ đủ 20 tuổi trở lên, và nữ là từ đủ
18 tuổi trở lên. Những cặp nam, nữ sinh con trước tuổi kết hơn thì những đứa
trẻ sinh ra trong những trường hợp này mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, sức
đề kháng yếu, ngay bản thân người mẹ sinh con trong giai đoạn dưới tuổi kết
hôn thì sức khỏe cũng khơng được đảm bảo dễ mắc các bệnh viêm nhiễm
phụ khoa… Như vậy việc sinh con dưới tuổi kết hôn theo luật định gặp nhiều
rủi ro cho cả đứa trẻ sinh ra và người mẹ. Theo nghiên cứu về sức khỏe sinh
sản, phụ nữ sinh con trước 18 tuổi và sau 34 tuổi thường gặp nguy cơ cao

trong quá trình mang thai, sinh nở như dễ sẫy thai, sinh non, bang huyết, dị
tật thai nhi… Phụ nữ nên sinh con ở độ tuổi từ 24 đến 29 tuổi, độ tuổi này
phụ nữ có sức khỏe sinh sản tốt nhất và cơ thể đã phát triển toàn diện.


8

Xét trên phương diện tâm lý: Khi nam nữ đã đạt độ tuổi trưởng thành,
về cơ bản suy nghĩ đã chín chắn, hạn chế được sự bồng bột nhất thời, nghiêm
túc trong hành động và có những quyết định đúng đắn trong kết hôn. Như đã
nêu ở trên nam ở độ tuổi đủ 20 tuổi và nữ đủ 18 tuổi được coi về cơ bản đã
phát triển tương đối đầy đủ về trí tuệ và sức khỏe, khi đó hai bên nam nữ có
thể lựa chọn và quyết định việc kết hôn. Hơn nữa ở độ tuổi này hai bên nam,
nữ về cơ bản đã tự tạo lập cuộc sống cho bản thân, khơng bị phụ thuộc vào
gia đình, tự tạo lập cho mình cuộc sống gia đình mới.
Cơ sở thực tiễn
Nhìn chung nước ta với nhiều vùng nơng thơn và dân tộc thiểu số, ở
các vùng miền này tỉ lệ nam nữ kết hơn lập gia đình sớm hơn so với các khu
đô thị, thành phố. Theo số liệu thống kê, khảo sát cho thấy ở các vùng nông
thôn, vùng dân tộc thiểu số tỉ lệ kết hôn dưới tuổi luật định đang còn chiếm
tỉ lệ cao. Hiện nay độ tuổi kết hơn trung bình của nữ là từ 16 đến 18, nam từ
18 đến 21 tuổi, ở độ tuổi này nam nữ kết hơn chiếm 50%. Do đó vấn đề độ
tuổi kết hôn tối thiểu của nam nữ cần xem xét trên nhiều khía cạnh, đặc biệt
là về các phong tục tập quán ở các vùng miền. Về vấn đề này có nhiều quan
điểm cho rằng nên hạ thấp tuổi kết hôn tối thiểu của nam và nữ cho phù hợp
với tập quán ở các vùng miền và tránh nạn tảo hôn ở các vùng dân tộc thiểu
số.
1.2.2. Độ tuổi kết hôn theo Luật năm 2000
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 nam nữ kết hôn với nhau phải tuân
theo các điều kiện sau đây:

-Nam từ 20 trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên.
-Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được
ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
-Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn.


9

1.2.3. Độ tuổi kết hôn theo Luật năm 2014
Theo Điều 8 Luật Hơn nhân và gia đình 2014 quy định điều kiện về
độ tuổi kết hôn:
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo
quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
1.3. Điều kiện kết hôn
1.3.1. Điều kiện về độ tuổi kết hôn
Độ tuổi là thước đo cho sự phát triển của con người, đảm bảo khả năng
họ có thể thực hiện sứ mạng của mình là xây dựng gia đình và phát triển xã
hội. Tuổi kết hôn được hiểu là tuổi mà một người được phép lấy chồng/vợ
cũng như quyền làm hoặc buộc phải làm cha mẹ hoặc các hình thức khác
đồng thuận khác. Độ tuổi và các yêu cầu khác nhau ở mỗi nước, nhìn chung
thì độ tuổi kết hơn là 18 tuổi ở nhiều quốc gia, tuy nhiên nhiều nước cho
phép độ tuổi kết hơn sớm hơn nếu có sự đồng ý của cha/mẹ hoặc luật pháp,
hoặc trong trường hợp mang thai (nữ). Độ tuổi kết hôn không chỉ căn cứ vào
khả năng sinh sản của nam, nữ mà còn đảm bảo cho việc xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Đồng thời đảm bảo cho con

cái sinh ra được khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ, có thể phát triển tốt để
trở thành cơng dân có ích cho xã hội. Con người chỉ khi đạt đến độ tuổi nhất
định mới có suy nghĩ đúng đắn và nghiêm túc trong việc kết hôn của mình.
Hơn nữa, khả năng tham gia vào quá trình lao động tạo ra thu nhập khi mà
con người đạt đến độ tuổi nhất định. Điều đó đảm bảo cho họ có cuộc sống


