TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
KHOA XÃ HỘI – TRUYỀN THÔNG
-----
-----
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
MƠN VĂN HIẾN VIỆT NAM
Mãlớp học phần: SOS10217 (chiều thứ 2)
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Trần Thị Lợi
Nhóm 5
TP.HCM, ngày 20 tháng 4 năm 2021
Câu 1: Hãy trình bày những ưu điểm và nhược điểm trong tính cách Việt Nam bắt
nguồn từ tính cộng đồng vàtính tự trị?
Bài làm
Tính cộng đồng và tính tự trị là 2 đặc trưng gốc rễ, chúng là nguồn gốc sản sinh ra
hàng loạt ưu điểm và nhược điểm về tính cách của con người làng xã Việt Nam.
Tính cộng đồng làtinh thần đồn kết, tương thơng tương ái, tương trợ, giúp đỡ lẫn
nhau. Sản phẩm của tính cộng đồng làmột tập thể làng xãmang tính tự trị: làng nào
biết làng ấy, cá làng tồn tại khábiệt lập với nhau vàphần nào độc lập với triều đình
phong kiến.
Biểu tượng truyền thớng của tính cộng đồng là sân đình - bến nước - cây đa.
Làng nào cũng có một cái đình. Đó là biểu tượng tập trung nhất của làng về mọi
phương diện: trung tâm hành chính, trung tâm văn hố, trung tâm về mặt tơn giáo và
trung tâm về mặt tình cảm.
Bến nước là nơi phụ nữ quần tụ lại.
Cây đa cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gớc cây cómiếu thờ lúc nào cũng khói
hương nghi ngút - đó là nơi hội tụ của thánh thần (Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo
cây đề). Cây đa, gớc cây có qn nước, cịn là nơi nghỉ chân gặp gỡ của những
người đi làm đồng, những khách qua đường... Nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở
thành cánh cửa sổ liên thơng làng với thế giới bên ngồi.
Ưu điểm:
Tinh thần đoàn kết, tương trợ, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau.
Cuộc sống của cư dân người Việt do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vìvậy mà
trong cuộc sớng họ thường liên kết với nhau, nương tựa lẫn nhau. Từ đó, hình thành nên
nét đặc trưng của làng xãViệt Nam làtính cộng đồng. Tính cộng đồng chútrọng sự đồng
nhất đồng nhất (giống nhau - “cùng hội cùng thuyền”, “cùng cảnh ngộ”) cho nên người
Việt Nam ln sẵn sàng đồn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người
1
trong cộng đồng như anh chị em trong nhà: “tay đứt ruột xót”, “ chị ngã em nâng”,
“lá lành đùm lá rách”
Khuyết điểm:
Ý thức về con người cánhâ bị thủ tiêu: người Việt Nam ln hồtan vào cá mới
quan hệ xãhội, giải quyết xung đột theo lới hồcả làng.
Hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: "nước trơi thìbèo trơi", tình trạng cha chung khơng
ai khóc.
Tư tưởng cầu an, cả nể, làm gì cũng sợ "rút dây động rừng".
Thói đồ kị, cào bằng, khơng ḿn ai hơn mình.
Cái tớt nhưng tốt riêng sẽ trở thành cái xấu. Ngược lại, cái xấu nhưng xấu tập thể thì
trở thành cái tớt.
Khái niệm giátrị trở nên hết sức tương đới - Ĩc tư hữu ích kỉ: "bè ai người nấy
chớng, ruộng nhà ai người nấy đắp bờ".
Tính tự trị
Tinh thần tự lập cộng đồng: Tính tự trị chú trọng vào nhấn mạnh sự khác biệt, đầu
tiên đó là sự khác biệt giữa cộng đồng (làng, xã) này với cộng đồng (làng, xã) khác.
Mỗi làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc.
