CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG NEO
I.THIẾT BỊ NEO CỦA TÀU VÀ CÁC BỘ PHẬN HỢP THÀNH.
1.1 Tác dụng của neo:
- Cố định tàu
- Quay trở tàu
- Quay trở trong luồng hẹp
- Hỗ chợ tàu vào cầu khi có gió thổi vào mạn
- Thốt cạn an tồn
- Vơ tình vào cạn
- Cố tình vào cạn (chất đáy mềm, thủy triều thấp nhất)
- Dịch chuyển về phía trước một đoạn ngắn.
- Hệ thống neo tàu biển là một hệ thống hết sức quan trọng không thể thiếu trên các phương tiện
biển, hệ thống neo được dùng để cố định vị trí tàu trên mặt nước trong bất cứ điều kiện thời tiết
nào, vị trí tàu phải được cố định chắc chắn.
- Ngồi ra hệ thống neo cịn được sử dụng trong các trường hợp sau. Quay trở trong luồng lạch
hẹp, hỗ trợ tàu vào cầu an toàn, hỗ trợ tàu thốt cạn an tồn, dùng để phá chớn của tàu.
- Hệ thống neo tàu phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
+ Đảm bảo cố định vị trí tàu trên mặt nước trong bất cứ điều kiện thời tiết nào.
+ Khi thả neo phải nhanh chóng thuận lợi trong khoảng thời gian ngắn nhất neo phải bám đáy chắc
trong mọi chất đáy.
+ Khi kéo neo phải nhanh chóng thuận lợi, neo bật lên khỏi đáy dễ dàng.
+ Khi cố định neo chạy biển phải chắc chắn.
Sơ đồ bố trí chung của hệ thống neo
Số lượng neo trên mỗi tàu tuỳ theo quy định của quy phạm đóng tàu từng nước có thể khác nhau. Nói
chung trên các tàu biển thường trang bị hai neo mũi ở hai bên mạn. Trọng lượng của hai neo này lớn
hay nhỏ tuỳ thuộc vào cỡ tàu.
1.2 Lỉn neo:
- Lỉn neo dùng để nối neo với vỏ tàu, thường được làm bằng sắt thép thông qua phương pháp
đúc hoặc rèn.
- Một dây lỉn bao gồm nhiều mắt lỉn được nối lại với nhau.
- Chiều dài của một dây lỉn là từ 165÷500m trong một dây lỉn thường được chia thành các đường
lỉn, chiều dài của một đường lỉn từ 25÷27,5m.
Dây buộc đánh
dấu đường lỉn
Mắt lỉn lắp ghép
Mắt lỉn
khơng ngáng
1.3 Phương pháp đánh dấu các đường lỉn
- Đường lỉn thứ nhất: mắt cuối cùng có ngáng ở mắt thứ nhất và mắt đầu tiên có ngáng của
dường thứ 2 được sơn trắng và quấn dây kẽm.
- Đường lỉn thứ 2: hai mắt cuối cùng có ngáng của đường thứ 2 và 2 mắt đầu của đường thứ 3
được sơn trắng.
- Đường lỉn thứ 3: 3 mắt cuối cùng có ngáng của đương thứ 3 và 3 mắt đầu của đường thứ 4
được sơn trắng.
- Cách đánh dấu này được tiến hành cho tới đường thứ 5 nhưng đến đường thứ 6 ta lại quay lại
cách đánh dấu như đường thứ nhất.
- Đường lỉn 6: mắt cuối cùng có ngáng của đường 6 và mắt đầu tiên có ngáng của đường thứ 7
được sơn trắng và quấn dây kẽm.
- Cách tiến hành này được đánh dấu cho đến đường số 10 sang đến đường thứ 11 ta quay lại cách
đánh dấu như đường thứ nhất.
1.4 Cách báo hướng lỉn
- Trong quá trình thả neo và kéo neo ta phải thường xuyên báo hướng lỉn, khi báo hướng lỉn ta có
thể dùng máy bộ đàm (walkie- talkie) hoặc ra hiệu bằng tay.
- Khi dây lỉn trùng với trục dọc về hướng mũi thì ta coi đó là hướng 12 giờ. Khi dây lỉn trùng với
trục dọc về phía lái thì ta coi đó là hướng 6 giờ. Khi dây lỉn nằm vng góc với thân tàu về tay
phải thì đó là hướng 3 giờ. Khi dây lỉn nằm vng góc với thân tàu về tay trái thì đó là hướng
9 giờ. Các hướng lỉn còn lại sẽ tương ứng với các giờ tiếp theo.
1.5 Cách báo số đường lỉn:
Trong quá trình thả và kéo neo phải thường xuyên báo số lượng đường lỉn, khi báo số đường lỉn ta có
thể dùng máy bộ đàm (walkie- talkie) hoặc sử dụng chuông để báo số đường lỉn.