10

độc lập về kinh tế, chín muồi về tâm lý, đầy đủ ý thức xã hội để thực hiện
các chức năng của gia đình và duy trì tế bào của xã hội. Quan niệm của người
xưa cho rằng nữ thập tam, nam thập lục nghĩa là nữ 13 tuổi, nam 16 tuổi là
đủ tuổi kết hơn. Tuy nhiên thì quan niệm ngày nay khi xã hội phát triển đã
có sự thay đổi, cụ thể là theo khoản 1 điều 9 Luật Hơn nhân và gia đình quy
định, tuổi kết hơn của nam là từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi
trở lên. Theo quy định này thì “không bắt buộc nam phải đủ từ hai mươi tuổi
trở lên, nữ phải đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hơn; do đó nam đã
bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không
vi phạm điều kiện về độ tuổi” (mục 1 điểm a Nghị quyết số 02/2000/NQ HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2000). Ví dụ như anh A
sinh ngày 30/08/1994 thì đến ngày 30/08/2013 là trịn 19 tuổi, bắt đầu từ sau
ngày 30/08/2013 là coi như anh A đã bước sang tuổi 20, lúc này nếu như anh
A kết hôn thì khơng bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn. Các trường hợp vi
phạm về độ tuổi kết hôn sẽ bị xử lý hành chính theo như Nghị định số
110/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp,
hơn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã;
cụ thể là điều 47 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định Hành vi tảo hôn, tổ
chức tảo hôn “1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000
đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết

hôn.
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý
duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hơn mặc
dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.” hoặc
có thể bị xử lý hình sự theo điều 148 BLHS quy định về tội tổ chức tảo
hôn,tội tảo hơn “Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt
hành chính về hành vi này mà cịn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo


11

không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:a) Tổ
chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn;b) Cố ý duy trì
quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hơn mặc dù đã
có quyết định của Tồ án buộc chấm dứt quan hệ đó.”
1.3.2. Điều kiện về sự tự nguyện kết hôn
Theo từ điển tiếng Việt thì “Tự nguyện” là tự mình muốn làm, tự mình
muốn như thế, khơng ai bắt buộc. Vậy tự nguyện của nam, nữ trong kết hôn
được hiểu là mong muốn xuất phát từ ý chí của cả hai, tự mình quyết định
việc kết hơn và thể hiện ý chí muốn trở thành vợ chồng. Kết hơn phải dựa
trên ý chí của nam, nữ mà không bị tác động bởi bất cứ người nào khiến họ
phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Hai bên nam nữ mong muốn trở
thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là
cùng nhau xây dựng gia đình. Sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong việc
kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau
chung sống suốt đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai người. Sự tự
nguyện là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài và
bền vững. Sự tự nguyện trong kết hôn thường được thể hiện ở việc cùng nhau
đi đăng ký kết hôn.
Pháp luật quy định việc kết hơn phải có sự tự nguyện của cả hai bên

nam nữ là nhằm bảo đảm cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi
kết hôn. Sở dĩ pháp luật quy định vậy là xuất phát từ quyền con người được
cơng nhận trên tồn thế giới trong Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của
Liên hợp quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948, cụ thể là điều 16 “Ðiều 16:
1. Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hơn và lập gia đình,
mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tơn giáo. Nam nữ đều
có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hơn.
2. Hơn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và
đồng ý thật sự.”


12

Sự tự nguyện này phải được thể hiện bởi ý chí của một người có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự và đang trong tình trạng hồn tồn tỉnh táo. Do
đó, đối với những người bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh lý nào đó mà
khơng có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và bị tòa án tuyên
bố là mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cũng cấm kết hơn. Trong
trường hợp người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng bị chấn động về
thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì họ cũng tạm thời không
được đăng ký kết hôn cho đến khi hồi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn
tỉnh táo.
Để đảm bảo việc kết hơn hồn tồn tự nguyện thì pháp luật cũng có
một số quy định như sau:
Thứ nhất, những người muốn kết hơn phải cùng có mặt tại cơ quan
đăng ký kết hôn nộp tờ khai đăng ký kết hôn. Trong trường hợp đặc biệt, nếu
một người vắng mặt do lý do chính đáng thì có thể gửi cho UBND nơi đăng
ký kết hôn đơn in nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn nêu rõ lý do vắng mặt, có
xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú. Đến ngày UBND tiến hành đăng ký
kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hơn thì đơi nam nữ phải có mặt để một

lần nữa, cả hai trả lời trước cán bộ hộ tịch và đại diện cơ quan đăng ký kết
hôn ràng, đến lúc bấy giờ họ vẫn hoàn toàn tự nguyện kết hôn với nhau.