Nếp sống tự cấp tự túc: mỗi làng tự đáp ứng nhu cầu cho cuộc sớng của làng mình
Tính tự trị của làng xãcòn thể hiện qua quyền sở hữu vàphân chia ruộng đất công
làng xã. Làng xãViệt Nam vốn xuất phát lànhững công xãnông thôn với chế độ sở
hữu tập thể về ruộng đất. Khi nhà nước ra đời, cá công xãvẫn giữ được quyền sở
hữu vàchiếm dụng ruộng đất này.
Biểu tượng truyền thớng của tính tự trị là lũy tre. Rặng tre bao kín quanh làng, trở
thành một thành luỹ kiên cố bất khả xâm phạm: đốt không cháy, trèo khơng được,
đào đường hầm thì vướng rễ thơng qua. Luỹ tre làmột đặc điểm quan trọng làm cho
2
làng xóm phương Nam khác hẳn ấp líTrung Hoa cóthành quách đắp bằng đất bao
bọc.
Ưu điểm:
Do sự khác biệt, cơ sở của tính tự trị tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi người
phải tự lo liệu lấy mọi việc => Truyền thống cần cù.
Nếp sống tự cấp, tự túc: mỗi làng đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của mình, mỡi nhà
đều trồng rau, ni gà, thả cá => Đảm bảo nhu cầu về ăn; cóbụi tre, rặng xoan, gớc
mít => Đảm bảo nhu cầu về ở.
Khuyết điểm:
Ĩc tư hữu, ích kỉ: Bè ai người nấy chớng; Ruộng ai người nấy đắp bờ; Ai có thân
người nấy lo, ai có bị người nấy giữ;,….
Ĩc bè phái, điạ phương cục bộ: làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho địa phương
mình: “Trớng làng nào làng nấy đánh, Thánh làng nào làng nấy thờ; Trâu ta ăn co
đồng ta”
Ĩc gia trưởng – tơn ti: tạo nê tâm lí “quyền huynh thế phụ”, áp đặt ý ḿn của mình
cho người khác, tạo nên tư tưởng thứ bậc vơlí, thì nó trở thành một lực cản đáng sợ
cho sự phát triển xã hội.
Đặc điểm môi trường sống quy định tư duy. Cả hai quy định tính cách dân tộc. Cuộc
sớng nông nghiệp lúa nước và lối tư duy biện chứng, dẫn đến hình thành ngu lí
âm dương và lới ứng xử nước đơi. Cho nên tính chất nước đơi chính là một đặc
điểm tính cách dân tộc Việt: vừa có tính tập thể hịa đồng lại vừa có óc bè phái địa
phương,… Tất cả những cái tốt và cái xấu cứ đi thành từng cặp và đều tồn tại ở
người Việt Nam.
3
Câu 2: Nêu những đặc trưng cơ bản của loại hình văn hóa gớc nơng nghiệp?
Bài làm
4
Câu 3: Nêu những biểu hiện lối ứng xử tế nhị của người Việt Nam qua những lĩnh
vực văn hóa mà em biết?
Bài làm
Văn hóa ẩm thực
Văn hóa ẩm thực là nét văn hóa tự nhiê hình thành trong cuộc sống. Đối với nhiều
dân tộc, quốc gia, ẩm thực không chỉ lànét văn hóa về vật chất mà cịn là văn hóa về
tinh thần. Qua ẩm thực người ta cóthể hiểu được nét văn hóa thể hiện phẩm giácon
người, trình độ văn hóa của dân tộc với những đạo lý, phé tắc, phong tục trong cách
ăn ́ng…
Văn hóa tinh thần của người Việt trong ẩm thực chính làsự thể hiện nét đẹp trong
văn hóa giao tiếp, làsự cư xử giữa người với người trong bữa ăn, làm vui lòng nhau
qua thái độ ứng xử lịch lãm, cógiáo dục. Việc ăn ́ng đều cónhững phé tắc, lề lới
riêng, từ bản thân, đến trong gia đình, rồi cá mới quan hệ ngồi xãhội.