1.6 Máy tời neo:
Máy tời neo phải đảm bảo những tính năng sau:
- Có thể lần lượt kéo hoặc thả từng neo, cũng có thể kéo cả hai neo cùng một lúc. Tốc độ kéo khi
kéo đồng thời cả hai neo không nhỏ hơn 8 m/ phút, khi kéo một neo không nhỏ hơn 12 m/ phút.
Có thể đảm bảo đồng thời kéo hai neo khi chúng ở độ sâu 45 mét.
- Phải có bộ ly hợp nhẹ và đáng tin cậy chỉ cần một người có thể thao tác, dù bộ ly hợp điện
động hay bộ ly hợp nén thuỷ lực thì trong trường hợp khẩn cấp đều có thể dùng tay điều khiển
tách bánh xe kéo lỉn ra khỏi trục quay.
- Phải có bộ phanh đáng tin cậy. Khi thả neo bằng phanh có thể thả lần lượt từng neo hay đồng
thời thả hai neo và có thể phanh hai lỉn neo bất cứ lúc nào.
II. VẬN HÀNH HỆ THỐNG NEO
2.1 Công tác thả neo
a, Công tác chuẩn bị
Trước khi tiến hành cơng tác chuẩn bị thả neo ta phải có mặt tại vị trí trước ít nhất 15 phút để tiến
hành công tác chuẩn bị thả neo.
+ Xin điện máy tời (sĩ quan trực ca)
+ Xin bỏ các chằng buộc
+ Mở nắp đậy ống dẫn lỉn
+ Mở bộ hãm khi đó dây lỉn được tự do
+ Vào trám mở phanh cho máy tời chạy để đưa neo ra khỏi lỗ nống neo. Thơng thường để neo cách
mặt nước từ 1÷1,5m sau đó phanh chặt dừng máy tời.
+ Tách bộ li hợp ra khỏi bánh xe quấn lỉn (ra trám)
+ Hầm lỉn khơng có người làm việc
+ Chuẩn bị một quả cầu màu đen.
+ Trong trường hợp muốn đánh dấu vị trí neo thì ta phải chuẩn bị một đường dây cáp dài bằng độ sâu
tại khu vực thả neo và một hoa tiêu hình quả trám.
+ Một đầu dây cáp nối với phao tiêu, đầu còn lại được nối với thân neo.
+ Vùng nước phía dưới neo khơng có tàu thuyền nhỏ neo đậu và chướng ngại vật gây trở ngại đến
công tác thả neo.
b, Thao tác thả neo:
- khi được lệnh thả neo từ phía buồng lái ta nhanh chóng mở phanh, khi đó nhờ trọng lượng của
neo và lỉn neo sẽ rơi tự do xuống nước.
- Khi neo chạm xuống đáy ta phải khống chế tốc độ của neo.
- Trong quá trình này ta phải thường xuyên báo hướng lỉn, số lượng đường lỉn và trạng thái
đường lỉn căng hay trùng.
- khi neo chạm đáy ta phải cheo quả cầu màu đen ở phía mũi.(dấu hiệu thuyền đang neo đậu vào
ban ngày) vào ban đêm bặt đèn neo tắt đèn hành trình.
- Sau khi thả đủ số lượng đường lỉn theo yêu cầu và được lệnh khóa neo từ phía buồng lái ta
nhanh chóng vặn chặt phanh.
- Đóng bộ hãm đậy nắp ống đẫn lỉn, neo, che phủ bạt máy tời, tắt điện máy tời và thu dọn vệ sinh
tại nơi làm việc.
Máy tời neo kiểu thuỷ lực
-
Nếu thả neo ở độ sâu 40m trở lên thì bắt buộc thả bằng máy tời. Sau khi chuẩn bị xong ta tiến
hành vào trám, sau đó cho máy tời chạy thả được 2/3 độ sâu thì dừng máy tời và ra trám sau đó
thả số đường lỉn cịn lại bằng phương pháp tự do.
Khi thả neo ở độ sâu từ 80m trở lên thì bắt buộc phải thả tồn bộ bằng máy tời.
2.2 Cơng tác kéo neo
a. Cơng tác chuẩn bị
Trước khi tiến hành công tác kéo neo ta phải có mặt tại vị trí làm việc trước ít nhất 15 phút để tiến
hành công tác chuẩn bị kéo neo.
+ xin điện máy tời
+ xin nước rửa neo, mở van xả nước biển ở phía dưới để rửa lỉn neo.
+ mở nắp đậy của ống dẫn lỉn, neo và mở bộ hãm kiểm tra lại phanh.
+ Cho máy tời chạy thử không tải, kiểm tra hoạt động của tời và phát hiện tiếng động bất thường nếu
có.