Thứ hai, pháp luật không cho phép cử người đại diện trong việc đăng
ký kết hôn đồng thời cũng không cho phép những người kết hôn vắng mặt
tại lễ đăng ký két hôn. Thông thường, lễ đăng ký kết hôn của công dân Việt
Nam với nhau được tiến hành tại UBND cấp xã. Tuy nhiên, đối với khu vực
miền núi, vùng sâu, vùng xa mà điều kiện đi lại q khó khăn thì lễ đăng ký
kết hơn được tổ chức tại thơn, bản, phum, sóc nơi cư trú của một trong hai
người (điều 8 Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ
quy định việc áp dụng Luật hơn nhân và gia đình đối với dân tộc thiểu số).


13

Trong thực tế thì cũng có trường hợp vì lý do khách quan hay chủ quan khi
tổ chức đăng kí kết hơn chỉ có một bên nam hoặc nữ thì việc kết hôn vẫn
được công nhận là hợp pháp khi “trước khi tổ chức đăng ký kết hôn đã thực
hiện đúng quy định tại khoản 1 điều 13 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn
họ thực sự về chung sống với nhau” (Mục 2 điểm c Nghị quyết số
02/20002/NĐ-HĐTP).

Thứ ba, pháp luật quy định việc kết hôn phải khơng có hành vi cưỡng
ép kết hơn, lừa dối để kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ.
Do đó, những trường hợp kết hơn do cưỡng ép, bị lừa dối đều coi là kết hôn
trái pháp luật. Bên cạnh đó, nhà nước cũng đảm bảo sự tự nguyện bằng cách
có chế tài hình sự đối với những hành vi vi phạm sự tự nguyện tiến bộ của
việc kết hôn mà cụ thể là điều 146 BLHS quy định Tội cưỡng ép kết hôn
hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ như sau: “Người nào cưỡng ép
người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hơn

hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược
đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này mà cịn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”
Người kết hôn không mất năng lực hành vi dân sự
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 thì
người kết hơn phải là người khơng bị mất năng lực hành vi dân sự. Điều kiện
để coi một người bị mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại khoản 1
Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể
nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi
ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên


14

bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám
định pháp y tâm thần.
Khi khơng cịn căn cứ tun bố một người mất năng lực hành vi dân
sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên
quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết
định tuyên bố năng lực hành vi dân sự.
Như vậy nếu một người mà bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác
làm mất đi khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì khi bị tịa án
ra quyết định tun bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự theo
yêu cầu của người có thẩm quyền, lợi ích hoặc theo yêu cầu của cơ quan, tổ
chức hữu quan thì người đó khơng đủ điều kiện để kết hôn.
Sở dĩ pháp luật quy định người mất năng lực hành vi dân sự thì khơng
được phép kết hơn xuất phát từ tính nhân đạo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp vợ chồng, của cải con cái và của các thành viên khác trong gia đình.

Bởi vì sau khi kết hơn thì họ phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm, nghĩa
vụ của người cha, người mẹ đối với các con của mình. Vì thế nếu một người
mất năng lực hành vi dân sự mà được phép kết hơn thì sau khi kết hơn họ
khơng thể hồn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của mình phát sinh do việc
kết hơn. Nếu cho họ được phép kết hơn thì sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng
đến quyền lợi của vợ hoặc chồng họ và con cái của họ. Mặt khác nếu một
người mất năng lực hành vi dân sự mà kết hơn thì việc kết hơn của họ khơng
thể nào mà xác định được là họ có tự nguyện kết hơn hay khơng. Bởi vì họ
khơng có khả năng nhận thức, khơng có khả năng làm chủ hành vi của mình
thì sự thể hiện mong muốn tự nguyện kết hơn của họ cũng là bất khả thi.
Chính vì thế mà mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn.
Nhưng trong thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp người mất năng lực
hành vi dân sự những vẫn chưa bị tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi
dân sự từ những bên có liên quan. Như vậy khi có người tự nguyện kết hơn


15

với người này thì phải giải quyết như thế nào? Xét về mặt lý luận thì khơng
thể chấp nhận u cầu đăng ký kết hơn trong trường hợp này. Vì người mất
năng lực hành vi dân sự không thể hiện ý chí của mình đối với sự tự nguyện
kết hơn nên họ không đủ điều kiện để được kết hôn.
Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn
Theo quy định tại điểm d Điều 8 và khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ
năm 2014 thì có 4 trường hợp cấm kết hơn.
a. Kết hơn giả tạo
Theo sự giải thích từ ngữ tại khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
thì kết hơn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú,
nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của
Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà khơng nhằm mục đích xây