Bản thân mỡi người phải biết giữ gìn, thận trọng trong khi ăn, cũng như đề cao danh
dự của mình: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, hay “ăn phải nhai, nói phải nghĩ.
Trong gia đình: ăn chung mâm, ưu tiên thức ăn ngon cho người lớn tuổi, trẻ nho
“kính trên nhường dưới”, thể hiện sự kính trọng, tình cảm u thương. Bữa cơm
hàng ngày được xem làbữa cơm xum họp gia đình, mọi người quây quần bên nhau,
cùng nhau vui vầy sau một ngày làm việc mệt nhọc.
Ngoài xãhội: việc mời khách đến nhàthể hiện nét văn hóa giữa người với người
trong xãhội. Khi códịp tổ chức ăn ́ng, gia chủ thường làm những món ăn thật
ngon, nấu thật nhiều để đãi khách. Chủ nhà thường gắp thức ăn mời khách, tránh
việc dừng đũa trước khách, vàcólời mời ăn thêm khi khách dừng bữa. Bữa cơm thiết
không chỉ đơn thuần làcuộc vui màcòn thể hiện tấm lòng hiếu khách đặc trưng của
người Việt.
Khi ăn, không nên ngồi quá sát mâm hay quá xa mâm cơm để vừa tay gắp đồ ăn trong
mâm. Tuyệt đới tránh cơm đầy trong miệng mànói, cũng không được thổi đồ ăn
5
nóng. Khi nhai, tới kỵ chép miệng hay tạo ra tiếng ồn khi ăn. Chúýcách chấm đồ ăn,
chỉ nhúng phần thức ăn, không nhúng đầu đũa vào bát chấm, ngay cả miếng đã cắn
dở cũng không được để vào bát chấm.
Dùlàtrong khn khổ gia đình hay khi làm khách, tuyệt đới khơng chê khi món ăn
chưa hợp khẩu vị mình. Điều này tưởng chừng như đơn giản màlại cực kỳ có ý
nghĩa trong việc giáo dục nhân cách con người. Bởi nócóthể khơng ngon với người
này nhưng ngon với người khác vàdùgìmón ăn đó cũng được làm nê từ cơng sức,
tâm huyết của người chế biến nê chúng ta không ai cóquyền phêphán hay chêbai.
Văn hóa dùng đũa
Việc dùng đũa trong bữa ăn đã xuất hiện từ rất lâu đời vàcùng với dòng chảy của
thời gian, người Việt Nam bắt đầu hình thành nét văn hóa trong việc sử dụng đũa.
Đôi đũa truyền thống được làm từ tre.
Trước khi cầm đũa, phải xếp hai đầu đũa cho đều nhau, lúc sử dụng chỉ động tới
cạnh trên của đũa, dùng 3 đầu ngón tay: ngón cái, ngón tro vàngón giữa nhẹ nhàng
cầm đũa. Trẻ con được dạy rằng, trước bữa ăn phải so đũa, chú ý đến đầu đũa có
đúng hướng hay không, sau bữa ăn phải đặt đũa xuống một cách ngay ngắn, không
nên để đũa bị so le hay xôlệch.
Không gắp thức ăn đưa thẳng vào miệng màphải đặt vào bát riêng rồi mới ăn.
Khơng dùng thìa đũa cá nhân của mình khuấy vào tơchung. Khơng xới lộn đĩa thức
ăn để chọn miếng ngon hơn. Không cắm đũa dựng đứng vào bát cơm. Không nhúng
cả đầu đũa vào bát nước chấm. Phải trở đầu đũa khi muốn tiếp thức ăn cho người
khác. Những nguyê tắc nghe cóvẻ giáo điều này thật ra lại giúp cho bữa ăn trở nê vệ
sinh vàgiữ tính lịch sự trong ăn ́ng.
Chuyện mời cơm
Tục mời cơm của người Bắc làcả một nét đẹp trong văn hóa ứng xử. Chính những lời
mời tưởng chừng như vô thức ấy đã giáo dục cho con người ta hiểu lẽ biết ơn, biết
6
nhận diện những hạnh phúc đơn thuần, bình dị, cũng là để biết trân quý, tơn trọng
sự cómặt của nhau.