+ Đóng bánh xe quấn lỉn vào bộ li hợp còn gọi là vào trám
+ Tháo bỏ thanh ngáng lỉn( thanh hãm) trên bệ tì lỉn neo (Compressor)
+ Nới lỏng phanh và tời đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc kéo neo.
+ Trong hầm lỉn khơng có người làm việc
b.Thao tác kéo neo
- Khi có lệnh kéo neo từ phía buồng lái ta nhanh chóng mở phanh và cho máy tời chạy. Tăng dần
vòng tay của tời.
- Tránh các thao tác đột ngột giật cục
- Trong quá trình này phải thường xuyên báo hướng lỉn và số lượng đường lỉn, trạng thái lỉn căng
-
hay trùng về phía buồng lái.
Khi neo bật lên khỏi đáy ta nhanh chóng hạ quả cầu neo vào ban đêm và tắt neo bật đèn hành
trình.
Khi đưa neo vào lỗ nống neo 2 ngạnh của neo phải nằm sát vào miếng tơn gia cường ở phía
ngồi lỗ nống neo.
Khi được lệnh khố neo ta nhanh chóng vặn chặt phanh dừng máy tời, đóng bộ hãm phanh, đạy
nắp ống dẫn lỉn neo.
Tắt điện máy tời, tắt nước rửa neo, che phủ máy tời bằng bạt, thu dọn vệ sinh tại khu làm việc.
III. BẢO QUẢN BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG NEO
Hệ thống neo tàu biển hết sức quan trọng trên tàu biển. Vì vậy trong q trính khai thác và sử
dụng ta phải tiến hành bảo quản, bảo dưỡng thật cẩn thận.
3.1 Bảo quản hệ thống tời neo:
-
Trước hết phải bảo dưỡng thật tốt hệ thống máy tời thường xuyên tra dầu mỡ vào các bộ phận
chuyển động như trục bánh xe quấn lỉn, bộ li hợp, tay quay của phanh và tay gạt đảo chiều.
- Nếu là máy tời bảo quản thật tốt hệ thống động cơ, khi không sử dụng bắt buộc phải che phủ
toàn bộ hệ thống động cơ và tay trang điều khiển.
- Nếu là máy tời điện thuỷ lực thường xuyên kiểm tra hệ thống đường ống dẫn dầu xem chúng
có bị dị dỉ hay khơng.
Nếu là máy tời hơi nước thì phải kiểm tra vật liệu giữ nhiệt ở phía ngồi đường ống xem chúng có bị
rách vỡ hay khơng.
3.2 Bảo quản hệ thống lỉn neo và hầm lỉn:
- Thường xuyên kiểm tra các vị trí đánh dấu đường lỉn.
- Kiểm tra ma ní nối giữa lỉn neo và neo.
- Kiểm tra lỉn neo có bị rối hay khơng.
- Kiểm tra và dọn sạch những chất bẩn chứa trong hầm lỉn.
IV. CÁC KHẨU LỆNH KHI LÀM NEO:
Standby starboard( port) anchor: Chuẩn bị neo phải( trái)
Let go anchor: ném neo
Hold on: dừng xông lỉn
Slack away hoặc pay out: xông lỉn
…shackles in the water: …đường dưới nước
…shackles on deck: …đường trên boong
How much shackles now? Bây giờ bao nhiêu đường lỉn?
Does the anchor bring up? Neo bám chắc chưa?
Anchor drag: bò neo
How is the cable leading? Lỉn nằm ở hướng nào?
Chain right ahead ( on the beam, leading after): lỉn ở phía trước( ngang, ở phía sau)
Chain aross the bow: lỉn vắt ngang mũi
Brought up: neo đã bám chắc
Make fast: cố định chặt
Standby heave in the cable: chuẩn bị kéo neo
Heave in ( Heave away): Kéo neo
How much shackles more? Còn mấy đường nữa
Chain tight:lỉn căng
Short stay: Neo sắp tróc(độ dài lỉn neo còn khoảng 1.5 lần độ sâu)
Up and down: Lỉn thẳng đứng
Anchor aweigh: Neo tróc
Get the port anchor ready: Chuẩn bị sẵn sàng neo trái
Get the starboard anchor ready: chuẩn bị sẵn sàng neo phải
Stow anchor: thu neo
CHƯƠNG 2: CÁCH NEO TÀU THƠNG THƯỜNG
I. Chọn vị trí neo tàu
Khi chọn vị trí để neo cần kết hợp với hải đồ, tư liệu hàng hải, dự báo khí tượng, nghiên cứu địa
điểm neo một cách thận trọng. Dưới đây đưa ra một số điều cơ bản cần chú ý:
1. Độ sâu, chất đáy
1) Nếu vùng neo có sóng lừng, chiều dài của xích neo tối thiểu phải gấp đơi độ sâu. Chỗ có dịng chảy
mạnh khơng nên chọn làm chỗ neo.