dựng gia đình.
Mục đích chính của hai bên nam nữ khi kết hôn và xác lập quan hệ
hơn nhân chính là cùng xây dựng gia đình, thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa
vợ chồng. Và sau khi kết hơn thì vợ chồng sẽ thực hiện các chức năng của
gia đình như chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế.
Nhưng mục đích chính của việc kết hơn giả tạo lại hướng đến việc lợi dụng
kết hôn để hưởng chế độ ưu đãi từ nhà nước hoặc nhằm các mục đích khác
khơng phải là mục đích xây dựng gia đình. Chính vì thế mà pháp luật nghiêm
cấm việc kết hôn giả tạo để duy trì tính chất tốt đẹp của hơn nhân, để tránh
việc hôn nhân biến thành phương tiện hưởng lợi của một bộ phận người.
Việc kết hôn giả tạo thuộc trường hợp cấm kết hơn. Để giải quyết thiếu sót
trên thì trong Luật HN&GĐ năm 2014 đã quyết định kết hôn giả tạo là một
trong những trường hợp cấm kết hôn tại được quy định tại điều 8 của Luật
này.
Như vậy khi tiến hành đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ đăng ký
kết hôn mà cơ quan đăng ký kết hơn có cơ sở để cho rằng việc kết hơn đó là


16

giả tạo nhằm mục đích khác ngồi mục đích xây dựng gia đình thì có quyền
từ chối đăng ký kết hôn cho họ. Và theo quy định tài Điều 10 Luật HN&GĐ
năm 2014 thì đối với những trường hợp đã đăng ký kết hơn mà có cơ sở cho
rằng việc hủy việc kết hơn giả tạo, thì theo u cầu của những người có quyền
tịa án sẽ hủy vệc kết hơn trái pháp luật trên.
b. Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hơn
Hơn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân
gia đình của Việt Nam và được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2 Luật HN&GĐ
năm 2014. Để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc này cần phải có quy định
cụ thể nhằm xóa bỏ chế độ đa thê đã tồn tại trước đó. Kể từ khi ra đời Luật

HN&GĐ năm 1959 đã được công nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng và quy định về cấm kết hôn đối với những người đang có vợ hoặc
đang có chồng.
Người đang có vợ hoặc có chồng được hiểu là những người đã kết hôn
với một người khác theo đúng quy định của pháp luật mà quan hệ của họ
chưa chấm dứt do một bên chết hoặc một bên do tòa án tuyên bố là đã chết
hoặc do ly hôn. Đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ
chồng trước ngày 3/1/1987 và đang chung sống như vờ chồng mà không
đăng ký kết hôn được xác định là người đang có vợ hoặc chồng.
Đối với những người đã kết hôn mà việc kết hôn của họ vi phạm điều
kiện kết hơn thì việc kết hơn của họ là trái pháp luật và họ không phải là vợ
chồng trước pháp luật. Như vậy đối với những người kết hôn trái pháp luật
họ khơng được xem là đang có vợ hoặc có chồng và vì thế họ khơng thuộc
trường hợp cấm kết hơn. Nhưng chỉ khi có quyết định của tịa án hủy việc
việc hơn trái pháp luật của họ có hiệu lực thì họ mới có quyền đăng ký kết
hơn với người khác. Theo đó cơ quan đăng ký kết hơn có quyền từ chối đăng
ký kết hơn cho họ khi chưa có quyết định hủy việc kết hơn trái pháp luật của
tòa án.


17

Đối với trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trong thời điểm
từ ngày 3/1/1987 đến nay mà không đăng ký kết hơn thì pháp luật khơng
cơng nhận họ là vợ chồng và đương nhiên họ không thuộc trường hợp cấm
kết hơn và họ có quyền đăng ký với người khác mà không bị cơ quan đăng
ký kết hôn từ chối. Nhưng thực tế khi đăng ký kết hôn cho cán bộ hộ tịch
gặp phải sự ngăn cản hoặc đe dọa từ phía người đã hoặc đang chung sống
như vợ chồng với người có u cầu tịa án xem xét và tuyên bố không công
nhận hai bên chung sống là vợ chồng. Theo đó ta thấy quyết định của tịa án

chính là cơ sở pháp lý để một trong hai bên chung sống như vợ chồng có
quyền được kết hôn với người khác. Mặc dù chế độ hôn nhân của Việt Nam
là hôn nhân một vợ một chồng nhưng trên thực tế nước ta vẫn còn tồn tại
một chồng hai vợ hoặc một vợ hai chồng. Ở đây chính là trường hợp cán bộ,
bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc (năm
1954) lại lấy vợ hoặc chồng khác. Theo hướng dẫn của thơng tư số 60/TATC
ngày 22/2/1987 của Tịa án nhân dân tối cao về hướng dẫn giải quyết tranh
chấp về hơn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ có chồng trong Nam,
tập kết ra Bắc lấy vợ hoặc lấy chồng khác thì đây là trường hợp đặc biệt và
quyền và lợi ích của tất cả các bên đều được pháp luật bảo vệ.
Trong thực tế, hiện nay vẫn có nhiều trường hợp người đang có vợ
hoặc có chồng chung sống như vợ chồng với người khác một cách công khai
hoặc lén lút và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ của
một gia đình, gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Luật HN&GĐ có quy định
cấm người đang có vợ hoặc có chồng sống chung với người khác như vợ
chồng nhưng lại thiếu cơ chế giám xác và xử lý đối với các trường hợp vi
phạm. Vì thế cần có các biện pháp để xử lý các trường hợp trên.
c. Cấm những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người có họ
trong phạm vi ba đời kết hơn với nhau
Quy định trên xuất phát từ kết quả nghiên cứu khoa học về huyết học
và khảo sát thực tế nhằm đảm bảo sức khỏe cho con của vợ chồng được sinh