Văn hóa trang phục
Trang phục làmột trong ba yêu cầu của đời sớng vật chất (ăn, ở, mặc). Ðólàsản phẩm
văn hố sớm nhất của xãhội loài người. Trang phục cũng được thay đổi theo qtrình
phát triển của lịch sử. Cóthể thấy rằng qua mỗi giai đoạn, trang phục của người phụ
nữ Việt Nam cũng có những bước chuyển biến khác biệt, nếu như thời xa xưa,
những bộ trang phục thanh lịch, thuần khiết được nhiều phụ nữ u thích vàlựa chọn
thìhiện nay, trang phục đã có sự phácách vàlạ mắt hơn. Qua thời gian vẻ đẹp truyền
thống vàcách ăn mặc dần thay đổi để phùhợp với phong cách hiện đại vàphù hợp
hơn với xu hướng của sự phóng khống, nhưng khơng nghĩa vậy màvẻ đẹp truyền
thống bị che phủ và đi vào lãng quên.
Phụ nữ thời Hùng Vương thường mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bósát vào người,
phía trong mặc yếm kín ngực cócổ trịn sát cổ, trang tríthêm hình những tấm hạt gạo.
Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vng, để hở một phần vai vàngực hoặc kín
ngực, hở một phần vai và trên lưng. Hai loại sau cóthể làloại mặc chui đầu hay cài
khuy bên trái. Trên áo đều có hoa văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí
cách đều nhau quấn ngang bụng...
Tiền thân của tàáo dài hiện đại và đặc trưng trang phục của người Việt làbúi tóc, áo
cài bên tả (khác với Trung Hoa làvắt vạt áo bên hữu) cũng được xem là đã xuất hiện
từ thời kỳ này.
Thời Trần: Điểm nổi bật nhất trong triều đại nhàTrần chính là3 lần đánh bại giặc
xâm lược Nguyên – Mông. Do liên tiếp phải đối đầu với những kẻ thùhùng mạnh,
nê tâm lýsẵn sàng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” luôn thường trực trong cuộc
sống quân dân thời Trần, ảnh hưởng đến cả phục sức vàquan niệm thẩm mỹ của cả
dân tộc.
Bên cạnh tập tục xăm lên mình hai chữ “Sát thát” đã trở thành huyền thoại, người dân
Đại Việt còn xăm lên bụng những chữ “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc” vừa
7
thể hiện tinh thần báo đền ơn nước, vừa thể hiện quan điểm thẩm mỹ lúc bấy giờ.
Với phụ nữ, trang phục thường làáo tứ thân, đàn ông thường để mình trần hoặc mặc
áo tứ thân, quần mong bằng lụa thâm, màu sắc của hai giới cũng rất giản dị, thường
là màu đen. Tục nhuộm răng đen bắt đầu phổ biến.
Thực tế luôn phải đối đầu với giặc ngoại xâm đã không cho phép sự cầu kỳ trên
phương diện thời trang, thế nê dễ hiểu vì sao giai đoạn này, trang sức vàtrang phục
đều cực kỳ đơn giản, phụ nữ không trang điểm diêm dúa, vua quan ăn mặc giản
dị… Đáng quý nhất làtinh thần độc lập tự chủ thể hiện trong việc nhàTrần không
quy định màu sắc trang phục theo quan điểm Khổng giáo coi trọng chính sắc,
màvẫn dùng cá màu gián sắc như màu tía, màu hồng, biếc, lục… để may mặc cho
quan cá cấp.