2) Chất đáy tốt nhất cho neo tàu là bùn dẻo, sau đó là bùn cát. Chất đáy cát lẫn vỏ sò bám neo kém, chỉ
bằng 2/3 của chất bùn dẻo. Chất đáy là đá khơng thích hợp để neo tàu.
2. Hoàn cảnh chung quanh
1) Đáy biển phải tương đối bằng phẳng, độ nghiêng nhỏ.
2) Khu vực neo đủ rộng để việc điều động, quay trở tàu linh hoạt. Diện tích an tồn của khu vực khi
neo một neo phải có bán kính lớn hơn chiều dài xích neo dự kiến cộng thêm hai lần chiều dài của tàu.
3) Tránh luồng, đường tàu khác đi qua lại.
4) Tốt nhất khu vực gần đó khơng có đá ngầm.
5) Có nhiều mục tiêu bờ để xác định vị trí.
3. Điều kiện tránh gió
1) Chọn vùng neo cố gắng phù hợp với u cầu tránh gió.
2) Vị trí để tránh bão tốt nhất nên chọn vùng kín che chắn bởi núi, hải đảo chung quanh.
II. Phương pháp neo tàu
Về cơ bản có hai phương pháp neo tàu sau đây, và các ưu nhược điểm của chúng
1. Phương pháp neo một neo bằng cách cho tàu chạy lùi
1) Điều khiển tàu đến gần vị trí neo, giảm trớn tàu, dừng máy sao cho dưới tác dụng của quán tính tàu
vừa dừng lại ở vị trí neo.
2) Cho chạy máy lùi ( tuỳ điều kiện gió nước lấy tốc độ lùi phù hợp). Đợi tàu bắt đầu có trớn lùi (nhận
biết bằng cách quan sát cuộn nước do chân vịt tạo ra ở hai bên cánh gà buồng lái) bắt đầu thả neo.
Thông thường nên thả neo trái, vì khi tàu chạy lùi mũi tàu ngã sang phải, nếu thả neo phải thì xích neo
có thể vắt ngang đáy tàu gây ma sát làm hỏng đáy tàu. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện thực tế, cũng có thể thả
neo phải. Đầu tiên xơng khoảng một đường xích neo hoặc xơng xích neo có độ dài gấp 1,5 đến 2 lần
độ sâu.
3) Để tàu tiếp tục lùi, đợi neo bám đáy, tiếp tục xơng xích, đồng thời quan sát hướng xích và độ căng
của xích để điều chỉnh tốc độ lùi hay dừng máy lùi vào thời điểm thích hợp.
4) Nếu xích quá căng, chịu lực q lớn thì có thể cho máy tới nhẹ để phá trớn lùi.
5) Khi tác nghiệp neo ban đêm, nếu vùng neo có dịng chảy mạnh khó cảm nhận được tốc độ tương đối
giữa tàu và đáy, đại phó đứng ở mũi cần báo kịp thời hướng xích neo và độ căng chùng của xích để
thuyền trưởng quyết định điều chỉnh tốc độ máy cho phù hợp.
Thả neo bằng cách cho lùi tàu thường áp dụng trong trường hợp neo ngược nước. Khi neo chạm đến
đáy, nhờ máy lùi và dịng chảy, neo bị xích lật ngược lại tạo ra xung lực làm cho neo bám chắc chắn.
Vì vậy đây là phương pháp thường dùng.
2. Phương pháp neo một neo khi tàu chạy tới
1) Tàu chạy nhắm thẳng tới vị trí neo, giảm máy phá trớn, hoặc dừng máy chỉ giữ lại quán tính phù
hợp. Bắt đầu thả neo khi tàu đến vị trí neo. Đề phịng qn tính q lớn làm cho xích neo chịu xung
lực mạnh hoặc xích ma sát làm hỏng đáy tàu.
2) Từ từ xơng xích neo sao cho khi xích neo vừa đủ độ dài thì qn tính của tàu cũng còn vừa đủ để rê
neo bám đáy. Cho dừng máy.
Phương pháp này chỉ dùng trong điều kiện nước gió bình thường, ngược nước, ở phía trước vùng neo
thống rộng.
3. So sánh hai phương pháp thả neo khi tàu tiến tới và thả neo khi tàu lùi
1) Thả neo khi cho tàu tiến tới
Ưu điểm:
• Dễ giữ hướng mũi ổn định, dễ điều động;
• Dễ điều chỉnh chính xác neo đúng vị trí dự định;
• Thời gian tác nghiệp neo ngắn;
• Tiện lợi khi cần khống chế xung lực quán tính lúc vào cảng.
Nhược điểm:
Khơng có những ưu điểm như thả neo khi cho tàu chạy lùi nói dưới đây.