18

ra khỏe mạnh không mắc phải các bệnh tật và dị dạng do quan hệ tính giao
cận huyết gây ra. Và nguyên tắc trên cũng xuất phát từ việc đảm bảo phong
tục, tập quán và thuần phong mỹ tục.
Theo sự giải thích từ ngữ tại Khoản 17 Điều Luật HN&GĐ năm 2014
thì những người cùng dịng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết

thống, trong đó, người nảy sinh ra người kia tiếp nhau. Như vậy theo quy
định của pháp luật thì những trường hợp cấm kết hôn ở đây bao gồm: cha,
mẹ với con, ông bà với cháu nội, cháu ngoại, cụ với các cháu chắt nội,
ngoại,…
Và theo sự giải thích từ ngữ tại Khoản 18 Điều 3 Luật HN&GĐ năm
2014 thì những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một
gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất, anh, chị, em cùng cha, mẹ, cùng cha
khác mẹ, cùng mẹ khác cha đời thứ hai, anh, chị, em con chú, con bác, con
cơ, con cậu, con dì đời thứ ba. Theo đó các trường hợp cấm kết hơn ở đây
bao gồm: anh chị em ruột với nhau; bác ruột, cậu ruột, chú ruột với cháu gái;
cơ ruột, dì ruột với cháu trai; anh chị em con chú, con bác, con cơ, con dì,
con cậu với nhau.
d. Cấm người là cha hoặc mẹ nuôi với con nuôi hoặc người đã từng là
cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể,
cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng kết
hôn với nhau.
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định đây là trường hợp cấm kết hơn
nhằm mục đích ổn định các mối quan hệ trong gia đình và ngăn chặn hiện
tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc mà có thể xảy ra hành vi cưỡng ép kết
hôn. Quy định này nhằm đảm bảo vấn đề đạo đức và thuần phong mỹ tục
trong quan hệ hơn nhân và gia đình.


19

Những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi là những người
trước đây đã tồn tại quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp nhưng việc nuôi con
nuôi của họ đã được tòa án ra quyết định chấm dứt.
Những người đã từng là cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha
dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng là những người

đã từng tồn tại quan hệ cha – con, mẹ - con, trên cơ sở của quan hệ hôn nhân
nhưng nay quan hệ hơn nhân đó đã chấm dứt.
Hai người kết phải khơng cùng giới tính
Đối với vấn đề này chúng ta có thể thấy được rằng nhằm bắt kịp với
thực trạng của xã hội hiện tại thì Luật HN&GĐ năm 2014 đã có quy định
khác với Luật HN&GĐ năm 2000 về vấn đề giới tính của hai người kết hơn.
Luật HN&GĐ năm 2014 đã khơng cịn quy định cấm hai người cùng có giới
tính kết hơn mà thay vào đó là việc nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa
những người có cùng giới tính.
Quy định khơng cấm kết hơn giữa những người đồng giới này xuất
phát từ quan điểm kết hôn là quyền tự do cơ bản của công dân là một trong
các quyền cơ bản của con người, cơng dân có quyền lựa chọn kiểu hơn nhân
phù hợp với mình pháp luật tơn trọng và bảo vệ các quyền đó. Việc nhà nước
khơng thừa nhận hơn nhân giữa những người đồng giới xuất phát từ chức
năng duy trì nịi giống của hơn nhân và xuất phát từ việc nếu cơng nhận hơn
nhân đồng giới cũng có nghĩa nhà nước đã trao quyền cho họ, việc đó bắt
buộc nhà nước phải có những chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ, cũng như có những sự điều chỉnh trong những quy định của pháp
luật nước mình cho phù hợp với việc cơng nhận và việc này sẽ gây ra một sự
xáo trộn rất lớn. Chính vì các lý do trên mà nước ta khơng cấm cũng như
không công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Vì vậy, khi hai người cùng giới tính u cầu đăng ký kết hơn thì cơ
quan đăng ký kết hôn sẽ từ chối đăng ký. Trong trường hợp hai người cùng


20

giới chung sống như vợ chồng nhưng sau đó chấm dứt việc chung sống, nếu
có tranh chấp về tài sản thì giải quyết như đối với các trường hợp nam nữ
chung sống như vợ chồng.