Thời Nguyễn: Đời sống xãhội trong thời kỳ này cóảnh hưởng khơng nho đến trang
phục của người dân. Nếu như trang phục của tầng lớp thống trị ngày càng bị “pha
tạp” theo lối đua địi cải cách nửa mùa, thìtrong xãhội, những phục trang truyền
thống như áo dài, áo yếm, áo tứ thân, khăn mo quạ, nón quai thao… đã trở thành
hơi thở vàlàkết tinh văn hóa của cả dân tộc. Trong khi chiếc yếm đào vượt khoi
chớn cung đình để cùng người phụ nữ cần lao “dầm mưa dãi nắng” ngoài đồng
ruộng, hay cùng áo tứ thân lượt làtrong những buổi hội Lim, thìthời trang phương
Tây với những chiếc váy xịe, những chiếc đầm cách tân hiện đại cũng dần du nhập
và được phụ nữ quýtộc trẻ ưa chuộng, trong đó Hồng hậu Nam Phương – vị hồng
hậu ći cùng của triều đại phong kiến Việt Nam, làngười rất thích mặc trang phục
Tây phương và mặc rất đẹp.
Áo dài: Nhắc đến trang phục truyền thống Việt Nam, chắc chắn phải đề cập đến áo
dài, vốn đã trở thành “quốc phục” tượng trưng cho tinh hoa dân tộc. Chiếc áo dài có
tuổi đời rất lâu năm, ngay trên mặt trống đồng vàhiện vật Đông Sơn người ta đã tìm
thấy hình ảnh của chiếc áo dài tha thướt. Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông
trận, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tàgiáp vàng, che lọng vàng. Do tơn kính hai bà,
phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tàmàthay bằng áo tứ thân.
8
Đến thế kỷ 19,20, áo dài bắt đầu trở thành thứ trang phục không thể thiếu trong đời
sống xãhội Việt, từ cá bàhồng, cơng chúa trong hồng cung với cá kiểu áo dài được
may trang trọng, quýphái bằng chất liệu gấm, thêu chỉ vàng… đến cá bà, cá côvận áo
dài đến trường, đến công sở, ra chợ, dạo phố. Một thời gian dài trong thế kỷ 19-20, áo
dài đã trở thành một loại thường phục được nam phụ lão ấu trên đất Việt yêu chuộng.
Trải qua nhiều biến động lịch sử, cùng với sự du nhập của khuynh hướng thời trang
phương Tây, áo dài đã có nhiều cải tiến theo từng trào lưu nhất định. Tuy nhiên, dùở bất
kỳ trào lưu cải cách nào, từ áo dài Le Mur, áo may dạng chít eo hay cổ thuyền theo
“mớt” Trần Lệ Xuân đến cá loại áo dài vạt dài sát đất như hiện nay, áo dài vẫn chứng to
khả năng bất biến màkhông phải loại trang phục nào cũng làm được: đó là tơn lên vóc
dáng và nét đẹp quyến rũ dịu dàng cho người phụ nữ.
9
Như vậy, qua hàng ngàn năm văn hiến, cùng với sự biến động của lịch sử, đặc trưng
trang phục dân tộc qua từng thời kỳ cũng có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, vượt qua
mưu đồ đồng hóa của quân xâm lược Trung Hoa, trang phục Việt nói riêng vànền
văn hóa Việt Nam nói chung vẫn giữ được những nét đẹp riêng độc đáo, trong đó
khơng thể khơng kể đến những tinh hoa văn hóa kết tinh trên những bộ “q́c phục”
mang đậm nét thẩm mỹ vàứng dụng cao.
Văn hóa ứng xử
Trong cuộc sống, mỗi người giao tiếp bằng nhiều phương thức khác nhau như ngôn
ngữ, cử chỉ, hành động, hay thậm chíchỉ làánh mắt khơng lời. Chính vìthế từ lâu
trong xãhội đã hình thành nền văn hóa ứng xử như một cách làm cho mọi người có
thể cư xử cóchừng mực với nhau hơn.