2) Thả neo khi cho tàu chạy lùi:
Ưu điểm:
• Tránh ma sát giữa neo và đáy tàu, khơng làm hỏng đáy tàu;
• Khoảng cách rê neo từ lúc neo chạm đáy đến lúc neo bám đáy ngắn;
• Dễ khống chế xung lực qn tính;
• Dễ thao tác trong khu vực neo mà ở phía trước chật hẹp.
Nhược điểm:
Khó giữ hướng mũi ổn định, khó điều chỉnh chính xác vị trí neo dự định, vì vậy nhiều trường hợp phải
cho tàu quay mũi để đáp ứng yêu cầu điều động.
Trong luồng hẹp khi quay mũi thường bị giới hạn bởi độ sâu của luồng nên thường dùng phương pháp
thả neo xuôi nước để quay mũi tàu.
Tàu một chân vịt chiều phải cần phải quay mũi về phía phải. Căn cứ vào tốc độ dịng chảy và mớn
nước của tàu để dự đốn lực đạp ngang của dòng chảy.
Cách thực hiện:
1) Đầu tiên cho tàu giảm tốc độ khi gần đến chỗ dự định thả neo, dùng lái bẻ mũi tàu về bên phải đồng
thời cho chạy máy lùi để phá trớn, làm tăng tốc độ ngã mũi bên phải.
2) Đợi đến khi tàu hết trớn tới ném neo phải một đường lỉn dưới nước. Phanh chặt lỉn không được
xông thêm.
3) Đợi cho tàu từ từ quay mũi (nhờ nước đạp ngang hông tàu). Nếu tàu neo ln tại chỗ thì cho tiếp tục
xơng lỉn theo yêu cầu.
III. Cách xác định vị trí neo chính xác khi ném neo, ý nghĩa
Xác định vị trí neo chính xác khi neo rất quan trọng. Có vị trí neo chính xác mới có thể kiểm tra neo bị
bị hay khơng trong khi neo đậu, nhất là khi có sóng gió, thủy triều mạnh.
Cách thực hiện như sau:
1 Trước khi neo yêu cầu sỹ quan trực ca chọn sẵn các mục tiêu và sẵn sàng xác định vị trí.
2. Ngay sau khi neo vừa bng xuống và chạm đáy, sỹ quan đo các mục tiêu ngay lập tức và xác định
vị trí điểm neo, đánh dấu vị trí neo trên hải đồ tỷ lệ lớn. Lưu ý là có thể có sai số vì neo bị rê trước khi
bám đáy.
Cách lấy vị trí và tính bán kính đặt vòng báo động neo:
3. Căn cứ vào độ dài xích neo cộng với chiều dài tàu, lấy điểm neo làm tâm vẽ một vịng trịn. Đây là
vịng trịn mà tàu có thể dịch chuyển, dao động trong đó khi có sóng gió, thủy triều…
4. Khi trực ca neo và kiểm tra vị trí, nếu vị trí tàu khơng cịn nằm trong vịng trịn đã vẽ có nghĩa là tàu
đã bị neo. Cần có biện pháp xử lý.
IV. Chiều dài của xích neo cần thiết
Chọn độ dài xích neo phụ thuộc nhiều yếu tố:
- Tính chất của đáy mà neo bám. Bùn là chất đáy neo bám tốt, đất sét cứng, sò cát, đá cuội neo bám
kém,
- Độ sâu vùng neo,
- Khi có gió và dòng chảy, đủ chỗ cho tàu đảo qua lại,
- Mức độ che chắn của vùng neo,
- Cường độ gió và dịng chảy vùng neo,
- Tùy theo loại xích neo.
2. Độ dài xích neo có thể tham khảo các số liệu sau đây:
1) Điều kiện thời tiết bình thường:
- Độ sâu 20m, độ dài xích neo gấp 4~6 lần độ sâu;
- Độ sâu 20~30m, - 3~4 - Độ sâu trên 30m, - 2~2 2) Khi gió cấp 11:
Độ sâu 3m, số đường xích neo: 6;
- 5m. - 6 - 7
- 7m ~10m, - 7
- 15m - 8
- 20m - 9
3) Ở khu vực nước chảy xiết, xích neo khơng ngắn hơn các số liệu dưới đây:
Tốc độ dòng chảy 3 nơ: 5 đường lỉn
- 4 nơ: 6 - 5 nơ: 7 –
CHƯƠNG 3: CÁCH NEO TÀU BẰNG HAI NEO
Trong điều kiện gió mạnh, nước chảy xiết, chất đáy kém, thường phải tìm cách tăng lực bám của neo
để đảm bảo an tồn. Có thể tăng thêm lực bám của neo bằng cách xơng thêm xích neo. Tuy nhiên khi
tăng độ dài của xích thì sẽ làm tăng mạnh chuyển động chao đảo của tàu, dẫn tới nguy cơ đứt xích. Vì
vậy thường dùng phương pháp neo hai neo để tăng lực bám của neo.