Trên thế giới hiện nay có một số quốc gia đã thừa nhận việc kết hôn
đồng giới như Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy, Bỉ, Thụy Sỹ, Canađa… Hiện nay
các nước có xu hướng thừa nhận hơn nhân đồng giới có xu hướng ngày càng
tăng.
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ ĐỘ TUỔI KẾT HÔN VÀ ĐIỀU KIỆN
KẾT HƠN
2.1. Thực tiễn thực hiện về độ tuổi kết hơn và điều kiện kết hôn
Luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành sau khi ra đời với những quy định
mới đã chứng tỏ nhiều điểm tích cực trong quan điểm lập pháp của các nhà
làm luật nước ta góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, bảo đảm
các quyền dân sự nói chung và quyền về HN&GĐ nói riêng đồng thời thúc
đẩy việc thực hiện mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.
Luật HN&GĐ năm 2014 tuy đã có hiệu lực thi hành, nhưng thực tiễn áp dụng
pháp luật vẫn chưa đáp ứng được những địi hỏi về mặt thực tiễn về độ tuổi,
cịn có nhiều điểm chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng khác
nhau về vấn đề này.
2.1.1. Về độ tuổi kết hơn
Số liệu thống kê chính thức của các cơ quan liên quan thuộc Liên hợp
quốc cho thấy hiện tới 30% các thiếu nữ sinh sống tại các nước đang phát
triển lập gia đình khi chưa trịn 18 tuổi, thậm chí có tới 14% các cơ bé đi lấy
chồng lúc dưới 15 tuổi. Trung bình mỗi năm trên tồn thế giới có khoảng 16
triệu trẻ em sơ sinh được chào đời từ những bà mẹ trong độ tuổi 15 đến 19
tuổi, chiếm khoảng 11% tổng số sản phụ toàn cầu.
Ở Việt Nam, phụ nữ dân tộc thiểu số sống ở nông thôn vùng Tây Bắc,
Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long là đối tượng trọng điểm của vấn


21

nạn tảo hơn và kết hơn sớm. Tại xã Lóng Lng, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn

La có tới 52% cặp vợ chồng kết hôn ở lứa tuổi 12 – 17 tuổi; xã Vân Hồ, tỷ
lệ tảo hôn là 68%; xã có tỷ lệ tảo hơn thấp nhất là Muổi Nọi, huyện Thuận
Châu cũng ở mức 27%. Kết quả điều tra của Trung tâm Truyền thông và sức
khỏe trong 3 năm gần đây cũng chỉ ra dân tộc Mơng có tỷ lệ tảo hơn cao nhất
vùng núi phía Bắc 33%, dân tộc Thái chiếm 23,1%, dân tộc Mường chiếm
15,8%.
Nguyên nhân của thực trạng tảo hôn trước hết là do bị ảnh hưởng bởi
sức ép về phong tục tập quán tập tục kết hôn sớm đã ăn sâu vào nếp sống,
nếp nghĩ của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người. Cùng với đó
là do trình độ dân trí thấp, nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế, địa bàn cư
trú chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa nên phần lớn người dân ở đây ít có điều kiện
tiếp cận thông tin, chưa hiểu rõ những hệ lụy từ tảo hơn. Bên cạnh đó, chính
quyền, ban ngành, đồn thể ở nhiều nơi chưa thật sự quan tâm chú trọng hoạt
động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là Luật HN&GĐ năm
2014. Trong khi quy định xử lý các trường hợp vi phạm Luật HN&GĐ năm
2014 chưa nghiêm – mức phạt trong trường hợp tổ chức tảo hôn là 200.000
đồng thì việc xử phạt ở nhiều nơi đơi khi cịn chiếu lệ… Ngồi ra, thực tiễn
trong cuộc sống có nhiều bậc cha mẹ tổ chức đám cưới cho con chưa thành
niên đều rơi vào hoàn cảnh bắt buộc phải tổ chức để giải quyết hậu quả tình
trạng quan hệ tình dục khơng an tồn của con trẻ.
Những nghiên cứu của ngành y tế cho thấy: tảo hôn là nguyên nhân
chích dẫn sự suy giảm của chất lượng dân số, gây ảnh hưởng đến sức khỏe
của người mẹ và tính mạng của trẻ sơ sinh, tỷ lệ các đối tượng tảo hôn sinh
con nhẹ cân (dưới 2.500g) chiếm 33,44%. Tỷ lệ những đứa trẻ sinh ra bị
bệnh và dị tật bẩm sinh chiếm 3%, những đứa trẻ sinh ra những cặp tảo hôn
thường chiếm tỷ lệ cao hơn. Hậu quả của tảo hôn là một trong những nguyên
nhân dẫn đến chất lượng dân số thấp, thể hiện ở tỷ lệ dân số nước ta bị thiểu
năng về thể lực, trí tuệ chiếm 1,5%, số người bị tàn tật, khuyết tật chiếm