Trước hết chúng ta phải kể tới văn hóa ứng xử giữa người với người. Văn hóa này
đã được dân tộc ta cũng như đã được hun đúc nên từ ngàn đời nay với những câu ca
dao, tục ngữ như câu ca dao “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mànói cho vừa
lịng nhau”, hay cả câu “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, “Ăn phải nhai nói phải nghĩ”,
“́ng nước nhớ nguồn”, đó là văn hóa trọng tình, trọng nghĩa, văn hóa quan tâm,
u thương lẫn nhau. Vàcóthể nói chính những cái nơi đầu tiên màchúng ta học
cách ứng xử, giao tiếp với người khác đó chính là gia đình. Dường như ở đó, ngay
từ thuở bé, chúng ta như cũng đã được ông bà, cha mẹ dạy cho khi gặp người lớn
phải biết cười. Vàcónhững hành động như vịng tay cúi đầu x́ng vàchào ơng, chào
bà, chào cô, chào chú, khi được người lớn cho quàphải biết giơ hai tay nhận lấy
vànói lời cảm ơn, và cịn là khi làm một việc gì đó sai trái phải biết vịng tay lại cúi
đầu xin lỡi. Cho đến khi lớn hơn một chút, dường như chúng ta được dạy cách đi
đâu phải thưa, về nhàphải gửi lời chào để người lớn trong nhàkhơng phải lo lắng
vìchúng ta. Cóthể thấy trong một gia đình ln ngập tràn u thương, tiếng cười
vàniềm vui là điểm tựa làvạch xuất phát tốt nhất để gieo mầm cho những thế hệ tiếp
nối cách ứng xử văn minh, rất lịch sự, vàlại cókhn phép, lễ giáo.
10
Khơng những thế, cư xử văn hóa cịn được mọi người yêu quývàtôn trọng. Những
người làm kinh doanh, buôn bán khéo léo trong ứng xử, giao tiếp luôn để lại ấn
tượng tớt đẹp với khách hàng vìthế màcóthể tạo ra nhiều doanh thu hơn, có nhiều
khách hàng hơn. Chính vì thế, ơng cha ta có câu “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa
lời mà nói cho vừa lịng nhau”, đó là văn hóa đới nhân xử thế, biết quan tâm nhau,
dạy cho chúng ta biết đối xử một cách thông minh, trọng tình trọng nghĩa. Ngay từ
thủa bé, bớ mẹ đã dạy chúng ta biết đi thưa về gửi, khi ăn phải biết mời người lớn
tuổi, khi sai phải biết nhận lỡi cúi đầu. Đó chính là những bàhọc đầu tiên về làm
người, về cách ứng xử trong cuộc sống. Lớn hơn là mối quan hệ với thầy cô, đồng
nghiệp vàxãhội. Một gia đình biết yêu thương nhau, tràn ngập tiếng cười được bắt
nguồn từ những điều nho như thế. Những mối quan hệ của bạn trong xãhội sẽ trở nê
tớt đẹp hơn nếu bạn cómột cách ứng xử phùhợp, hòa nhãvới tất cả mọi người.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bảo tàng Nhân học, 2010, Vài ýkiến về tính cộng đồng của người Việt dưới
góc nhìn văn hóa, />[02/04/2021].
2.
Th.S Ngũn Thị Hiền, 2019, Tìm hiểu một sớ biểu hiện tính chất tự
trị của
làng xã Việt Nam cổ truyền,
/>[02/04/2021].
3. Đào Thanh Hồng, 2020, Văn hóa ứng xử làgì? Tầm quan trọng của văn hóa
ứng
xử,
/>
[02/04/2021].
4.
Khơng tác giả (2018), Trang phục Việt Nam - tinh hoa hơn 4000
năm lịch sử.
5.
Nam.
Khơng tác giả (2019), Nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Việt
6.
Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB
Thành phớ Hồ ChíMinh, TP.HCM.
7. Lâm Viên, 2020, Vẻ đẹp trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam,
[02/04/2021].
8. Zip, 2019, Văn hóa ứng xử tinh tế trong mâm cơm của người Việt,
[02/04/2021].
12
BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÓNG GÓP
Stt
1
2
3
4
5
6