I. Phương pháp neo hai neo thẳng hàng khi tàu chạy tới, (xem hình)
1) Cho tàu chạy tới ngược nước, đến vị trí 1, ném neo thứ nhất.
2) Xơng xích neo thứ nhất với độ dài gấp đơi chiều dài xích dự định, cho tàu tiếp tục chạy đến vị trí 2
thả neo thứ hai. Neo thứ hai là neo chịu lực.
3) Xơng xích neo thứ hai, thu xích neo thứ nhất cho tàu lùi về giữa, điều chỉnh cho hai xích bằng nhau.
Nhờ gió và nước tàu dạt về vị trí 3.
Phương pháp này dễ thực hiện, vị trí neo chính xác, thời gian thực hiện ngắn hơn cách neo lùi tàu. Hầu
hết các tàu đều dùng phương pháp này.
II. Phương pháp neo hai neo thẳng hàng khi tàu chạy lùi.
Thao tác giống như trên, chỉ khác là thả neo chịu lực trước.
III. Ưu nhược điểm của phương pháp neo hai neo thẳng hàng
1) Ưu điểm là khi tàu quay do dịng chảy và gió mạnh thì chỉ quay trong phạm vi diện tích là một vịng
trịn mà tâm là mũi tàu và bán kính là chiều dài của tàu. Phương pháp này phù hợp với vùng neo hẹp.
2) Tuy nhiên, có một số nhược điểm sau đây,
- Điều động, thả neo, kéo neo đều phức tạp, mất nhiều thời gian.
- Khi nước, gió đổi chiều thì hai xích neo bị xoắn, khơng những mất nhiều thời gian để gỡ xoắn mà khi
bị xoắn thì lực bám của neo giảm, dễ trơi neo.
- Nếu hướng của xích neo khơng trùng với chiều của dịng chảy hoặc hướng gió, khi gặp sóng to gió
lớn thì hai xích neo chịu lực rất căng, khơng có lợi cho an tồn của tàu.
Do những nhược điểm trên mà phương pháp này khơng dùng để neo chống bão vì khi khi bão đi qua
hướng gió khơng ngừng thay đổi xích neo dễ bị xoắn. Lực bám của neo của phương pháp này cũng
khơng hơn gì phương pháp một neo.
CHƯƠNG 4: CÁCH NEO HAI NEO HÌNH CHỮ V, NEO CHỐNG BÃO
Mục đích thả hai neo hình chữ V là để chống lại dịng chảy, gió mạnh và bão có thể gây ra trơi, mất
neo.
I. Thả hai neo hình chữ V ngược gió
Thả hai neo hình chữ V ngược gió như sau:
1. Cho tàu chạy ngược gió đến vị trí 1 (xem hình a), thả neo trái (hoặc phải).
2. Chạy máy lùi, xơng 2 đường xích neo, lùi đến vị trí 2, dừng máy.
3. Chạy máy tới dùng lái cho tàu đến vị trí 3, thả neo phải (hoặc trái trái).
4. Lợi dụng gió và dùng máy thích hợp, điều chỉnh hai xích neo đến độ dài cần thiết sao cho tàu đến vị
trí 4 . Neo xong.
II. Thả hai neo hình chữ V ngang gió
1. Tàu chạy tới ngang gió đến vị trí 1 (xem hình b) thả neo phải (trái),
2. Tiếp tục máy tới, xơng xích cho đến khi tàu đến vị trí 2 ném neo trái (phải).
3. Lợi dụng tác động của gió và dùng máy thích hợp điều chỉnh xích neo đến độ dài cần thiết sao cho
tàu đến vị trí 3. Neo xong.
III. Phương pháp thả hai neo hình chữ V chống bão
Cách neo chống bảo bằng hai neo hình chữ V và những điều cần chú ý:
1. Để đề phịng hai dây xích chịu lực không đều và bị xoắn cần chú ý thứ tự thả neo khi neo hai neo
chữ V, (xem hình c) . Nếu phán đốn tàu nằm ở vị trí bán vịng bên phải của bão tức hướng gió xoay
theo chiều thuận kim đồng hồ, thì đầu tiên ném neo trái, sau đó mới thả neo phải, xích neo trái dài,
xích neo phải ngắn, khơng lệch nhau q hai đường xích neo. Trường hợp neo ở bán vịng bên trái của
bão thì xích bên phải cần phải dài hơn xích trái. Ở nam bán cầu thì ngược lại. c)
2. Khi đương đầu với bão, phải sẵn sàng máy chính, phân cơng người trực quan sát xích neo ở mũi,
liên tục dùng tín hiệu quy ước báo cáo về buồng lái hướng xích neo và tình trạng chịu lực của nó để
buồng lái có thể dùng máy và lái thích hợp làm giảm nhẹ tải của xích và giảm chao đảo thân tàu. Đây
là một biện pháp quan trọng đề phòng bò neo.