22

6,3%; tầm vóc, thể lực con người cịn hạn chế, chỉ số phát triển con người ở
nước ta mức thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với các
nước cơng nghiệp có trình độ trung bình…
Những hệ lụy do tảo hơn gây ra ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của
pháp luật, đến chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng gia đình ấm
no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Phần lớn các cặp vợ chồng trẻ
tảo hôn do tuổi đời cịn ít, khi bỏ học lấy vợ lấy chồng mất cơ hội học tập so
với bạn bè cùng lứa tuổi nên thiếu hụt kiến thức xã hội, nhiều cặp tảo hơn là
hộ nghèo, khơng có việc làm ổn định, thiếu kinh nghiệm cuộc sống, sau khi
kết hôn phải lo toan cho cuộc sống gia đình nên gặp rất nhiều khó khăn về
kinh tế và dễ dẫn đến phá vỡ hạnh phúc gia đình. Ví dụ như trường hợp gia
đình bà Lường Thị Rươi ở Bản Pán 1 (xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu,
tỉnh Sơn La). Chỉ nằm các trung tâm huyện chưa đến 1km nhưng ở đây bà
không hề nhận thức được những hệ lụy do tình trạng tảo hơn gây ra. Chính
vì thế, khi con gái mới 16 tuổi, đã nghỉ học đi lấy chồng thì gia đình bà không
hề phản đối. Đến bây giờ, khi con gái đi lấy chồng sinh con thì bà mới biết
được hậu quả của việc cho con lấy chồng sớm. Bà Rươi chia sẻ các bạn của
cháu giờ được đi học đầy đủ, cịn cháu thì ở nhà ni con nhỏ, cơng việc thì
khơng có, vất vả lắm nhưng gia đình khơng giúp được gì. Cũng tại tỉnh Sơn
La, trường hợp của em Qng Thị Lan ( bản Này Hay, xã Thơm Mịn, huyện
Thuận Châu) là một minh chứng cho các tác hại của việc tảo hôn. Lan cho
biết, năm nay 16 tuổi khi đang đi học phổ thông em đã bỏ học ở nhà lấy
chồng, sinh con. Tuy nhiên, đến nay con đã gần 1 tuổi nhưng vẫn gầy gò,
đau ốm thường xuyên chỉ nặng đến 5kg. Khi đến bệnh viện khám, được các
bác sĩ giải thích, Lan mới biết do mang thai ở lứa tuổi vị thành niên, cơ thể
chưa phát triển hồn thiện, chưa đủ các điều kiện để ni dưỡng bào thai nên
đã ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của thai nhi dẫn đến việc suy dinh
dưỡng của con khi sinh ra.



23

Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tuổi kết hôn là
“nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên”. Đây là quy định độ tuổi thiếu
cần có ở người nam hay người nữ khi kết hôn. Quy định về tuổi kết hôn hiện
hành về cơ bản đã đóng góp tích cực trong xây dựng chế độ hôn nhân lành
mạnh, hạnh phúc và bền vững, đảm bảo cho cá nhân có được sự phát triển
cần thiết về thể chất, trí tuệ, kinh nghiệm xã hội, từ đó tạo điều kiện cho họ
thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ.
Tuy nhiên qua thực tiễn thi hành, quy định về tuổi kết hôn đã phát sinh
bất cập, hạn chế sau:
- Về năng lực chủ thể, quy định về tuổi kết hơn chưa đảm bảo tính
đồng bộ, thống nhất với quy định về người đã thành niên trong BLDS. Theo
Điều 19 BLDS, người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là
người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì được tham gia tất cả các quan hệ dân sự.
Nhiều luật liên quan cũng đã thừa nhận năng lực chủ thể của cả nam và nữ
là đủ 18 tuổi. Ví dụ: Điều 12 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định công dân nam
giới đủ 18 tuổi mới được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi
đến hết 27 tuổi. Đối với nữ, việc kết hôn của nữ bước sang tuổi 18 được coi
là hợp pháp, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể về quyền của họ trong
tham gia các giao dịch, trong khi theo pháp luật hiện hành, nhiều giao dịch
(về bất động sản, tính dụng…) địi hỏi chủ thể của giao dịch phải là người từ
đủ 18 tuổi trở lên.
- Về năng lực tham gia tố tụng, khoản 3 Điều 75 BLTTDS quy định
một cá nhân chỉ có thể tự mình tham gia quan hệ tố tụng khi đã đủ 18 tuổi
trở lên. Trong khi đó, Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định, nữ bước
sang tuổi 18 mà kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn.

Tuy nhiên, quyền tự do ly hôn của họ không thể thực hiện được nếu sau khi
kết hôn và đến thời điểm có u cầu ly hơn họ chưa đủ 18 tuổi.


24

- Về sự tự nguyện của các bên kết hôn
Các hành vi lừa dối, cưỡng ép người khác kết hôn vẫn cịn tồn tại với nhiều
mục đích và biểu hiện khác nhau như: kết hôn nhằm che giấu tiền án tiền sự,
tránh sự truy nã của cảnh sát, dùng vật chất để cưỡng ép như cho vay với lãi
suất cao rồi tìm mọi cách để bắt họ kết hơn để trừ nợ; lừa đảo chiếm đoạt tài
sản rồi dùng nó để làm điều kiện trao đổi, cha mẹ hai bên đã từng có hứa hẹn
nên ép con cái của họ kết hôn với nhau…
Như trường hợp của anh T và chị V, gia đình của chị T sinh sống tại
Canađa. Mẹ anh T là chị ruột của chị V. Để làm thủ tục bảo lãnh cho anh T
qua Canađa, gia đình đã bàn bạc thống nhất cho hai người lấy nhau bất chấp
quan hệ họ hàng gần trong phạm vi ba đời. Sau lễ cưới, chị V về Canađa và
không trở lại Việt Nam. Anh T đành nhờ tòa án giải quyết quan hệ hơn nhân
để tính chuyện tương lai cho mình.
Nếu phát hiện thấy dấu hiệu nghi ngờ, cơ quan chức năng phải xác
minh cẩn trọng trước khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, nhằm tránh
những hậu quả đáng tiếc, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của các quy
phạm pháp luật về HN&GĐ. Có thể thấy việc kết hơn giả tạo đang là vấn đề
nóng bỏng rất cần được Nhà nước quan tâm để đảm bảo những quy định của
pháp luật về kết hôn được thực hiện nghiêm minh và chặt chẽ.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật hai bên nam nữ buộc phải có mặt
khi đăng ký kết hôn, họ phải thể hiện ý chí của mình trước cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Tuy nhiên, khi xác minh chúng ta chỉ có thể căn cứ vào lời
khai của người kết hôn. Lời khai của họ thường phản ánh ý chí chủ quan của
thân họ, trong khi đó, trước khi họ thể hiện ý chí trước cơ quan nhà nước, có

thể họ đã bị khống chế. Vì vậy, đây là trường hợp vi phạm rất khó phát hiện
ở gia đoạn đầu khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hơn. Mặt khác, nếu có vi
phạm thì người có quyền u cầu xử lý cũng phải là một trong hai bên chủ
thể mà không thể là ai khác. Bởi lẽ, chỉ những người trong cuộc mới biết


25

được họ có tự nguyện hay khơng. Vì vậy, nếu ai đó tiếp tục khống chế thì
người bị cưỡng ép khó thể hiện ý chí của mình trước cơ quan có thẩm quyền
về việc kết hơn vi phạm sự tự nguyện.
2.1.2. Về năng lực hành vi dân sự
Luật HN&GĐ quy định trong các điều kiện kết hôn là người kết hôn
không phải là người mất năng lực hành vi dân sự và theo quy định của BLDS
năm 2005, thì một người chỉ bị mất năng lực hành vi dân sự khi tòa án ra
quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ
chức giám định. Như vậy, chỉ có những người có quyết định tuyên bố mất
năng lực hành vi dân sự của tịa án mới bị cấm kết hơn cịn đối với những
người bị bệnh tâm thần thể nhẹ của có quyết định của tịa án thì vẫn có thể
kết hơn. Do đó, đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề thậm chí nhiều hậu quả
đáng tiếc xảy ra. Ở mức độ nhẹ thì bản thân người đó khơng thể thực hiện
được đầy đủ trách nhiệm của mình đối với người vợ/chồng.
TAND huyện Bình Chánh đã thụ ý đơn của chị Y nhưng Tòa cho rằng.
Lý do chị Y đưa ra khơng chính đáng bởi khi triệu tập anh T đến Tịa để giải
quyết vụ việc ly hơn nhưng tịa xét thấy nhận thức của anh hồn tịa bình
thường, hơn nữa anh T tha thiết không muốn ly hôn và thực tế đời sống chung
giữa hai người chưa đến mức trầm trọng để giải quyết ly hơn. Do đó, Tịa
bác bỏ đơn ly hơn.
Tuy nhiên qua q trình tìm hiểu vụ việc được biết, ngay khi hay tin
chị Y sẽ ly hơn anh T vì lý do anh T bị tâm thần thì gia đình anh T đã đưa

anh về quê giấu chị Y và khẳng định anh T hoàn toàn bình thường. Đến thời
điểm Tịa án triệu tập anh T để giải quyết việc ly hơn, cũng là lúc tình trạng
bệnh tâm thần của anh thuyên giảm nên Tòa mới cho rằng nhận thức của anh
T hồn tồn bình thường.
Như vậy, trong trường hợp này quyết định của Tòa chưa phù hợp, chưa
tháo gỡ được khó khăn cho chị Y bởi rõ ràng đời sống hôn nhân của chị Y


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×