3. Căn cứ vào hướng xoay của gió kịp thời điều chỉnh độ dài của xích (xơng thêm bên xích ngắn) sao
cho hai neo chịu lực cân bằng, miệng hình chữ V hứng gió. Nếu chao đảo quá mạnh có thể cho thêm
một neo phụ để ghìm bớt.
4. Trong sóng gió nếu muốn xơng thêm hay thu bớt xích neo phải phối hợp với máy chính, dùng máy
chính hỗ trợ. Khi xơng xích phải xơng thay phiên hai xích bên phải, trái một cách từ từ, để phòng xung
lực giật quá mạnh làm đứt xích neo.
5. Khi kéo neo cần tranh thủ thu xích lúc xích bị chùng đề phịng đứt xích hoặc hỏng máy tời. Trước
khi neo rời đáy phải dùng máy và lái cho mũi tàu đón gió nếu khơng sẽ nhanh chóng bị gió mạnh ép
xuống phía dưới gió, tàu rơi vào tình huống bất lợi.
6. Khi sử dụng máy và lái để phối hợp với neo, vịng tua máy chính phải tăng hoặc giảm từ từ, giữ cho
mũi tàu đón gió, dùng lực đẩy ổn định để triệt tiêu áp lực bên ngoài, tránh làm cho xích neo lúc chùng
lức căng, chịu xung lực đột ngột. Nếu dùng máy một cách mù quáng có thể làm gia tăng tải trọng của
xích neo khiến neo bị hoặc đứt xích neo.
7. Thường xuyên dùng mục tiêu bờ để kiểm tra vị trí neo. Trong trường hợp thời tiết xấu, khơng quan
sát được mục tiêu bờ thì dùng dây dọi đo sâu hoặc các phương pháp khác để xem có bị bị neo hay
khơng. Thường xun quan sát động thái các tàu neo chung quanh, khi phát hiện tàu khác bị bị neo thì
phải áp dụng các giải pháp an tồn thích hợp.
8. Khi dự đốn tâm bão đi qua khu vực tàu đang neo, phải xem xét liệu hướng gió sắp tới có phù hợp
với vùng neo hay khơng. Nếu khơng, phải tranh thủ thời cơ lặng gió lúc tâm bão đi qua điều chỉnh xích
neo hoặc di chuyển vị trí neo. Nếu cần kéo neo chạy ra biển hứng gió đương đầu chống bão.
9. Nếu do hồn cảnh bắt buộc phải kéo neo chạy ra biển đương đầu chống bão mà lại khơng thể kéo
neo thì phải tháo khuyết nối xích buộc vào xích một cái phao và tạm thời thả bỏ xích neo xuống nước,
quay lại tìm sau bão.
CHƯƠNG 5: KHI NEO TÀU Ở VÙNG NƯỚC ĐỘ SÂU LỚN
1. Khi neo ở vùng có độ sâu trên 25 mét (quá một đường xích neo) phải xử lý theo kiểu neo nước sâu,
không buông neo tự do (letting go) từ mặt nước theo cách thông thường, phương pháp thực hành như
sau:
1) Khi độ sâu quá 25 mét, đầu tiên dùng máy tời xơng một phần xích neo đến gần đáy, sau đó thả neo
tự do xuống đáy.
2) Khi độ sâu trên 50 mét, dùng máy tời nhả xích neo cho đến tận đáy, sau đó cho máy lùi thật chậm để
neo bám đáy, cuối cùng mới xông đủ số đường xích neo cần thiết.
3) Ở vùng neo có độ dốc nghiêng nhiều làm cho độ sâu thay đổi lớn, thì phải đo độ sâu trước rồi mới
tiến hành các biện pháp như nói trên nghĩa là phải dùng tời nhả xích cho neo đến tận đáy, cho máy lùi
để neo bám đáy và xơng độ dài xích neo cần thiết.
2. Lý do áp dụng các biện pháp nói trên mà khơng bng neo từ trên mặt nước khi neo ở vùng nước
sâu:
1) Khi neo tuột nhanh làm cho neo và đáy va chạm mạnh khiến neo bị hư hay biến dạng.
2) Máy tời rất khó khống chế tốc độ neo và xích rơi tự do trong nước làm hỏng máy tời, hoặc đứt xích.
3) Sự va đập mắt xích với mắt xích làm cho chúng chấn động dữ dội khiến mắt xích bị cứng và dịn.
4) Rất khó điều chỉnh để xích và neo được sắp xếp sao cho có lực bám tốt nhất.
3. Một vài điều cần chú ý khi neo nước sâu:
1) Nếu không cần thiết thì khơng neo ở nước q sâu,
2) Đại phó phải biết công suất của máy tời neo, khi kéo neo máy tời neo phải kéo trọng lượng: neo +
xích neo, rất lớn, máy tời bị ì,
3) Nếu khơng kéo neo được bằng máy tời thì dùng tời cần cẩu để kéo.
CHƯƠNG 6: RÊ NEO LÀ GÌ VÀ TẠI SAO ?
Rê neo (dredge) là một tác nghiệp chủ động của Thuyền trưởng cho tàu chuyển động theo ý muốn.
1. Một chiếc tàu được coi là rê neo khi nó dịch chuyển trong dịng chảy nhưng neo của nó được thả sao
cho nó lê trên đáy mà khơng bám vào đáy. Vì vậy mà thân tàu vẫn bị dạt theo dòng chảy nhưng dạt
chậm hơn dòng chảy, tàu vẫn giữ được hướng và vẫn dùng lái để chỉnh hướng.
2. Khi tàu đang rê neo, nếu lấy lái trái thì tàu vẫn trơi cùng hướng với dòng chảy nhưng quay chéo về
bên trái, nghĩa là tàu rê neo về bên trái.
3. Cùng một phương pháp khi lấy lái phải thì tàu rê neo về bên phải.
4. Trong mỗi trường hợp, để tàu chuyển động hiệu qủa theo ý muốn phải sử dụng neo ở phía ngược với
phía mà tàu chuyển động rê neo.
CHƯƠNG 7: CÁCH GỞ HAI XÍCH NEO BỊ XOẮN KHI NEO HAI NEO
Khi tàu neo hai neo như bài trước đã trình bày, do gió và nước đổi chiều làm cho hai xích neo có
thể bị xoắn lại với nhau. Xích neo khi bị xoắn nếu khơng biết cách gỡ nhiều khi gây lúng túng cho
Thuyền trưởng.
Đầu tiên, nếu xoắn nhẹ nên cố gắng dùng máy và lái lợi dụng gió và nước quay tàu để gỡ xoắn. Trong
trường hợp bị xoắn phức tạp, nếu có điều kiện thì dùng tàu lai cho quay tàu để gỡ xoắn. Tàu nhỏ xích
khơng nặng lắm có thể dùng canơ, cho xích lên canơ, xoay canơ tháo xoắn. Nếu khơng có điều kiện
như vậy thì tháo xoắn bằng tay.
Đối với tàu lớn có hai cách tháo xoắn như sau,
1. Cách thứ nhất
1) Thu xích của neo chịu lực sao cho một mắt nối xích nằm vừa đúng ở phía dưới phần xích xoắn
(thường khi neo hai neo, có một neo chịu lực, xích của neo này căng; cịn xích của neo kia thì xoắn
quanh xích neo chịu lực, để dễ phân biệt ta gọi là xích chịu lực và xích xoắn).
2) Dùng một dây cáp luồn qua lỗ nống neo của xích chịu lực, buộc một đầu dây cáp vào phần dưới của
mắt nối xích ( chú ý phải cho dây cáp đi vịng ra ngồi vịng xoắn của xích xoắn)
3) Tháo mắt nối xích.
4) Dùng tời kéo cáp và kéo theo xích chịu lực, xoắn sẽ được gỡ ra.
2. Cách thứ hai (theo như hình vẽ):
1) Thu xích chịu lực sao cho phần xích xoắn lộ trên mặt nước.
2) Nếu cần dùng dây cáp mềm 25mm (1) xuyên qua mắt xích của xích chịu lực ở phía dưới xích xoắn
và đưa dây cáp (1) lên boong qua lỗ xôma buộc vào cọc bích. Mục đích của dây cáp này là khơng cho
xích xoắn tuột xuống nước.
3) Dùng một dây cáp khác (2) treo xích xoắn buộc vào cọc bích, đây là dây bảo hiểm.
4) Lại dùng một dây cáp (3) (gọi là cáp tháo xoắn), cho một đầu cáp (3) lên cọc bích (a), cịn đầu kia
của nó thì luồn qua lỗ nống neo của xích xoắn chạy dọc theo xích xoắn nhưng ngược chiều với xích
xoắn rồi quay trở về cùng lỗ nống neo và cho lên tời (c). Đây là dây quan trọng để tháo xoắn, phải luồn
cho đúng.
5) Cho chốt hãm (d) giữ chặt bên xích xoắn, dùng máy tời cho chùng xích xoắn, tháo mắt nối (e) của
xích xoắn, tháo đầu dây cáp tháo xoắn (3) trên cọc bích (a) nối vào mắt nối xích (e) phía bên ngồi vừa
tháo.
6) Mở chốt hãm xích neo, cho xích xoắn tuộc ra khỏi lỗ nống neo. Dùng tời kéo đầu dây cáp (3) cho
đến khi xoắn được tháo ra và kéo lên boong.
7) Cuối cùng nối lại xích bị tháo và kéo lên một neo.
Chú ý, mối lần tháo theo kiểu này chỉ tháo được hai vịng xoắn, nếu xích xoắn nhiều vịng thì phải tháo
nhiều lần.